Hay quá. Đánh dấu phát, tối về đọc
Hay quá. Đánh dấu phát, tối về đọc
A có Bác Hồ đời em được ấm no!
Không dến mức dữ dôi như cụ nghĩ đâu. Không quân VNCH từ sau năm 1972 yếu xèo àh. Sau khi Mỹ rút, từ năm 72-75, đường mòn HCM tự do đi lại giữa ban ngày với hàng trăm xe tải nối đuôi nhau mà không quân VNCH bất lực. Không quân VNCH chỉ quen đánh các mục tiêu du kích hay các đơn vị VC nhỏ không có phòng không bảo vệ thôi. Các binh đoàn lớn hành quân có SAM và cao xạ che chắn thì không dám tấn công đâu. Cụ đọc hồi ký của các PILOT VNCH đầy trên mạng thì hiểu. Tháy SAM 7 là chuồn ngay, chưa kể bọn SAM II, SAM III, ZSU23, cao xạ....
Cụ chắc không trải qua thời kỳ 65-70 ở miền Bắc nên không biết hoàn cảnh dân trí miền Bắc thời đó. Miền Bắc thời đó dân nghèo mạt rệp, vùng núi cả đời không đi xa khỏi làng quê 50 km, không điện đóm, đài báo tivi gì cả. Hàng ngày chỉ thấy máy bay Mỹ chứ có biết MIG17, MIG21 nó là cái gì đâu. Nghe đồn còn một số phi công BẮC VIỆT bị du kích vùng núi bắn chết khi nhảy dù cơ.
Dài quá nhỉ
Cụ Chưa đăng ký em chuyên cung cấp các đồ dùng khách sạn ợ. www.phuchoa.com.vn hót line là 0904 15 10 76
Nếu đánh miền Bắc thì phản lực chủ yếu từ tầu sân bay bay vào, còn B52 từ đảo Guy-am hay từ Thái Lan sang, nếu B52 bay từ Guy-am vào thì có máy bay tiếp dầu trên không từ Philippines hay Đài Loan đón đường (tùy theo đường bay của B52 gần chỗ nào hơn). Nếu B52 bị thương thì ko cần quay về Guy-am mà bay thẳng sang Thái luôn.
Toyota 1.6 MT, Nissan 1.8 AT
Ồ thế ra hồi ấy Bắc việt mềnh chơi thân với người láng giềng tốt Trung quốc còn VNCH chơi với số còn lại nhỉ, toàm bọn xấu xa cho mượn sân bay để oánh mình
Bà mẹ Nga ở xa xôi mà tầm nhìn kinh nhỉ, biết các phi công của mình về là đối mặt với bọn sói, may thì sống, không là chết, 2 cái mà chọi với 20 cái thì khác gì đi cảm tử
Chuyên bán nhựa mít cho trẻ con đi dính chuồn chuồn.
VNCH có máy bay tiêm kích, ông Nguyễn Thành Trung từng lái F5e đấy. Trong CT Việt nam Họ chỉ đảm nhận tác chiến từ vị tuyền 17 trở vào, ngoại trừ những phi vụ đặc biệt. Máy bay tiêm kích oánh phá miền bắc thuộc không quân và hải quân Mỹ.
Đúng thế đấy cụ, sân bay U ta pao của Thái cũng là nơi B52 xuất phát để ném bom vào VN.
Nhiều quốc gia đã kiếm nhiều tiền nhờ CT Việt Nam đấy như: Nhật bản, Hàn quốc, Thái lan, Phi líp pin...
Trong những năm đầu chiến tranh VN khi không chiến không quân Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối nhờ số lượng áp đảo và kinh nghiệm chiến đấu dày dặn của phi công mỹ, nhiều người trong số họ đã tham gia ct thế giới 2, chiến tranh Triều tiên với hàng ngàn giờ bay. Họ hiểu rất rõ điểm mạnh, yếu của Mig. Đánh trả lại lực lượng hùng mạnh này KQ ta phải dùng chiến thuật oánh du kích, quấy rối để cường kích không thể ném bom or ném sai mục tiêu. Phi công ta rất quả cảm, mư trí, gan dạ, nhiều bác rất giỏi khiến phi công Mỹ phải nể phục.
minhchi233 đã sửa : 17-08-2012 lúc 10:14
Đánh dấu cái đã
Chúng ta ai cũng phải già, phải lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân
..................
Tôi luôn phải xin lỗi các đồng đội vì thời gian gần đây do bận việc cộng với lí do sức khỏe nên có sao nhãng phần nào trong chuyện liên lạc với các đồng đội, nhưng tôi cũng rất yên tâm vì có anh huyphongssi đã giúp tôi "hàn gắn" cái khoảng trống ấy. Tôi vô cùng cám ơn anh huyphongssi. Câm ơn các đồng đội khác đã cung cấp thêm nhiều tư liệu cho tôi cũng như cho các đồng đội khác trên trang này. Sonviet ạ, vậy là tôi với Sonviet cũng từng ở chung Sư đoàn và cùng Trung đoàn rồi. Với Trung đoàn KQ-931, tôi gắn bó với tình cảm khác thường. Sau khi tham gia cuộc chiến tranh "chống quân bành trướng xâm lược" ở phía Lạng Sơn về ( trong giai đoạn ấy, tôi là TMP tác chiến của Trung đoàn 927 ), Trung đoàn 931 được thành lập. Tôi được Sư đoàn gọi về ( thời ấy, Sư trưởng được gọi là Tư lệnh ) và được Sư trưởng giao nhiệm vụ. Tôi cùng các anh Trương Tôn, Trần Xuân Tùng, một thời gian ngắn sau thêm anh Nguyễn Quang Tấn về Yên Bái nhận quân, nhanh chóng củng cố tổ chức để bước vào huấn luyện và trực ban chiến đấu. Tôi ở Trung đoàn từ 1979 đến 1982 thì lên Sư đoàn. Anh Trương Tôn lãnh đạo Trung đoàn cùng các anh Đoàn Văn Sàn, Nguyễn Văn Động ( trước đó các anh Tùng và Tấn đã rời Trung đoàn, anh Tùng về Sư đoàn, còn anh Tấn sang Liên xô làm phó tùy viên quân sự ). Trung đoàn 931 là Trung đoàn có nhiều khó khăn nhất trong Sư đoàn, nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ đã sống gắn bó với nhau, đồng cam cộng khổ, vượt khó với tinh thần lạc quan cách mạng và đã vượt được mọi khó khăn gặp phải. Tôi có viết về 931 với bài "Về Trung đoàn với anh, em nhé !", xin kể để Sonviet nghe :
Trung đoàn anh đóng quân nơi ấy
Có sông Hồng như dải lụa chảy qua
Và đường băng như chiếc trâm ngà
Cài trên đầu rừng xanh bát ngát
Cọ xòe tay vẫy chào, múa hát
Hương quế nồng say, man mác, bồi hồi...
Mùi táo Mèo quyến rũ, đọng mãi đầu môi ...
Bưởi Cát Lem đậm đà vị ngọt
Về Trung đoàn
Em sẽ ngẩn ngơ giữa tiếng chim lảnh lót
Sẽ sững sờ trước màu sắc muôn hoa
Anh sẽ đưa em thăm thắng cảnh Thác Bà
Qua Yên Bình, về Nam Cường, lên Cổ Phúc
Thăm thành phố rộn ràng, đông đúc
Ngược phía Âu Lâu
Vượt những nhịp cầu
Ngang sông Hồng, sang Nghĩa Lộ
Anh sẽ đưa em lên Bắc Hà
uống rượu ngô, ăn thắng cố
Nghe tiếng sáo, tiếng khèn gọi bạn ...lả lơi
Về Trung đoàn
Ngắm những đôi cánh MIG tung hoành
ngang dọc giữa trời
Luôn sẵn sàng giữ yên vui Đất Mẹ
Các bạn anh - những chàng lính trẻ
Sôi nổi, hồn nhiên, ... càng lắng đậm tình người
Dù anh bay khắp bốn phương trời
Anh vẫn mang theo dáng hình em nhỏ bé
Về Trung đoàn với anh, em nhé !
Anh ngóng trông, thao thiết đợi em về !
Vậy đấy, Sonviet ạ !
Tôi cám ơn dang - cap - pro đã cung cấp cho đoạn clip thật hiếm hoi. Ở giây 1:35, tôi đã nhận ra được đồng đội, chỉ huy của tôi. Thoạt đầu là anh Mai Cương dẫn biên đội ra máy bay và anh trèo lên, ngồi vào buồng lái. Anh đã từng bắn rơi 8 máy bay Mỹ, được nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Người thứ hai trong đoạn clip này ngồi trong buồng lái khi máy bay đang nhào lộn là bạn tôi : anh Võ Xuân Quang. Anh cùng tốp 24 anh em chúng tôi được tuyển thẳng từ L-29 lên bay MiG-21, nhưng về sau anh không bay được trên MiG-21 ( vì lí do sức khỏe và kỹ thuật ) nên xuống bay MiG-17. Cảnh anh ngồi trong buồng lái là ở MiG-17. Anh đã hy sinh váo năm 1968 khi cất canh từ sân bay Cu-sôp-xcai-a trong lần bay huấn luyện.
Cuốn mà qtdc cung cấp cho thì anh huyphongssi đã giải thích rồi. Tôi chưa được đọc, được học vào thời gian ấy, nhưng đấy cũng là tài liệu quý. Nó có từ thời lực lượng KQ của Hồng Quân. Tôi rất muốn được đọc, xin qtdc cung cấp cho. Cám ơn qtdc nhiều nhiều.
Tôi cho rằng, nếu chỉ nói về những phi công đánh ngày mà không nói đến lực lượng đánh đêm thì quả là thiếu sót lớn. Tôi cũng từng bay đêm một thời gian nên tôi hiểu cái vất vả riêng của bay đêm, của cái “thân vạc thân cò” ấy. Tuy bả đêm, đánh đêm, nhưng các phi công bay đêm vẫn tham gia trực chiến ban ngày, vẫn xuất kích chiến đấu, vẫn đánh nhau như các phi công bay ngày. Tôi lấy một số trận như sau : biên đội 3 chiếc gồm Nguyễn Đăng Kính, Phạm Văn Mạo và Nguyễn Hồng Nhị ( anh Kính và anh Mạo là phi công bay đêm ) xuất kích từ sân bay Thọ Xuân – Thanh Hóa vào khu vực Đô Lương – Nam Đàn của tỉnh Nghệ An. Đây là trận đánh đầu tiên của Đại đội bay đêm ở chiến trường khu Bốn. Biên đội của ta đã không chiến với biên đội F-8 của địch. Anh Nguyễn Hồng Nhị đã bắn rơi 1 chiếc F-8 của địch, nhưng sau đó máy bay của anh cũng bị trúng đạn, anh đã phải nhảy dù. Trận ấy xảy ra ngày 1 tháng 8 năm 1968.
Hơn 2 tuần sau, biên đội Đinh Tôn, Nguyễn Văn Minh cũng xuất kích chiến đấu từ sân bay Thọ Xuân, được dẫn dắt vào khu vực Đô Lương không chiến với biên đội F-4 của địch và anh Nguyễn Văn Minh đã bắn rơi 1 chiếc F-4..
Sân bay Thọ Xuân – Thanh Hóa là sân bay cơ động được đón tiếp nhiều biên đội trực ban chiến đấu nhất và cũng là căn cứ để xuất kích chiến đấu vào hoạt động ở các khu vực thuộc khu Bốn nhiều nhất. Giai đoạn ấy, hầu như địch làm chủ bầu trời từ khu Bốn trở vào. Các sân bay ta ở Vinh, Anh Sơn, Đồng Hới … thường xuyên bị đánh phá. Máy bay của ta bay vào trong đó chỉ cần bay với độ cao hơi cao một chút là bị phát hiện và tên lửa đối không Ta-los của địch từ Hạm đội ngoài biển Đông bắn lên liền. Cũng đã có mấy trường hợp máy bay ta bị trúng tên lửa Ta-los, phi công phải nhảy dù rồi. Ta gặp rất nhiều khó khăn khi cơ động đến các sân bay ở phía trong đó. Cũng vì vậy, hầu hết những chuyến xuất kích chiến đấu đều được tổ chức từ Thọ Xuân.
Sang tháng 9, biên đội Đinh Tôn, Vũ Đình Rạng xuất kích từ sân bay Thọ Xuân bay vào khu vực Đô Lương – Nghệ An không chiến với biên đội 4 chiếc F-8 của địch. Trong trận này, Vũ Đình Rạng bị bắn rơi, phải nhảy dù.
Vài ngày sau, biên đội Nguyễn Đăng Kính, Nguyễn Cát A xuất kích từ sân bay Đa Phúc lên đánh chặn máy bay không người lái và anh Kính đã bắn hạ chiếc không người lái ấy trên bầu trời Thanh Hóa.
Cũng ở tháng 9 này, sau một thời gian gấp rút bay huấn luyện ban đêm, Đại đội bay đêm đã tổ chức trực ban chiến đấu ban đêm ở sân bay Đa Phúc và phi công trực ban chiến đấu ban đêm đầu tiên là anh Đặng Xây..
Ngày 26 tháng 10, biên đội Nguyễn Đăng Kính, Vũ Xuân Thiều xuất kích từ sân bay Thọ Xuân được dẫn vào khu vực Đô Lương. Sở chỉ huy thông báo có 2 chiếc F-4 bay thấp từ hướng cửa Lò vào. Cùng lúc ấy, trạm chỉ huy bằng mắt thông báo tiếp là chúng đã đến cầu Cấm và lấy hướng về phía Nam. Anh Kính dẫn đội lấy hướng 180 độ và tăng tốc độ bay. Hôm ấy, lượng mây Cu khoảng 6 – 7 phần ( mây Cu là loại mây đống và nếu chia bầu trời ra làm 10 phần thì hôm ấy lượng mây Cu chiếm 6-7 phấn ), đáy mây 800 m, đỉnh mây 4000 m. Sau khi lấy hướng 180 độ thì biên đội phát hiện được 2 chiếc F-4 bay từ phía trái qua phải, ở cự li chừng 4-5 km. Biên đội bật tăng lực tiếp cận. Khi bay vào mây, Thiều đã lạc mất đội. Sở chỉ huy dẫn Thiều quay về trước. Anh Kính tiếp tục bám theo biên đội F-4. Khi đang ngắm bắn thằng số 2 thì nó bỗng đảo chiều, bay sang phía bên kia. Anh Kính ngắm luôn vào thằng số 1 và ấn nút phóng tên lửa. Thằng số 1 cháy bùng, lao thẳng xuống địa phận Hương Khê – Hà Tĩnh.
Thời gian sau đó ( vào khoảng tháng 12 ) thì trung đội của tôi bước vào bay đêm. Trung đội tôi có anh Nguyễn Văn Thuận là trung đội trưởng, rồi các anh trung đội viên là Nguyễn Cát A, Vũ Xuân Thiều, Trần Ngọc Nhuận và tôi. Anh Nhuận sớm phải rời bỏ đời bay về tiếp tục học Đại học vì lí do sức khỏe. Anh bị bệnh viêm hành tá tràng, rồi chảy máu dạ dày (tức là cả một hệ thống đường tiêu hóa như hệ thống đường bộ của Cục đường bộ - Bộ giao thông vận tải) đều có vấn đề. Vậy là còn lại có 3 trung đội viên. Trung đội trưởng Thuận là người chơi vi-ô-lông khá hay. Khi còn học bay ở bên Nga, anh đã từng lên sân khấu biểu diễn. Anh muốn tất cả các trung đội viên của anh cũng phải biết chơi nhạc cụ này – cái nhạc cụ mà anh em chúng tôi vẫn gọi đùa là “nhị Tây” ấy. Trong đoàn bay của tôi thì anh Trần Cung là người kéo nhị rất giỏi, hình như hồi ở nhà, anh đã từng ở trong đội văn nghệ của xã thì phải. Vậy là trong lực lượng bay đêm có cả người chơi “nhị Tây”, người chơi “nhị Ta”. Tôi thì tay chân cứng qoèo vì chơi xà, chơi tạ nhiều nên tìm cách “phá bĩnh”, không học. Thiều thì nói sẽ chơi ghi-ta và Thiều vác ghi-ta ra chơi thật, cứ phập phừng, … phập phùng chẳng giống ai. Còn lại mỗi anh A thì khi ngắm bàn tay anh A, trung đội trưởng chỉ còn cách … lắc đầu. !. Anh Cát A từng được mệnh danh là người có “ngón tay thần”. Anh kể, từ hồi nhỏ, khi cùng một số người nữa đi khiêng giúp tấm gỗ lim cho ai đó, khi hạ tấm gỗ xuống, vì hiệp đồng với nhau không chuẩn, người buông tay trước, người buông sau nên anh A bị gỗ đè ngay vào ngón tay trỏ của bàn tay trái. Ngón tay tòe ta, máu chảy lênh láng. Sau khi dịt thuốc lào để cầm máu, tuy khỏi, nhưng ngón tay không còn tròn trịa nữa mà đầu ngón tay bẹp như đầu con rắn. Khi anh giơ ngón tay ra giả vờ mổ mổ vào đứa cháu thì nó sợ quá, khóc thét lên. Từ đó, anh hay tìm cách giấu ngón tay ấy đi. Một lần, nhân lúc anh ngủ, tôi ngắm nghía ngón tay anh, rồi lẳng lặng lấy bút mực vẽ theo đường rãnh sẹo, rồi vẽ mồm, vẽ mắt trông thật không khác gì đầu rắn. Khoái chí về thành quả của mình, tôi gọi mấy anh khác đến để “chiêm ngưỡng” cái tác phẩm ấy. Mấy anh thấy vậy thì cười phá lên. Có lẽ biệt danh “ngón tay thần” xuất xứ từ đấy. Anh A tỉnh dậy bực lắm, tôi sợ anh sẽ cho tôi một trận, nhưng khi anh nhìn vào ngón tay anh thì anh cũng phải bật cười và lẩm bẩm :”Cái thằng !”.Vậy là tôi thoát nạn. Mà riêng anh cũng có lắm giai thoại lắm cơ ! Ví dụ như chuyện ngáy chẳng hạn. Anh được cái là ngủ rất nhanh và ngáy cũng không giống ai, kể cả về tần xuất, về biên độ dao động và về âm lượng. Nói chung, khi anh đã “cất tiếng” là tất cả 3 người từ trung đội trưởng đến các trung đội viên còn lại ở trong phòng đều phải thức giấc hêt. Thế là dép, giày và tất cả những thứ gì có thể ném được sang phía giường anh A là đều được huy động ném cho hết. Khổ nỗi, anh chỉ “giữ im lặng” được vài giây thôi, rồi lại đâu vào đấy. Một lần, trung đội trưởng khua chúng tôi dậy lúc khuya :
- Các cậu dậy họp Trung đội !
Tôi và anh Thiều lồm cồm chui ra khỏi màn, chưa hiểu đầu đuôi ra sao thì anh Thuận nói luôn :
- Tớ nghĩ ra rồi ! Ta ném giày dép chẳng qua chỉ thức tinmhr nó được tí thôi. Gốc gác là nó bị viêm họng. Có viêm họng thì mới gây ra ngáy. Bây giờ là phải trị tận gốc !.
Nói xong, trung đội trưởng giao nhiệm vụ cho tôi phải xuống nhà bếp lấy muối. Tôi nói khuya thế này thì làm sao mà nhà bếp mở cẳ, hay để đến ngày mai hãy làm, nhưng anh Thuận bắt tôi đi ngay. Rồi tôi cũng tìm cách mang được muối về, chưa hiểu trung đội trưởng sẽ “điều trị” thế nào thì trung đội trưởng vốc ngay một nắm, thả vào miệng anh A bấy giờ đang há một cách hồn nhiên với lượng âm thanh khó tả.
Nghe tiếng “khực” !. Bao nhiêu muối trong miệng anh A bắn tung tóe hết ra xung quanh. Trung đội trưởng Thuận lắc đầu ngán ngẩm :
- Vậy là y học bó tay ! Bây giờ chỉ còn mỗi nước là khiêng “cụ” ra sân bóng chuyền mà thôi !
Sân bóng chuyền thì ngay cạnh đấy. Ba anh em khiêng anh A ra đặt giữa sân bóng chuyền thật. Suốt cả quá trình khiêng “cụ” đi, tiếng ngáy vẫn vang lên đều đặn, không bị đứt đoạn tí nào. Chừng nửa đêm, trời đổ mưa, giường chiếu anh A bị ướt hết cả, anh tỉnh dậy, thấy mình ở giữa sân bóng chuyền thì vùng dậy lao vào nhà la hétd, quát tháo ầm ỹ. Tôi sợ quá, giả vờ ngủ say và còn … ngáy nhè nhẹ nữa. Cũng từ hôm đó, anh đâm ra rất “ý tứ”. Đến giờ đi ngủ, anh vẫn lảng vảng ngoài hành lang hoặc ra phòng họp ngồi đọc báo cốt để cho anh em trong phòng ngủ đã rồi mới vào. Nghĩ cũng thương anh thật, nhưng khi anh về, cho dù chúng tôi đã ngủ cả rồi, tới lúc anh “cất tiếng” thì chúng tôi cũng vẫn cứ phải dậy như thường. Chúng tôi đành chịu đựng, lâu rồi thành quen. Đôi lúc vắng anh, vắng tiếng ngáy của anh lại thấy nhơ nhớ, lại thấy như bị thiếu hụt một cái gì đó. Đấy cũng chỉ là một vài chi tiết nhỏ của đời sống thường nhật của chúng tôi thôi.
Vậy là ý định của Trung đội trưởng muốn cho các trung đội viên của mình chuyển sang lĩnh vực khai thác “nhị Tây” đã không thành. Tôi thì vẫn cứ ra bãi xà, bãi tạ. Thiều thì thi thoảng vẫn vác ghi-ta ra phập phừng và anh A thì chẳng chơi bộ môn nào hết, lâu lâu lại lấy “ngón tay thần” ngoáy mũi một cái !.
"Đến với đàn bà, đừng quên mang theo một cây roi - Zarathustra đã nói như thế!"
Hiện có 1 cụ cũng đang nghía cái thớt này. (0 lái chính và 1 lái phụ)