+ Trả lời
Trang 2 / 21 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 5 6 12 ... CuốiCuối
Kết quả: từ 11 đến 20 trong 207

Đề mục: Phi công tiêm kích

  1. #11
    Biển số
    OF-34662
    Mua xe ngày
    05-05-2009
    Số km
    519
    Động cơ OF
    4945596 mã lực

    Mặc định

    Sau cái vụ xảy ra với chuyến Li-2 ngày 3 tháng 3 thì quả thực, tôi bắt đầu cảnh giác với cả tên lửa PK của mình. Có lẽ công tác hiệp đồng tác chiến vẫn có điều gì đó chưa chuẩn, mặc dù chúng tôi cũng đã tham gia những cuộc hiệp đồng tác chiến: phân chia theo độ cao, theo dẻ quạt tác chiến, theo thời gian, theo nhiệm vụ chiến đấu ... rồi có cả KOD phân biệt, nhận dạng nữa. Trên các máy bay ta và tên lửa PK đều có trang bị "máy phân biệt địch/ta", hàng ngày được thay đổi theo mật mã quy định (gọi là "cốt" - COD). Các phi công khi tiếp thu máy bay trực chiến đều được nhắc nhở phải đặt theo đúng "cốt" quy định theo từng ngày, nhưng không phải cứ đặt "cốt" là hoàn toàn yên tâm, là không bị ta bắn mình. Lần ấy tôi bay với anh Lê Hoàn (tôi số 1, Lê Hoàn số 2 ) khi bay một hồi mà chưa thấy thông báo địch, tôi ngó xuống mặt đất thì bỗng thấy một vầng khói màu cam, tôi hô cho số 2 : "Cảnh giới bên trái phía dưới" và tiếp tục quan sát, thoáng sau đã thấy một chấm đen từ cái vầng khói kia lao thẳng vào đội hình bọn tôi. Tôi hô : "Cơ động trái gấp!" và lật trái kéo úp xuống. Quả tên lửa PK lướt qua chúng tôi, hơi tên lửa làm máy bay tôi rùng mạnh một cái nhưng không bị sao. Chúng tôi về hạ cánh, thoát chết, la hét ầm ĩ một lúc ngoài tuyến trực.
    Trong trận chiến, máy bay ta, máy bay địch hỗn chiến trong một khu vực với tốc độ cơ động không nhỏ nên việc bắn nhầm, tôi cho rằng cũng không tránh khỏi dù không ai muốn, mà trong chiến tranh thì cái gì cũng có thể xảy ra cả. Bộ binh còn "tương" nhau chí chát ra huống hồ ở trên trời qua màn hình IKO máy bay chỉ là một chấm sáng bé như hạt tấm. Hoặc giả như trên sân bóng, số lượng cầu thủ đâu có nhiều mà vẫn có trường hợp đá phản lưới nhà đấy thôi. Đúng không, đồng đội quocan?
    Tôi rất cám ơn đồng đội huyphongssi đã giúp tôi nhiều trong việc giải trình trước các thắc mắc của các đồng đội !. Huyphong à, trong quá trình chiến đấu, đặc biệt là ở chiến trường khu Bốn vào năm 1972, để ngụy trang cho máy bay ta đang nấp dưới đất khỏi máy bay địch ở trên không, ta phải sơn loang lổ (rằn ri). Từ trên nhìn xuống, máy bay lẫn màu vào màu sắc của cỏ cây. Bụng máy bay vẫn để trắng để ở dưới nhìn lên máy bay lẫn vào nền mây. Đợt máy bay phiên hiệu 5201 trở đi được trang bị cho cả 2 trung đoàn không quân Sao Đỏ và Lam Sơn. Số máy bay này còn lại hiện ta vẫn đang sử dụng thuộc trung đoàn không quân ở Yên Bái.
    Nhân đây xin chia sẻ với các đồng đội bài thơ "Mồng Một ! Em ơi ! Đừng so thêm đũa nữa !". Bài thơ này tôi làm đầu xuân năm 1972, đó là mùa xuân vô cùng ác liệt của cuộc chiến trên không. Nhưng Xuân đến, tâm hồn ai cũng thấy rạo rực, vạn vật cũng cựa mình, đổi sắc ... cho dù bom đạn vẫn nổ, cuộc chiến vẫn ngày càng cam go. Đất trời vẫn rực sắc khi Tết đến, Xuân về. Những cây, những cành bị mảnh bom, mảnh đạn phạt cụt vẫn đâm chồi nẩy lộc, vẫn đơm hoa, hé nụ. Nắng vẫn mơn man và mưa Xuân vẫn lất phất bay lẫn trong những làn khói bom lởn vởn. Nhà nhà vẫn gói bánh chưng, vẫn nghe thấy tiếng lợn kêu eng-éc trong ngõ xóm và đâu đó vẫn vang lên những tiếng pháo nổ đì đùng. Cứ đánh giặc, cứ đón Xuân .., phong thái người Việt vẫn cứ đĩnh đạc, ung dung... Với chúng tôi, từng ấy năm sống cuộc đời học viên bay là từng ấy năm đón cái Tết xa nhà. Khi trở về nước là bước vào cuộc chiến ngay, hầu như cũng chẳng ai được về đón Tết với gia đình. Biết bao nhiêu cảm xúc xáo trộn trong những ngày Xuân. Ai đó trực ở căn cứ chính, ai đó trực ở sân bay cơ động, ai đó sẽ xuất kích chiến đấu và rồi biết đâu cũng có ai đó không về trong mùa Xuân này. Những ngày Tết là những ngày xum vầy của tất cả các người thân trong gia đình, nhưng chiến tranh đã làm gián đoạn, đã ngăn cách những cuộc gặp gỡ ấy. Biết bao người thân ở hậu phương lo lắng, chờ đợi, ngóng trông ... Nhưng rồi ta vẫn tin rằng sẽ có mùa Xuân gần đây thôi, rất gần đây thôi sẽ là mùa Xuân đoàn tụ, mùa Xuân ngập tràn niềm vui.
    “Bữa cỗ đầu năm
    Em ngồi vào mâm
    Lẳng lặng so thêm đôi đũa
    Ngóng nhìn ra cửa
    Tiếng bước chân đâu cũng ngỡ anh về !

    Em chạy ra hè
    Mắt đăm đăm ngó phương trời xa vợi
    Năm nào cũng đợi
    Năm nào cũng trông
    Mà không !

    Em ơi, đừng khóc nữa
    Anh hẹn em Xuân mai
    Khi đào nở tươi
    Anh sẽ về cùng Xuân đoàn tụ
    Anh sẽ về trong thương yêu ấp ủ
    Anh sẽ về, mãi chẳng cách xa
    Xuân năm nay
    Thêm năm nữa xa nhà
    Thêm năm nữa, miền Nam đổ máu
    Thêm năm nữa
    Anh còn chiến đấu
    Thêm năm nữa
    Em còn so thêm đũa đợi chờ

    Em ơi ! Tin yên anh cứ đợi
    Năm sau sẽ tàn lửa khói
    Năm ấy cỗ mừng Xuân mới
    Hẳn có anh cầm đôi đũa em so
    Nâng lên
    Như nâng trái cam mới bói đầu mùa
    Như nâng tay em ngày cưới
    Nhớ không em ?
    Ngày ấy - cũng mùa Xuân !”

    Đêm 13/4/1972 tôi “hưởng” trận bom B.52 của Mỹ rải đầu tiên là ở Thanh Hóa. Đêm đó tôi trực chỉ huy bay, anh Bùi Doãn Độ trực chiến. Báo động vào cấp, rồi lại xuống cấp, rồi lại báo động sơ tán. Chưa kịp chui vào hầm thì suốt dọc đường băng của sân bay Thọ Xuân đã nháng lửa, chớp lóa mắt, liên hồi và tiếng bom rền như xay lúa, mãi không dứt. Hơi bom nện tức ngực, mặt đất như trên cái sàng gạo, sàng qua sàng lại thỉnh thoảng lải xóc mạnh lên vậy. Có lúc chúng tôi vẫn cố liên lạc với đồng đội, mọi đường liên lạc hữu tuyến về sở chỉ huy bị đứt hết, đối không cũng chẳng nghe được, lại rất nhiễu (sau mới phát hiện là các cột ăng ten bị gạt gãy hết, các đường dây bị bom băm nát cả). Tôi rất sốt ruột không biết tình hình ra sao nữa. Đài chỉ huy nằm ở phía Bắc đường băng. Lực lượng trực chính lại ở phía Nam đường băng. Thật như ngồi trên đống lửa. Vừa bò lên khỏi hầm để xem tình hình thì lại bị anh Vũ Trọng Tân (trực Quân báo) lôi xuống, không cho lên, anh lo tôi “vướng” mảnh thì xong đời. Đợt đánh này khá dài. Tiếng máy bay nghe rất nặng và rền. Dứt đợt đánh, tôi vọt lên khỏi hầm, hét gọi phía bên trực xem tình hình bên đó thế nào thì thấy một bóng đen chạy phía đường băng lên nói với tôi là đường băng bị đánh hỏng hết rồi, lại đưa cho tôi hai chú gà gô nói là bắt được ở bên lề bảo hiểm đường băng. Hai chú chim bị sóng kích của bom làm cho nghễnh ngãng, quay quay như người bị động kinh. Tôi cũng chẳng còn bụng dạ nào nghĩ cách xử lý chúng nữa, lại thả ra rồi cùng với đồng chí công binh kia đi kiểm tra đường băng.
    Đêm cuối tháng tối mịt mờ, đen đặc khói và bụi không nhìn thấy gì cả. Không khí hầm hập, nặng trịch, khét lẹt, đắng ngắt. Trong ánh sáng mờ mờ của trời đêm, tôi cúi sát mặt đất nhìn thì thấy mọi tấm ghi lát trên đường cất hạ cánh đều bị đánh cong, bật lên khỏi mặt đất tựa như những dẻ xương sườn của một con vật nào cực kỳ khổng lồ được dóc hết thịt giành cho đám nhậu rồi vứt hỗn độn ra đấy. Bãi chiến trường ngổn ngang. Thôi thế này thì bao giờ mới sửa được, mới lại bay, lại trực được? Tôi vừa ức, vừa ngao ngán quay về hầm trực để thông báo cho số phi công và thợ máy trực chiến biết tình hình. Khu chúng tôi sơ tán và sở chỉ huy thì nghĩ rằng chúng tôi bị “làm cỏ” không còn một mống nào rồi nên cũng đợi sáng hôm sau mới sang giải quyết hậu quả. Gần sáng thì chúng tôi mò được về nhà. Cả khu vực ấy bỗng vỡ òa, hân hoan náo nhiệt hẳn lên. Đúng là chúng tôi từ cõi chết trở về thật, không một ai nghĩ là chúng tôi còn đầy đủ như thế sau những đợt rải thảm hàng mấy trăm tấn bom của B.52 xuống khu trực. Sự may rủi, sống chết trong chiến tranh đúng là lạ lùng, không ai lường được.
    Sau đó chúng tôi phải đi đường bộ ngược ra sân bay Đa Phúc. Một tuần sau, sân bay sửa xong, tôi lại bay vào trực. Từ trên trời nhìn xuống thì ôi trời ôi: một vệt bom chiều ngang khoảng hơn 2km, chiều dài khoảng chục cây số chi chít hố bom,chỉ thấy hố bom là hố bom trong cái diện tích ấy, tưởng tượng như mình nhìn vào tổ ong bỏ không vậy. Hôm ấy, nếu bọn lái đi lệch chỉ cần 01 độ sang phía đầu Tây sân bay thôi thì chắc số anh em chúng tôi trực chiến hôm ấy xương thịt, đất cát sẽ được băm nhừ nhào vào nhau thành một hỗn hợp mà chẳng hề tìm được tên gọi của cái hỗn hợp ấy trong từ điển của loài người.
    Thời kỳ ấy cuộc sống, nề nếp sinh hoạt của đội ngũ phi công cũng bị xáo trộn theo những cuộc cơ động hết sân bay này đến sân bay khác. Bom đạn Mỹ không để cho bất kỳ sân bay nào của ta được yên ổn quá lâu. Chúng đánh liên tục, ban ngày đánh rồi, ban đêm lại đánh tiếp, đánh không theo quy luật nào cả. Chuyện phải cất cánh ở đường băng ngắn hẹp, cất hạ cánh ở cả đường lăn, xung quanh còn đầy hố bam, hố đạn đều là chuyện bình thường đối với tất cả các lực lượng phi công. Rất nhiều sân bay dã chiến, ngắn hẹp, mà chỉ nói ra thôi chắc bây giờ không ai tưởng tượng nổi đấy lại gọi là sân bay, càng không dám nghĩ rằng chúng tôi đã trực chiến ở những nơi ấy. Chúng tôi cất hạ cánh cả trên đường lăn (không phải là đường băng), có lệnh cất cánh là xuất kích, đánh nhau không tìm được nơi hạ cánh nữa thì chấp nhận nhảy dù, chỉ tâm niệm một điều duy nhất: phải đánh, phải chiến thắng.
    Những năm tháng chiến tranh, đời tôi gắn chặt với cuộc sống cơ động. Sáng cất cánh từ sân bay Đa Phúc, đánh một trận, về Yên Bái hạ cánh, ăn trưa ở đó, lại xuất kích, có khi lại hạ cánh tại Thọ Xuân - Thanh Hoá hoặc Kép, hoặc Kiến An. Ngoài khẩu súng ngắn đeo theo người , tôi còn nhét trong túi áo một chiếc quần đùi, một khăn mặt, một dao dù, bút và quyển sổ nhật ký. Gia tài của phi công chiến đấu có vậy thôi. Các mái nhà trực chiến ở các sân bay đều giắt đầy bàn chải đánh răng, bay đến đâu trực thì sử dụng đến đấy. Cuộc sống đơn giản là thế. Có một điều chúng tôi rất cần là nước. Suốt một ngày trực căng thẳng, vất vả, quần áo kháng áp bó chặt lấy người, mồ hôi nhễ nhại bao nhiêu tiếng đồng hồ, nhất là giai đoạn gặp gió Lào khi trực ở các sân bay miền Trung thì khổ cực vô cùng mà phải ngồi cố định trong buồng lái.Vậy mà đâu có được tắm rửa thoải mái. Chắc khó có người tin nổi tiêu chuẩn mỗi người đi trực về chỉ được một chậu thau nước (nhiều khi còn toàn mùi bùn vì phải gạn nước ở hố bom), mà chúng tôi gội đầu, tắm và cả giặt nữa. Đầu tiên múc một ca nước, thấm cho ướt hết đầu, hứng nước ấy vào một chậu thau khác, xát xà phòng, gội đầu chỉ được phép hai ca nước là cùng. Số nước hứng được khi gội đầu, té cho ướt khắp người, kỳ cọ bằng xà phòng, chỉ được dùng khoảng 3 đến 4 ca nước. Vẫn hứng nước ấy để giặt sơ bộ quần lót. Tráng nước sạch khoảng 3 ca, còn lại vài ca cuối là giặt khăn mặt và quần. Xong cuộc tắm! Cũng may anh em tôi suốt giai đoạn chiến tranh không ai bị hắc lào hay bệnh ngoài da khác (lạ nhỉ sau này cuộc sống đầy đủ hơn thì lại mắc đủ các bệnh).
    Khổ nhất là mấy “vị” trực trong sở chỉ huy, suốt cả ngày không ra khỏi vị trí trực, phát minh ra sáng kiến: tắm khô! Có lần thấy mấy viên ghét to tướng mà mấy vị ấy thi nhau nặn, Tôi đùa với các vị ấy rằng mấy viên thuốc tễ ấy cho vào lọ nút kín, sau này có khi dùng làm thuốc chữa được ối bệnh hiểm nghèo cũng nên!.
    "Đến với đàn bà, đừng quên mang theo một cây roi - Zarathustra đã nói như thế!"

  2. #12
    Biển số
    OF-34662
    Mua xe ngày
    05-05-2009
    Số km
    519
    Động cơ OF
    4945596 mã lực

    Mặc định

    Đến thời điểm đó, MiG-21 chỉ đeo được 2 quả tên lửa thôi. Khoảng giữa năm 1972, khi địch đang đánh phá ra miền Bắc ác liệt, phía Liên-Xô có cử đại diện của Tổng công trình sư Mi-côi-ăng sang Việt Nam tiếp thu ý kiến của các phi công đã trực tiếp tham chiến để góp ý cải tiến MiG-21 thế nào. Tôi được mời dự cuộc họp ấy. chúng tôi đã bình luận, đưa ra một số đề xuất cải tiến cho phù hợp với chiến trường của ta. Đồng chí cán bộ người Nga ghi chép rất cẩn thận, đợi chúng tôi phát biểu xong mới hỏi chi tiết từng nội dung. Sau đó các cải tiến được chấp nhận và thực hiện khá nhanh, đến bây giờ vẫn còn có ích lắm, ví dụ nhỏ như lắp thêm gương bảo vệ đuôi chẳng hạn. Ngày trước, khi chưa có gương ấy, muốn nhìn đằng sau mình xem có thằng địch nào bám không là phải ngoái cổ lại, nhưng khi lắp gương rồi, chỉ cần liếc một cái thôi là thấy được khoảng không ở sau đuôi máy bay mình đến 3-4 cây số, cũng tựa như mình lái xe ô-tô mà nhìn gương chiếu hậu vậy. Hoặc như được cải tiến để đeo được 4 quả tên lửa, máy bay chứa được nhiều dầu hơn… qua đó sức mạnh của MIG-21 tăng lên đáng kể.
    Sáng ngày 10/05/1972, tôi và Cao Sơn Khảo (bay số 2 cho tôi) đang trực chiến ở sân bay Đa Phúc thì có lệnh xuất kích, trời nắng nhẹ mây 4 đến 5 phần. Chúng tôi tách đất bay về hướng Tuyên Quang, lấy độ cao đến 6km thì Sở chỉ huy phát hiện được địch. Chúng thả nhiễu rất dày nên các anh phán đoán có thể là B.52 nên đưa chúng tôi đánh thẳng vào vùng nhiễu. Vừa nhận được thông báo có địch thì đã thấy một tốp bay ngược chiều. Ngay lập tức dưới cánh bọn chúng nhấp nháy chớp sáng. Tôi biết là chúng bắn tên lửa đối đầu, hô cho Khảo cơ động. Máy bay chúng tôi chúi xuống dưới. Đã lại thấy một tốp bám đuổi ở phía sau, tôi hô khẩu lệnh vứt thùng dầu phụ, tăng lực cơ động gấp. Nhưng địch dò được tần số sóng đối không của chúng tôi, chúng gây nhiễu liên tục, tôi hô chắc Khảo cũng chẳng nghe thấy, mà Khảo báo cáo tôi cũng chẳng nghe được. Sở chỉ huy cũng chẳng chỉ huy, không giúp được gì chúng tôi nữa, mặc dù mấy lần chuyển sang rãnh sóng dự bị rồi cũng không sao liên lạc được. Ngoặt vài lần là Biên đội chúng tôi mất nhau, chỉ biết vẫn ở trong khu chiến ấy thôi, chứ mọi mối liên lạc đã bị đứt hết. Bọn chúng bắn rất nhiều. Cơ động thấy chúng hơi khuất đằng sau là lại phải kéo tiếp, lại thấy đôi quả tên lửa trượt qua dưới cánh mình. Thằng F.4 chuyên đời phóng 2 quả một. Có lúc không thấy máy bay, nhưng linh tính mách bảo phải cơ động, vừa kéo cần lái thì đã thấy tên lửa chúng bắn mình vèo qua. Tôi vừa cơ động vừa nghĩ, sao chúng nó bắn lắm thế nhỉ?. Khi về rút kinh nghiệm trận đánh thì mới biết rằng chúng tôi đã xông vào ổ tiêm kích với đội hình 24 chiếc F.4 mà anh em tôi chỉ có 2 người, nên mới bị vây đánh hội đồng như vậy.
    Bỗng nhiên lao vút qua tít trên đầu tôi là đường tên lửa bay, phía trước đó là một máy bay. Vì ở xa, tôi không trông rõ đấy là Mig-21 hay F.4 (bởi hai loại máy bay này đều cánh tam giác, trông xa thì đều như vỉ ruồi cả). Chưa kịp hô “cơ động gấp” thì tên lửa đã đâm thẳng vào máy bay, bốc cháy đùng đùng. Lại hô “nhảy dù” thì thấy chiếc vừa bắn chiếc kia xong bị bắn cháy ngay tắp lự. Tôi lại hô nhảy dù tiếp. Hô đến khản cổ chẳng thấy chiếc dù nào ra hết. Lúc ấy tôi đoán chắc rằng Khảo đã bắn một chiếc và chiếc khác bắn Khảo - sau đúng như thế thật.
    Bây giờ thì còn mỗi một mình tôi thôi bọn chúng quây vào như ruồi bâu. Tôi phải cơ động liên tục. Rẹt, một thằng vượt qua mặt, tôi ghé đầu vào máy ngắm, ngắm sơ bộ là phóng luôn một quả tên lửa, xong cơ động luôn. Lại thấy thằng đằng sau bắn tới, lại phải cơ động tránh ngay. Đánh quẩn một lúc, dầu sắp cạn, tôi quyết định thoát ly khỏi cuộc chiến. Lật úp máy bay xuống và kéo cho bay sát ngọn cây trên rừng Tam Đảo, lấy dãy Tam Đảo che một phía, tôi chỉ còn phải cảnh giới một phía thôi. Đến khoảng hồ Đại Lải thì nối được liên lạc với Sở chỉ huy, được thông báo có một tốp địch đang bay từ Hoà Lạc sang.
    Bọn chúng về sau này hay sử dụng cái bài phong toả sân bay, săn lùng các máy bay đi chiến đấu về hoặc mới cất cánh lên để bắn và cũng đã có vài lần thành công trong chiến thuật ấy. Những thằng phi công bay ở những tốp này là bọn rất kỳ cựu trong nghề bay, chúng tôi gọi là “những thằng du mục”, chúng cứ lang thang gặp thuận lợi mới công kích, rất nguy hiểm khi gặp chúng. Bấy giờ, tôi bắt buộc phải cắt lấy hướng về sân bay Kép. Dầu liệu thì sắp cạn, lại bay thấp nên càng tốn dầu. Phát hiện thấy sân bay Kép, tôi thông qua thật thấp, thấy yên ổn thì làm hàng tuyến hẹp vào hạ cánh luôn. Đến trước Đài gần thì thấy một chiếc Mig-17 ở đâu cũng bay tạt vào hạ cánh mà mình đang ở độ cao kéo bằng rồi. Máy bay tôi thì tốc độ lớn, Mig-17 thì tốc độ nhỏ, đâm vào nhau như chơi, nhưng không còn đủ dầu để bay lại nữa. Thôi đành hạ cánh ở một bên mép đường băng, đến gần chiếc Mig-17 là tôi đạp phanh ngay, ngoặt máy bay ra cỏ, tắt máy.
    Nhào ra khỏi máy bay, tháo mũ đã thấy mấy anh thợ máy chạy đến. Mấy anh thợ máy kéo máy bay tôi vào trong ụ mà anh nào anh ấy đều trố mắt kinh ngạc vì máy bay tôi bị mấy chục lỗ đạn suốt từ đuôi máy bay lên hai cánh, đến cả thân, chóp nón cũng bị, chỉ chừa có mỗi buồng lái tôi ngồi là vô sự. Lỗ to nhất là bằng ấm pha trà. Lỗ vừa thì bằng quả trứng gà, còn các lỗ nhỏ như hạt ngô. Tổng cộng hơn 30 lỗ cả thảy. Anh em phán đoán tôi bị súng Vuncal 6 nòng của F.4 bắn, nhưng có thằng nào tiếp cận được gần tôi đâu mà bắn súng. Kiểm tra lại là các mảnh nổ của tên lửa. Máy bay phải thay cánh, thay bánh lái lên xuống... Máy bay tôi sơn màu nguỵ trang vằn vện, phần mới thay lại màu trắng (không sơn kịp) nên trông như quần áo anh hề trong rạp xiếc vậy. Sau trận này Tôi có thêm tên gọi “thợ tránh tên lửa”.
    Lại nói về Cao Sơn Khảo. Sau khi Khảo bắn rơi một chiếc thì Khảo cũng bị bắn. Khảo rơi ở chân dãy Tam Đảo đằng mạn Tuyên Quang, nhiều đoàn của Quân chủng tổ chức tìm kiếm mà không được. Mấy năm sau người dân đi rừng vô tình phát hiện, báo lại, chúng tôi mới tìm thấy anh. Dù có mở, tức là có nhảy dù, nhưng sao lại hy sinh thì đến giờ cũng vẫn còn lại câu hỏi với những sự phán đoán mà thôi. Mộ của Cao Sơn Khảo ở nghĩa trang liệt sỹ huyện Yên Bình - Yên Bái. Chàng trai Ý Yên - Nam Định đánh bóng bàn bằng vợt dọc đã gửi lại xương cốt mình nơi rừng núi. Buồn lắm, tôi cắt trọc đầu mình, chắc các đồng đội đồng cảm với tôi vì thực ra mỗi đơn vị của chúng tôi chỉ có 2 anh em thôi mà. thề với trời đất rằng tôi sẽ không bao giờ để mất thêm một số 2 nào nữa, và lời thề ấy chừng cũng linh nghiệm. Suốt chiến tranh, nhiều đồng đội bay số 2 cho tôi như Đỗ Văn Lanh, Lê Văn Hoàn, Bùi Thanh Liêm, Trần Sang... chúng tôi chỉ có thể tạm lạc nhau trong chiến trận thôi chứ không mất như Khảo nữa. Cũng chính từ ngày ấy, năm nào đến tháng 5, tôi cũng cắt trọc đầu mình. Mấy cô chị nuôi cho tới giờ gặp tôi vẫn gọi tôi là ông sư! Tôi giữ lệ này đến tận khi tôi làm cán bộ đại đội bay mới thôi.

    Trong cuộc chiến Trung Đông và qua nhiều kênh khác, không quân Mỹ nắm khá chắc điểm mạnh, yếu của MIG-21. Từ đó họ đưa ra nhiều phương án đối phó với ta. Còn chúng ta để tìm hiểu địch chủ yếu là dựa vào cọ xát trên chiến trường, để chống lại các chiến thuật của địch là đúc rút kinh nghiệm sau từng trận đánh. Các thầy Liên Xô, Trung Quốc dạy ta nhiều về chiến thuật không chiến, nhưng chiến thuật của bạn đều dựa trên lực lượng hùng hậu, cân bằng với đối phương, thậm chí là áp đảo đối phương. Ta cũng đưa vào áp dụng nhưng không cứng nhắc bởi lực lượng không quân non trẻ chắc chỉ ra quân được vài lần như vậy sẽ bị xóa sổ, chúng ta đã điều chỉnh cho phù hợp chiến trường của ta. 8 năm chiến tranh trên không ở miền Bắc là 8 năm đấu trí và lực giữa không quân ta và không quân Mỹ. Đó là quá trình vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, vừa điều chỉnh chiến thuật liên tục của cả 2 bên. Có giai đoạn các bạn Bắc Triều Tiên sang Việt Nam tham chiến lấy kinh nghiệm chiến trường, lúc đầu áp dụng chiến thuật máy móc đã dẫn đến tổn thất, sau khi nghe ta tư vấn, rút kinh nghiệm bạn chuyển đổi chiến thuật tác chiến giống ta và đã dành thắng lợi ở một số trận.
    Sau khi phát hiện địch theo dõi chúng tôi qua liên lạc bằng đối không, thì bọn tôi đã phải chọn cách đánh hoàn toàn khác: đấy là đi trong im lặng như lực lượng đặc công của ta "đi không dấu, nấu không khói, nói không to, ho không tiếng !". Chúng tôi "người ngựa ngậm tăm", lẳng lặng nhận phương án qua khẩu lệnh của tác chiến ở phòng trực, từ lúc đó đến khi mở máy, cất cánh, lấy độ cao, bay theo hướng của phương án đánh là các số im lặng tuyệt đối, chỉ bay theo tín hiệu lắc cánh của số 1 mà thôi. Hết thời gian quy định, số 1 bấm vào nút đối không một hoặc là hai tiếng "cạch" theo quy định, sau đó vứt thùng dầu phụ, tăng lực kéo lên, sau rồi mới tiến hành liên lạc. Nếu bị nhiễu thì nhanh chóng chuyển sang rãnh phụ. Điều ấy cũng đã tạo khá nhiều thuận lợi cho cách dẫn dắt và cách thức lâm trận của chúng tôi.
    Trong chiến tranh ta đã dùng máy bay trực thăng Mi-6 cẩu các máy bay MiG-21 đi sơ tán, rồi lại bất ngờ đưa trở lại các vị trí trực ban chiến đấu đạt hiệu quả rất lớn. Riêng điều ấy thôi đã tạo ra sự kinh ngạc cho các bạn Liên Xô rồi.
    Mỗi phi công chúng tôi được trang bị một khẩu súng ngắn K-59 ( về sau này thì là K-27) với băng đạn 6 viên, cộng một băng 6 viên dự phòng nữa ở bao súng. Trong túi NAZ-7 ở dưới ghế dù (túi cấp cứu khi nhảy dù khẩn cấp chứa thuốc men, lương khô, dao, dây câu, mồi câu tẩm hóa chất, diêm có thể bật cháy bình thường ngay trong mưa bão, cồn khô, thuốc chống vắt, chống cá mập, pháo sáng ... và một hộp có 16 viên đạn của súng K-59 nữa). Tất cả là giúp cho phi công tự bảo vệ mình trong các trường hợp cần thiết. Phi công Mỹ cũng được trang bị súng ngắn nhưng họ không bao giờ sử dụng vì họ biết đối thủ không có chủ trương bắn chết hoặc hành hạ tù binh. Phi công Mỹ còn có "lá cờ xin ăn" và họ còn hy vọng chúng mạnh hơn cả những viên đạn của súng ngắn nhiều !. Riêng việc chiến đấu của các anh Tạ Đông Trung và Nguyễn Thế Hùng khi tham gia mặt trận Tây Nam sau khi máy bay rơi diễn biến như thế nào thì tôi không nắm rõ (thời gian này đơn vị tôi tham gia phòng thủ tại biên giới phía Bắc). Chỉ biết rằng, các anh chiến đấu rất dũng cảm và hy sinh anh dũng, quyết không để cho bọn Pôn-Pôt bắt làm tù binh. Anh Tạ Đông Trung được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 20 tháng 12 năm 1979 và anh Nguyễn Thế Hùng được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 28 tháng 4 năm 2000, đồng đội Giang NH ạ!.
    Việc các phi công và các dẫn đường có quen nhau hay không là chuyện đương nhiên như việc "thường ngày ở huyện", bởi chúng tôi gắn bó với nhau lắm, chỉ cần nghe tiếng thôi là đã nhận ra đấy là ải, là ai rồi. Trong "làng dẫn đường" tôi chỉ thấy có Bùi Hạnh và Thân Đức Hạnh thôi còn người thân Lê Sỹ Hạnh của Spirou thì tôi không biết.

    Khoảng đầu tháng 6/1972 anh Phạm Phú Thái và tôi bay tuần tiễu về khu vực Tuyên Quang (sau khi anh Thái mất số 2 là Võ Sỹ Giáp, tôi mất Cao Sơn Khảo, thì hai chúng tôi cũng hay đi với nhau, cũng “sáng tác” được một số động tác riêng cho biên đội như “cắt chéo” “cơ động phản kích đối đầu”... rất có tác dụng đối với chúng tôi trong không chiến). Mây ở khu vực ấy khoảng 5 đến 6 phần. Tôi quan sát quanh quẩn, nhìn xuống dưới bụng máy bay mình thì chợt thấy 4 thằng đang bay thấp cắt từ phải qua trái. Tôi hô cho anh Thái biết: “Bốn thằng “du mục” đi từ phải sang, ngay dưới bụng mình đấy!” Anh Thái cũng phát hiện và lập tức chúng tôi vứt thùng dầu phụ, lật úp máy bay để chiếm vị công kích. Anh Thái lao vào bắn một quả tên lửa, một thằng bùng cháy giữa trời. Tôi lao theo 3 thằng thì bọn chúng quay gập vào bụng tôi tháo chạy. Máy bay của anh Thái không hiểu sao bị gẫy ống không tốc (trông nó tựa như mũi giáo ở đầu máy bay vậy). Mọi đồng hồ trong buồng lái không làm việc nữa vì hỏng hết cả hai hệ thống khí áp tĩnh và động. Anh ấy la như cháy nhà. Tôi phải bỏ mục tiêu, nhào lên bay cạnh anh ấy, khống chế tốc độ cho phù hợp và dẫn về hạ cánh. Dọc đường bay, anh ấy hò la rất nhiều, phần vì phấn khích, phần vì lo lắng cho chuyến bay. Thôi thì đủ cả lời nói vui, nỗi lo âu, câu chửi thề tục tĩu. Không ai có thể xen vào được, chỉ đến lúc hạ cánh xong anh mới chịu lặng im thôi. Tâm trạng khi lập được chiến công của từng người cũng khác nhau. Có anh thì chỉ hô mỗi câu : "Cháy rồi!", có anh thì la hét hò reo sung sướng, có anh thì văng tục, chửi thề ..., chẳng ai giống ai cả. Tôi nghĩ, nó cũng giống như trạng thái say rượu ấy, có anh thì lẳng lặng đi nằm ngủ, có anh thì lại kể chuyện vui, cười rồi hát hò, có người thì lại khóc rưng rức ...Cuộc sống nó là thế !
    Tháng 6 năm 1972 có lẽ là tháng chúng tôi giành thắng lợi ròn rã. Lứa của tôi hầu như ai cũng lập công. Tháng 6 là tháng chúng tôi bị tổn thất ít nhất. Tôi cũng lập chiến công vào những ngày cuối tháng 6 này trên vùng trời Hoà Bình.
    Ngày 26/6/1972 tôi với Trần Sang (bay số 2 cho tôi) xuất kích từ Sân bay Đa Phúc. Mây dầy đặc, nhiều tầng, nhiều lớp. Xuyên lên khỏi mây thì Sang không thấy tôi, còn tôi đã lấy hướng vào khu vực chiến đấu và tình hình rõ ràng là khá khẩn trương (qua giọng thông báo của trạm dẫn đường mặt đất). Tôi đề nghị dẫn Sang về hạ cánh, còn mình tôi tham chiến. Sở chỉ huy đồng ý, cho Sang về và dẫn tôi đi. Đến vùng trời Hoà Bình, tôi phát hiện thấy một tốp 24 chiếc, xin vào công kích, được phép và tôi “đơn thương, độc mã” xông vào cái đám ấy. Đội hình của chúng rối loạn. Chúng áp dụng chiến thuật “đan chéo” kiểu cắt kéo để tránh bị công kích, tôi đợi đúng lúc một thằng F.4E vừa làm động tác đảo lại, thời điểm quá tải nhỏ nhất là tôi phóng tên lửa và thoát ly.
    Đến giai đoạn này thì đúng là bọn giặc trời gờm chúng tôi một cách thực sự. Nếu như chúng không nắm được chủ động về thế chiến thuật thì đội hình chúng chủ yếu xé lẻ, tan tác để tháo chạy, tránh bị công kích là chính. Số lượng máy bay Mỹ rơi quá nhiều, số giặc lái bị bắt, bị đưa vào nhà giam mà bọn chúng thường gọi là “khách sạn Hintơn” cũng quá đông. Thằng nào cũng sợ, cũng nằm trong tâm trọng nơm nớp khi bay vào không phận Bắc Việt. Còn đối với chúng tôi thì chúng tiêu diệt mãi sao mà không thấy hết, vẫn thấy chúng tôi hoạt động khắp nơi, đánh nhau liên tục cả ngày lẫn đêm... thì có lẽ chúng không sao hiểu nổi.
    Tôi còn có trận đi cùng anh Thái, gặp địch ở vùng trời Hoà Bình lần nữa. Cả hai anh em cùng bắn, nhưng chúng cơ động ghê quá, chúng tôi để lỡ mất cơ may, về cứ tiếc mãi.
    Lại nói về bọn “du mục” mà tôi từng đề cập đến ở phần trước. Chúng là những tên lái giàu kinh nghiệm, sành sỏi trong chiến tranh, dày dạn trong không chiến, kỹ thuật bay. Chúng cũng áp dụng kinh nghiệm của các lực lượng không quân trong chiến tranh thế giới thứ hai. Chúng thường bay thấp, với đội hình 4 chiếc, lập các không vực tự tìm kiếm để tiêu diệt mục tiêu trên không, chủ yếu ở hai đầu loa cất hạ cánh, “rình” những máy bay cất cánh lên hoặc về giảm tốc độ vào hạ cánh. Đấy là thời điểm dễ “làm ăn” nhất của bọn chúng vì máy bay ta lúc đó tốc độ thường nhỏ, cơ động kém, lại sơ hở vì gần ngay căn cứ mình rồi, ít tăng cường quan sát. Đã mấy lần chúng tôi bị chúng “vồ” trong những trường hợp như vậy và chúng tôi cũng đã bị tổn thất. Qua những lần như vậy, chúng tôi phải cảnh giác hơn rất nhiều. Cũng từ đó mà chúng tôi sinh ra chiến thuật lập hàng tuyến thật hẹp để vào hạ cánh, độ cao chỉ 20 đến 30m. Kéo lập xong vòng 4 là đến độ cao kéo bằng. Thời gian ở trên không rất ngắn, bọn chúng đành bó tay.
    Hầu như những tháng cuối năm 1972, bọn tôi xuất kích rất “âm thầm”. “người ngựa ngậm tăm” lủi theo độ cao thấp đi đến một điểm nào đấy mới tăng lực kéo cao, mới liên lạc, bởi nếu không như thế, thì bọn tôi bị gây nhiễu đối không ngay lập tức và không ai chỉ huy được ai hết. Tôi còn nhớ, dễ có đến gần 20 phương án. Khi nhận lệnh báo động vào cấp là nhận phương án luôn, đi đứng ra sao, bọn tôi phải thuộc như lòng bàn tay mình, ấy thế mà bọn Mỹ dò ra sóng đối không rất nhanh, phá sóng rất dữ, gây không ít khó khăn cho chúng tôi trong chiến trận.
    Mặc dù những ngày chiến đấu căng thẳng, ác liệt diễn ra như vậy, nhưng “máu học trò” của tôi lựa có thời điểm nào có đất hoạt động là lại sống lại. Chúng tôi đi trực chiến thường rất sớm, khoảng 3 giờ sáng là phải dậy rồi. Có một lầnkhi xuống xe trực, qua nhà bếp, vì còn sớm quá, lái xe chưa ra, chị nuôi thì ngồi ngủ gục tại bếp, tôi liếc thấy bên cạnh có bộ áo mưa, liền xâu que, treo lên xà bếp, kiếm được đôi giày hỏng buộc ở dưới áo, trông tựa người treo cổ. Xong rồi, tôi đến ngồi cạnh chị nuôi hừ một tiếng. Cô chị nuôi giật mình choàng dậy, mắt nhắm mắt mở, chống tay vào đúng cái đầu trọc lốc của tôi, rú lên, chạy nhào ra cửa, chưa định thần được thì lại thấy người treo cổ ở trước mặt. Rú tiếp một tiếng nữa và không thể chạy nổi, khuỵu xuống, vừa bò vừa la. Tôi lỉnh cửa sau, đi ngược đường coi như chẳng có chuyện gì xảy ra hết. Toàn bộ khu bếp báo động, súng ống lên đạn lách cách. Cô chị nuôi nói hụt hơi là bếp có ma. Mọi người chạy xuống bếp thì thấy áo mưa treo, oà lên cười. Bấy giờ thì cô chị nuôi mới lấy lại tinh thần oà lên khóc... Nhưng sau lại cứ làm tôi ân hận mãi tới tận bây giờ vì những trò nghịch ngợm không đâu của mình.
    Để động viên kịp thời những anh bắn rơi máy bay Mỹ, chúng tôi hay bày trò tạo một cái gì đó bất ngờ. Hôm anh Đỗ Văn Lanh (sau này được phong danh hiệu anh hùng các lực lượng vũ trang) bắn rơi một chiếc F.4, tôi ở nhà (ở trong hầm thì đúng hơn) hì hụi lôi một chiếc bảng đen ra, vẽ một phi công mắm môi mắm lợi bóp cò súng, phía trước, một thằng F.4 cháy cắm đầu xuống, cánh vỡ ra từng mảnh, cạnh bảng là dòng chữ to: “Hoan hô thằng Lanh”. Xong, tôi đem bảng ra treo trước hầm, cốt khi Lanh về thấy để mừng. Ai dè, tôi bị vạ vì cái trò này. Số là Lanh chưa về thì chính uỷ đã đến trước giờ để báo tin, nhìn thấy tấm bảng, ông đứng sững lại, ngắm nghĩa gật gù, mắt nhấp nháy rồi hỏi: “Vẽ đẹp đấy, nhưng ai vẽ?”. Tôi đứng ra nhận thì lại được hỏi một câu tiếp: “Sao lại đề là thằng Lanh, mà không là đồng chí Lanh?”. Tôi trả lời: “Bạn bè vẫn gọi nhau mày tao thì đề bằng thằng cũng có sao đâu ạ!” Thế là tôi được thuyết trình một hồi về nhận thức, về quan điểm. Rồi rốt cục đưa cả ra chi bộ nói về chuyện ấy nữa. Tháng ấy, tôi mất danh hiệu “**** viên 4 tốt”. Tôi còn bị mấy lần mất “4 tốt” nữa vì những chuyện không đâu. Ví như mắng số 2 ở trên trời là “Cú đỉn”. Quả tình, bốn ngàn năm lịch sử yên hàn, bỗng giữa trời vang lên tiếng “cú đỉn” thì nghe cũng không sao lọt tai thật. Rồi những trò đùa vô bổ trong những phút yên lặng giữa những lần xuất kích, những chuyện tào lao, những trò bay nghịch ngợm....tôi đều bị “riềng”. Hồi ấy, người ta quản lý chúng tôi ngặt nghèo đến mức hơi bị thái quá. Có gì cũng nâng lên thành quan điểm hết, sợ thật!
    Tôi là thằng “sáng tác” ra trò bay “báo cơm”. Có nghĩa là đi cơ động ở sân bay khác về, hoặc đi đánh nhau về, sẽ hạ cánh ở Đa Phúc thì thế nào cũng bay kéo dài vòng một một chút, lách qua núi Đôi, ngắm vào mấy cửa hầm chúng tôi ở, bay thật thấp dưới chân đồi có hầm ấy, dưới đó là bếp ăn của bọn tôi. Rẹt qua ở độ cao 5 á 10m thôi, lắc cánh rồi kéo lên, lượn vào vòng 3, thả càng, hạ cánh. Chị nuôi khắc biết bổ sung thêm một xuất cơm ra sân bay. Tai hại là ở chỗ mọi người giật mình, kinh hoảng, may mà chưa có ai bị ngất vì tiếng động và sóng kích của máy bay gây ra. Đã có lần, bay thấp quá, mái bếp suýt sập, vung nồi cơm văng cả xuống bếp, bụi mù lên cơ mà! Thật thà mà nói, đến bọn tôi là những thằng bay, nhưng khi nằm ở trong nhà trực, bị ai đó rẹt qua cũng phải bật ngay dậy, không chịu nổi, chứ nói gì đến người thường! Sau chúng tôi phải ra một “đạo luật” cấm bay thông qua khu trực chiến ở độ cao thấp. Anh nào vi phạm thì lập tức bị trùm chăn và bị đánh luôn. Ấy thế mà khối anh bị đánh đấy. Tôi cũng có lần vô tình quên mất quy định kia, hạ cánh xong rồi, ra khỏi buồng lái, thấy mấy bóng người cầm chăn nấp ở cánh cửa nhà trực, mới sực nhớ ra, không vào nhà nữa, mặc dù khát nước tới muốn chết vẫn đành chịu. Dại gì xông vào để bị chúng nó trùm chăn, nó đánh hội đồng!
    "Đến với đàn bà, đừng quên mang theo một cây roi - Zarathustra đã nói như thế!"

  3. #13
    Biển số
    OF-34662
    Mua xe ngày
    05-05-2009
    Số km
    519
    Động cơ OF
    4945596 mã lực

    Mặc định

    Câu chuyện của phicongtiemkich còn tiếp tục, với tư cách là copy man, em sẽ tiếp tục rình bác mỗi lúc hạ cánh để lượm về hầu các cụ. Để theo dõi câu chuyện đầy đủ hơn mời các cụ xem ở đây.
    "Đến với đàn bà, đừng quên mang theo một cây roi - Zarathustra đã nói như thế!"

  4. #14
    Biển số
    OF-18092
    Mua xe ngày
    01-07-2008
    Thường ở
    trần, đậy cái lá nho
    Số km
    6,500
    Động cơ OF
    10737568 mã lực

    Mặc định

    Hay quá, em xem 1 lèo từ trưa mỏi cả mắt

  5. #15
    Biển số
    OF-31451
    Mua xe ngày
    16-03-2009
    Thường ở
    Cánh gà Nhà Hát lớn - Thành phố Hoa phượng đỏ
    Số km
    549
    Động cơ OF
    1650369 mã lực

    Mặc định

    HỨc, hnay rảnh rỗi ở cty chả có việc gì, e ngồi mới đọc hết trang 1 thôi ạ. Tuyệt vời quá!
    LIFE - is to GIVE and to TAKE

  6. #16
    Biển số
    OF-102288
    Mua xe ngày
    18-06-2011
    Số km
    626
    Động cơ OF
    10737438 mã lực

    Mặc định

    eM ĐỌC MỘT LÈO HAY QUÁ RẤT THẬT RẤT ĐỜI , CHỈ TIẾC TÁC GIẢ CHƯA BẮN RỢI CHIẾC B52 NÀO
    CHUYÊN BÁN CÁC LOẠI ẮC QUY OTO, KÍCH ĐIỆN SIN CHUẨN VÀ MÔ PHỎNG SIN ĐT 0904339870

  7. #17
    Biển số
    OF-569
    Mua xe ngày
    01-07-2006
    Số km
    3,100
    Động cơ OF
    10737508 mã lực

    Mặc định

    Quá hay, đúng chỗ ngứa của em, em đọc 1 lèo từ tối tới giờ
    Cảm ơn bác chủ, em lượn sang bên kia xem đây

  8. #18
    Biển số
    OF-124420
    Mua xe ngày
    16-12-2011
    Số km
    362
    Động cơ OF
    1233382 mã lực

    Mặc định

    Đọc hay quá , em mò sang cả quân sự đọc he he

  9. #19
    Biển số
    OF-2235
    Mua xe ngày
    02-11-2006
    Số km
    27
    Động cơ OF
    0 mã lực

    Mặc định

    Hay quá. Em hồi còn bé ở chung với các chú phi công này, nhất là thời 1972 chỉ huy sở KQ đóng ở chỗ chùa Trăm gian. Chỉ nhớ là được ăn ngon và uống cà phê sữa theo tiêu chuẩn phi công, còn chuyện trận mạc của các chú thì chả biết gì, chỉ nhớ có nhiều chú hy sinh, bữa cơm cứ vắng dần
    [FONT="Times New Roman"][COLOR="Red"]DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN [/COLOR][/FONT]

  10. #20
    Biển số
    OF-50696
    Mua xe ngày
    11-11-2009
    Số km
    513
    Động cơ OF
    4388301 mã lực

    Mặc định

    Đọc đoạn những bà mẹ Nga nói chuyện & khóc cảm động thật. Đúng là một thế hệ Anh hùng
    Cụ Chưa đăng ký cần tư vấn Thiết kế Thương hiệu, Thiết kế Website, Phát triển thương thiệu bằng Social Media, Google Adwords, Facebook
    Alo em 0946 591 168 nhá

+ Trả lời
Trang 2 / 21 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 5 6 12 ... CuốiCuối

Thông tin Thớt

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 cụ cũng đang nghía cái thớt này. (0 lái chính và 1 lái phụ)

     

Quyền của bác

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file trong bài viết
  • Bác không được sửa bài