MÙA MƯA SAU CUỘC CHIẾN
CHƯƠNG I - CHIẾC HỘP TRÊN GÁC MÁI
Cha Vân mất vào một chiều mưa tháng Bảy. Mưa năm nào cũng đúng hẹn, đổ xuống mái tôn một thứ âm thanh vừa gấp gáp vừa buồn bã, như thể trời biết trong nhà có chuyện mà cũng không giúp được gì ngoài việc khóc cùng những người ở lại.
Sau đám tang, họ hàng lần lượt về. Căn nhà trở nên rộng hơn hoặc có lẽ vì người ngồi chiếc ghế mây trên hiên nhà không còn nữa nên khoảng trống trong nhà bỗng phình to ra. Mẹ bảo Vân dọn căn gác mái nhưng cô cứ ngập ngừng. Đó là khoảng không gian riêng của cha cô, một con người ít nói nhưng lần nào đi chợ về cũng dành cho cô khi thì trái xoài, khi thì viên kẹo ngon nhất.
Vài tháng sau, vào một chiều mưa khác, nhớ lời mẹ dặn, cô bước lên căn gác mái. Mùi gỗ cũ, bụi giấy và thời gian bị nhốt kín lâu năm phả vào mặt. Những thứ như vô nghĩa mà gia đình nào cũng cất, từ chiếc vali sứt khóa hay thậm chí là mấy cuốn lịch cũ cũng không ai nỡ vứt bỏ. Vô tình chạm tay vào chiếc quạt hỏng cạnh đó, cô bần thần nhớ tới lần ba đã thức cả đêm với chiếc quạt nan quạt mát cho cô.
Vân định bắt đầu bằng chiếc rương mây trên giá sách thì ánh mắt bị thu hút bởi một hộp gỗ nhỏ màu nâu sẫm nằm sâu trong góc bàn làm việc, chiếc khóa đồng đã xanh rêu, không giống một chút nào với đồ của mẹ.
Lấy khăn lau mặt khóa, hoá ra chỉ là cái móc gài rỉ sét. Trong hộp có vài lá thư. Một cuốn nhật ký nhằng nhịt những nét chữ ghi vội bằng đủ loại màu mực. Một chiếc đồng hồ dừng ở 4 giờ 27, mấy tấm ảnh đen trắng và một phù hiệu cùng tấm bản đồ đã ố vàng gấp làm tám. Tất cả đều mang cái vẻ im lặng của những thứ đã chờ đợi quá lâu.
Cô cầm lên phong thư nằm trên cùng còn dính vết bùn khô, phong bì không đề tên người nhận. Bên trong là trang giấy học trò xé từ cuốn tập, chữ viết nghiêng và cứng, cô đọc.
“Lan, nếu em nhận được thư này thì có lẽ anh đã không về kịp. Nếu em không nhận được, thì cũng tốt. Chỉ xin em nhớ một điều, rằng anh chưa từng căm ghét ai trong cuộc chiến này. Anh chỉ là một người lính và phải làm công việc của một người lính. Người ta đẩy bọn anh ra chiến trường và buộc phải bắn vào những người ở bên kia chiến tuyến trước khi kịp hiểu được họ thực sự là ai.
M.”
Mở cuốn sổ dưới đó, cô lướt nhanh tới trang cuối.
Ngày 02/05/1975 thành phố chìm trong im lặng lạ thường. Người ta vội bước qua nhau mà nhìn xuống chân. Tôi chôn khẩu súng bên gốc khế sau vườn. Đất mềm, đào không khó nhưng khó nhất là chôn đi phần đời đã sống cùng tôi.
M.”
Hay ở một trang ngẫu nhiên trước đó:
Tôi gặp một người lính phía bên kia chiến tuyến, bị thương nên không thể rút theo cùng đồng đội. Tôi không chắc cậu có thể sống tiếp trong khi chờ được cứu nhưng vẫn để lại một bình nước và chút lương khô cuối cùng. Thật tiếc, cậu ấy còn rất trẻ, gầy rộc và xanh xao nhưng đôi mắt sáng như chưa từng dối trá. M.
Cứ như thế, Vân ngồi đọc suốt đêm, hết từ những trang thư mỏng manh này cho tới cuốn nhật ký dày cộp ấy. Từng trang giấy mở ra một thế giới mà suốt đời cha chưa từng nhắc tới. Trong thế giới đó có một người tên M, có mẹ cô thời trẻ tên Lan, có thành phố sau tháng Tư, có khẩu súng chôn bên cây khế và có một người lính trẻ phía bên kia…
Bỗng nhiên, cô nhận ra một điều kỳ lạ, mẹ chưa từng nhắc tới người tên M nhưng lại giữ những lá thư này suốt bấy nhiêu năm, liệu có phải vì mẹ thực sự không biết phải nhớ thế nào chăng?
Cô lục xuống đáy hộp. Dưới cùng là một tấm ảnh đen trắng nhỏ bằng bàn tay. Một cô gái trẻ trong tà áo dài thêu hoa, cười rất nhẹ. Không ai khác đó chính là mẹ mình, cạnh bà là một người đàn ông cường tráng trong bộ quân phục VNCH, tay đặt lên vai đứa bé chừng hai tuổi, đứa bé ấy chính là cô!
Mặt sau bức ảnh, là dòng chữ màu tím nghiêng nghiêng mực đã nhoè theo năm tháng: Lan – Minh, mùa hè 1974.
Vân chết lặng.
Trong một thoáng, tiếng mưa như tắt hẳn.
Cô ngồi thụp xuống sàn.
Rồi bất giác, cô đứng phắt dậy mà chẳng hề biết mình đã ngồi xuống được bao lâu, cô chạy như bay xuống bếp: “M chính là cha con có phải không má?” Cô hỏi.
“Phải!” mẹ cô bình thản trả lời, như đã chuẩn bị cho câu hỏi này từ lâu lắm rồi.
“Vậy sao cả má và ba đều chưa bao giờ nhắc tới việc này?”
“Vì người chết người ta hay nhắc nhớ chứ người sống thì có mấy người hỏi tới đâu con?”
Vân nhìn ra sân, cây khế rung lên theo từng cơn gió. Cô chợt hiểu rằng cuộc chiến đã qua đi rất lâu mà tàn tro còn vương vấn ngay trong từng mái nhà, ngõ xóm!
---
29/04/2026
-AP-
Chương II - NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ
to be continue...
CHƯƠNG I - CHIẾC HỘP TRÊN GÁC MÁI
Cha Vân mất vào một chiều mưa tháng Bảy. Mưa năm nào cũng đúng hẹn, đổ xuống mái tôn một thứ âm thanh vừa gấp gáp vừa buồn bã, như thể trời biết trong nhà có chuyện mà cũng không giúp được gì ngoài việc khóc cùng những người ở lại.
Sau đám tang, họ hàng lần lượt về. Căn nhà trở nên rộng hơn hoặc có lẽ vì người ngồi chiếc ghế mây trên hiên nhà không còn nữa nên khoảng trống trong nhà bỗng phình to ra. Mẹ bảo Vân dọn căn gác mái nhưng cô cứ ngập ngừng. Đó là khoảng không gian riêng của cha cô, một con người ít nói nhưng lần nào đi chợ về cũng dành cho cô khi thì trái xoài, khi thì viên kẹo ngon nhất.
Vài tháng sau, vào một chiều mưa khác, nhớ lời mẹ dặn, cô bước lên căn gác mái. Mùi gỗ cũ, bụi giấy và thời gian bị nhốt kín lâu năm phả vào mặt. Những thứ như vô nghĩa mà gia đình nào cũng cất, từ chiếc vali sứt khóa hay thậm chí là mấy cuốn lịch cũ cũng không ai nỡ vứt bỏ. Vô tình chạm tay vào chiếc quạt hỏng cạnh đó, cô bần thần nhớ tới lần ba đã thức cả đêm với chiếc quạt nan quạt mát cho cô.
Vân định bắt đầu bằng chiếc rương mây trên giá sách thì ánh mắt bị thu hút bởi một hộp gỗ nhỏ màu nâu sẫm nằm sâu trong góc bàn làm việc, chiếc khóa đồng đã xanh rêu, không giống một chút nào với đồ của mẹ.
Lấy khăn lau mặt khóa, hoá ra chỉ là cái móc gài rỉ sét. Trong hộp có vài lá thư. Một cuốn nhật ký nhằng nhịt những nét chữ ghi vội bằng đủ loại màu mực. Một chiếc đồng hồ dừng ở 4 giờ 27, mấy tấm ảnh đen trắng và một phù hiệu cùng tấm bản đồ đã ố vàng gấp làm tám. Tất cả đều mang cái vẻ im lặng của những thứ đã chờ đợi quá lâu.
Cô cầm lên phong thư nằm trên cùng còn dính vết bùn khô, phong bì không đề tên người nhận. Bên trong là trang giấy học trò xé từ cuốn tập, chữ viết nghiêng và cứng, cô đọc.
“Lan, nếu em nhận được thư này thì có lẽ anh đã không về kịp. Nếu em không nhận được, thì cũng tốt. Chỉ xin em nhớ một điều, rằng anh chưa từng căm ghét ai trong cuộc chiến này. Anh chỉ là một người lính và phải làm công việc của một người lính. Người ta đẩy bọn anh ra chiến trường và buộc phải bắn vào những người ở bên kia chiến tuyến trước khi kịp hiểu được họ thực sự là ai.
M.”
Mở cuốn sổ dưới đó, cô lướt nhanh tới trang cuối.
Ngày 02/05/1975 thành phố chìm trong im lặng lạ thường. Người ta vội bước qua nhau mà nhìn xuống chân. Tôi chôn khẩu súng bên gốc khế sau vườn. Đất mềm, đào không khó nhưng khó nhất là chôn đi phần đời đã sống cùng tôi.
M.”
Hay ở một trang ngẫu nhiên trước đó:
Tôi gặp một người lính phía bên kia chiến tuyến, bị thương nên không thể rút theo cùng đồng đội. Tôi không chắc cậu có thể sống tiếp trong khi chờ được cứu nhưng vẫn để lại một bình nước và chút lương khô cuối cùng. Thật tiếc, cậu ấy còn rất trẻ, gầy rộc và xanh xao nhưng đôi mắt sáng như chưa từng dối trá. M.
Cứ như thế, Vân ngồi đọc suốt đêm, hết từ những trang thư mỏng manh này cho tới cuốn nhật ký dày cộp ấy. Từng trang giấy mở ra một thế giới mà suốt đời cha chưa từng nhắc tới. Trong thế giới đó có một người tên M, có mẹ cô thời trẻ tên Lan, có thành phố sau tháng Tư, có khẩu súng chôn bên cây khế và có một người lính trẻ phía bên kia…
Bỗng nhiên, cô nhận ra một điều kỳ lạ, mẹ chưa từng nhắc tới người tên M nhưng lại giữ những lá thư này suốt bấy nhiêu năm, liệu có phải vì mẹ thực sự không biết phải nhớ thế nào chăng?
Cô lục xuống đáy hộp. Dưới cùng là một tấm ảnh đen trắng nhỏ bằng bàn tay. Một cô gái trẻ trong tà áo dài thêu hoa, cười rất nhẹ. Không ai khác đó chính là mẹ mình, cạnh bà là một người đàn ông cường tráng trong bộ quân phục VNCH, tay đặt lên vai đứa bé chừng hai tuổi, đứa bé ấy chính là cô!
Mặt sau bức ảnh, là dòng chữ màu tím nghiêng nghiêng mực đã nhoè theo năm tháng: Lan – Minh, mùa hè 1974.
Vân chết lặng.
Trong một thoáng, tiếng mưa như tắt hẳn.
Cô ngồi thụp xuống sàn.
Rồi bất giác, cô đứng phắt dậy mà chẳng hề biết mình đã ngồi xuống được bao lâu, cô chạy như bay xuống bếp: “M chính là cha con có phải không má?” Cô hỏi.
“Phải!” mẹ cô bình thản trả lời, như đã chuẩn bị cho câu hỏi này từ lâu lắm rồi.
“Vậy sao cả má và ba đều chưa bao giờ nhắc tới việc này?”
“Vì người chết người ta hay nhắc nhớ chứ người sống thì có mấy người hỏi tới đâu con?”
Vân nhìn ra sân, cây khế rung lên theo từng cơn gió. Cô chợt hiểu rằng cuộc chiến đã qua đi rất lâu mà tàn tro còn vương vấn ngay trong từng mái nhà, ngõ xóm!
---
29/04/2026
-AP-
Chương II - NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ
to be continue...