[Funland] Những bức ảnh đẹp về Xứ Đông Dương thuộc Pháp 100 năm trước nào...!

Thảo luận trong 'CLB Nhiếp ảnh OF (Ô Phở)' bắt đầu bởi Nam Kỳ thuộc Pháp, 3/7/18.

  1. 10/9/18 lúc 23:52 #421
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
  2. 13/9/18 lúc 20:28 #422
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    Hà Nội 1880 - 1884


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]

    Hà Nội 1880 - 1884
     
  3. 13/9/18 lúc 20:45 #423
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]

    Lính Pháp năm 1884
     
  4. 13/9/18 lúc 20:49 #424
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]



    [​IMG]


    [​IMG]



    [​IMG]

    Tiếng Pháp gọi chùa Báo Ân là Pagode de Supplices (nghĩa là chùa Khổ Hình)
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/9/18 lúc 21:18
  5. 13/9/18 lúc 21:18 #425
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]

    Một vài hình ảnh về Hà Nội giai đoạn 1884 - 1888
     
  6. 13/9/18 lúc 23:04 #426
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    Ấn kiếm: Hai bảo vật triều Nguyễn từng được tìm thấy ở làng Nghĩa Đô Hà Nội
    8:18 20/08/2018



    Cựu Hoàng đế Bảo Đại tự nguyện thoái vị và trao lại ấn kiếm cho Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà[1]chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945. Tuy nhiên sau đó, hai bảo vật này bị lưu lạc và cho đến nay chúng ở đâu vẫn là câu hỏi được nhiều người đặt ra.

    Thông tin về việc “ấn kiếm” triều Nguyễn được tìm thấy tại làng Nghĩa Đô chỉ là nhưng câu chuyện kể. Thực tế, hai bảo vật này từng được tìm thấy như thế nào? Câu hỏi này được giải đáp khi chúng tôi tìm được các tài liệu là báo cáo, biên bản, công điện và công văn trao đổi về việc “bảo vật” của triều Nguyễn được phát hiện tại làng Nghĩa Đô, Hà Nội trong giai đoạn Hà Nội bị tạm chiếm trong quá trình nghiên cứu tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

    Thông tin chúng tôi tìm được trong tài liệu lưu trữ về việc tìm thấy ấn kiếm tại xã Nghĩa Đô, quận hành chính Quảng Bá – Yên Thái năm 1952 (7 năm sau khi, Cựu Hoàng đế Bảo Đại tự nguyện thoái vị và trao lại ấn kiếm cho Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà[2])như sau:

    Báo cáo ngày 28/2/1952của Quận trưởng quận hành chính Quảng Bá – Yên Thái gửi Đại lý Hành chính Hoàn Long, trong hồ sơ số 16 phông Văn phòng Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam tại Đà Lạt có ghi:

    Trân trọng trình ông rõ: hồi quá trưa ngày 28 tháng 2 năm 1952 hôm nay, được tin mật báo là bọn công nhân của tiểu đoàn nhảy dù 2è BBC đóng tại Liễu Giai đi tìm gạch vỡ tại một ngôi nhà tàn phá trong Nghĩa Đô, tìm kiếm đào chân móng đã thấy một ống kẽm và một hộp kẽm trong đựng một thanh kiếm và một của ấn vàng. Tôi thân đến liên lạc với vị chỉ huy là thiếu tá Toce Raymond thì vị võ quan này nói là cũng sắp báo tôi biết về việc đó.

    Tôi xét hai bảo vật này thì là:

    • Một Thanh kiếm vỏ bằng vàng trạm [chạm] chuôi bằng ngọc thạch có khắc hai giòng [dòng] chữ “Khải Định niên chế” (Chế vào thời Khải Định) và “Trọng kim tứ lạng thập thất phân” (Nghĩa là: kiếm nặng 4 lượng 17 phân)
    • Một quả ấn bằng vàng nuột [vàng ròng], tay nạm là một con rồng, trong có khắc 4 chữ “Hoàng đế chi bảo” và phía trên có hai giòng [dòng] chữ nho [tiếng Hán] “Minh Mệnh tứ niên nhị nguyệt sơ tứ nhật cát thời chú tạo” (Nghĩa là: ấn được đúc vào ngày 4 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 4) và “Thập thành hoàng kim trọng nhị bách bát thập lạng cửu tiền nhị phân” nghĩa là: trọng lượng 280 lạng[3], 9 tiền, 2 phân.
    Nhận hai vật này là Hoàng triều Quốc bảo mà hiện đã vào tay vị chỉ huy tiểu đoàn Pháp, không tiện lấy về trình ông kính đệ Phủ Thủ Hiến, tôi đã lập biên bản giao cho Thiếu tá Toce để nhờ chuyển lên chính phủ…”[4]

    Thông tin trên trùng khớp với nội dung trong biên bản về việc phát hiện ấn kiếm tại làng Nghĩa Đô lập hồi 16h ngày 28 tháng 2 năm 1952[5] trong hồ sơ số 3262, phông Văn phòng Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam. Theo Biên bản: Bảo kiếm bằng vàng, chuôi kiếm nạm ngọc có khắc chữ Hán 啟定年製và 重金四兩七十五分(nghĩa là:kiếm được làm vào thời Khải Định, vàng ròng nặng 4 lạng 75 phân). Quốc ấn hình vuông bằng vàng nguyên khối phía trên có tay cầm hình rồng và khắc chữ 皇帝之寶(Hoàng đế chi bảo),明命四年二月初四日吉時鑄造nghĩa là: đúc vào giờ tốt ngày 4 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 4 [tức ngày 17/3/1823],và 拾成黃金重貳百捌拾兩玖錢貳分(nghĩa là:vàng mười nặng 280 lạng 9 tiền 2 phân).

    [​IMG]

    Theo Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, ấn “Hoàng đế chi bảo” dùng để đóng lên “các bản cáo dụ cho thân huân và các quan to trong to trong ngoài” (Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, tập VIII, quyển 225).

    [​IMG]

    Hình dấu Hoàng đế chi bảo

    Về nơi tìm thấy bảo vật, thông tin trong Báo cáo ngày 28/2/1952 có ghi: “…nơi tìm thấy quốc bảo là chân móng ngôi nhà bị tàn phá hết cả tường của Hà Văn Dô [Hà Văn Đô- Hà Đô]tậu tại làng Nghĩa Đô, mà Đô hiện nay còn ở Hậu phương, có lẽ là một nhân viên quan trọng của Việt Minh … bộ đội Việt Minh có đóng ở nhà đó ít lâu, rồi sau quân đội Pháp tấn công, họ rút lui. Có lẽ ấn và kiếm này là Bảo vật trong khi Đức quốc trưởng Bảo Đại thoái vị đã trao cho Việt Minh mà đến khi họ rút lui khỏi làng Nghĩa Đô đêm chôn dấu vào móng tường nhà này“.

    Thêm nữa, trong Báo cáo mật ngày 19 tháng 4 năm 1952 của Văn phòng Phủ Thủ Hiến Bắc Việt về việc này có các thông tin sau:

    Căn nhà nơi tìm thấy ấn kiếm tại làng Nghĩa Đô ban đầu là của Bá Sinh, một chủ sòng bạc nổi tiếng thời đó tại Hà Nội. Sau đó, Bá Sinh bán có hãng Phú Mỹ rồi sau bán cho Vũ Văn Hợi. Cuối cùng, căn nhà được bán cho Hà Đô, người làm nghề sửa ô tô ở phố Hàng Đậu. Hà Đô từ khi tậu căn nhà này có nhiều hoạt động bí ẩn và hàng xóm hoàn toàn không biết ông ấy làm gì. Ông đi một chiếc xe tải phủ bạt khi về nhà. Chính tại căn nhà của Hà Đô Bộ Tài chính của Chính phủ Hồ Chí Minh đã chuyển thiết bị in tiền sau khi quân đội Pháp đến Hà Nội năm 1946. Căn nhà bị chính quyền quân sự Pháp phá huỷ năm 1947. Chính quyền quận sự Pháp đã thu được một số lượng nhỏ vàng và một số máy in[6].

    Báo cáo còn cho rằng: “Hà Đô là em rể của Đặng Xuân Khu [Cố TBT Trường Chinh] và Đặng Xuân Thiều [nhà thơ cách mạng]. Ông Khu hoặc ông Thiều đã mang những bảo vật này về dấu tại nhà của ông Hà Đô… Hà Đô hình như đã tự sát vì lí do gia đình ở vùng không bị kiểm soát [vùng tự do].

    Sự kiện tổ chức trao lại ấn kiếm cho cựu hoàng Bảo Đại được chính quyền ấn định ngày [8/3/1952] và thông báo cho cựu hoàng Bảo Đại theo thông tin trong công điện ngày 7 tháng 3 năm 1952[7]. Lễ trao lại ấn kiếm được diễn ra tại Hà Nội, tuy nhiên Bảo Đại không có mặt trong lễ trao nhận ấn kiếm này [thời điểm này cựu hoàng Bảo Đại không có ở Hà Nội]. Theo Công điện số 1087/CAB/TX ngày 5 tháng 3 năm 1952, Cựu hoàng Bảo Đại giao nhiệm vụ cho Đặc uỷ viên Văn phòng Quốc trưởng tại Hà Nội Lê Thanh Cảnh tiếp nhận 2 bảo vật này.

    Qua các thông tin trên, có thể thấy 2 bảo vật trên đã từng lưu lạc và được chôn giấu tại Nghĩa Đô và được người Pháp tìm được và tổ chức trao lại cho cựu hoàng Bảo Đại. Đây là hành động mang chủ ý chính trị, nhằm tạo cớ để lập chính phủ quốc gia do Bảo Đại đứng đầu.

    Cũng liên quan đến việc này, các cá nhân có liên quan đã được Thủ hiến Bắc Việt thưởng tiền và làng Nghĩa Đô được đổi tên thành làng Hoàn Ấn. Theo Báo cáo của Thủ hiến Bắc Việt gửi Đổng lí Văn phòng Quốc trưởng ngày 19 tháng 4 năm 1952[8] về việc tìm thấy ấn kiếm tại làng Nghĩa Đô: “…Viên lính tên là Marius Caroul và 2 tù nhân Bùi Văn Mạch (số tù 29.956) Đồng Xuân Phái (số tù 29.924) đã phát hiện ấn kiếm khi phá móng nhà của Hà Đô. Thủ hiến Bắc Việt Đinh Xuân Quang đã trao cho Marius Caroul khoản tiền 10.000 đồng, sẽ tặng 3.000 đồng cho lính Pháp bị thương đóng tại Nghĩa Đô và Liễu Giai và thưởng cho người báo tin cho Quận trưởng quận Quảng Bá-Yên Thái 5.000 đồng. Hai tù nhân Mạch và Phái chưa nhận khoản tiền thưởng nào và theo đề nghị của Quận trưởng, Thủ hiến đồng ý thưởng ngay cho mỗi người 1.000 đồng…”

    Bên cạnh đó, để kỉ niệm sự kiện tìm lại được bảo vật hoàng triều tại làng Nghĩa Đô, khoảng 700 người dân làng Nghĩa Đô đồng tình kí vào bản kiến nghị trình Quốc trưởng đề nghị đổi tên làng Nghĩa Đô thành làng Hoàn Ấn[9]. Tên làng Hoàn Ấn xuất hiện từ ngày 20 tháng 6 năm 1952[10]thay thế cho làng Nghĩa Đô.

    Hiện nay, có nhiều thông tin khác nhau về 2 bảo vật này trong lịch sử. Tuy nhiên, qua những tài liệu lưu trữ trên chúng ta có thể thấy, ấn kiếm đã được chôn giấu tại làng Nghĩa Đô và do hoàn cảnh chiến tranh, khi quân đội Pháp tái chiếm Hà Nội 2 bảo vật này được tìm thấy vào trao lại cho cựu hoàng Bảo Đại. Cho đến nay, hai bảo vật này còn mất hay đang lưu lạc ở đâu vẫn là câu hỏi được nhiều người quan tâm.



    [1] DƯƠNG TRUNG QUỐC, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919-1945), NXB Giáo dục, H. 2003

    [2] DƯƠNG TRUNG QUỐC, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919-1945), NXB Giáo dục, H. 2003

    [3] 280 lạng tương đương 10,5 kg

    [4] Báo cáo của Quận trưởng quận hành chính Quảng Bá – Yên Thái gửi Đại lý Hành chính Hoàn Long ngày 28/2/1952, CCEVN-16

    [5] Biên bản ngày 28 tháng 2 năm 1952, CCEVN – 3262

    [6] Báo cáo mật ngày 19 tháng 4 năm 1952 của Văn phòng Phủ Thủ Hiến Bắc Việt, CCEVN – 3262

    [7] Công điện ngày 7/3/1952. CCEVN-16

    [8] CCEVN – 3262

    [9] CCEVN-16

    [10] Công văn số 8175/DQT/VVP/3 ngày 20 tháng 6 năm 1952 của Khâm mạng tại các vùng cao nguyên miền Bắc và miền Nam thuộc Hoàng triều Cương thổ gửi ********* Chính phủ, Tổng trưởng Nội vụ. CCEVN-16

    Đỗ Hoàng Anh

    Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
     
  7. 13/9/18 lúc 23:09 #427
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
  8. 14/9/18 lúc 20:10 #428
    0962632016
    0962632016 Xe hơi
    Biển số:
    OF-589155
    Ngày cấp bằng:
    8/9/18
    Số km:
    101
    Động cơ OF:
    7 mã lực
    Mã lực:
    7
    Kiến trúc pháp vẫn cổ kính, đẹp
     
  9. 14/9/18 lúc 20:23 #429
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    Tấm ảnh rõ ràng nhất chụp chùa Báo Ân trước khi bị Pháp phá
    https://picclick.fr/Vietnam-Hanoï-la-Pagode-des-supplices-372259075946.html#&gid=1&pid=1

    [​IMG]


    [​IMG]

    Bốn chữ trên bảng là "Phương Tiện Pháp Môn" (方便法门), chữ Nho ngày xưa viết ngược từ phải qua trái.

    1. Bốn chữ này theo tôi biết thì trích từ Kinh Pháp Hoa nhà Phật, ý nói "Cách dễ dàng để đạt được Phật pháp".

    Nếu là đề tên cổng thì có nghĩa quảng cáo "Đây là cánh cổng mà bước vào thì dễ dàng đạt pháp".

    2. "Phương Tiện Pháp Môn" còn có nghĩa thứ hai là "Các thức dễ dàng để đạt mục đích". Một ví dụ hơi bậy là thế này: Lúc trẻ các cụ chưa vợ có nhu cầu giải tỏa. Có 3 cách: a/ Quay tay, b/ Ra Trần Duy Hưng và c/ Ấn độ. Trong 3 cách thì cách a/ QUay tay là dễ, an toàn và ít tốn kém nhất. Thế thì quay tay chính là Phương tiện pháp môn để đạt giải tỏa.


    [​IMG]

    Sơ đồ mô tả chùa Báo Ân
    [​IMG]
    Tháp Hòa Phong phía trước cổng Tam Quan của chùa Báo Ân

    [​IMG]
    cổng Tam Quan của chùa Báo Ân nhìn từ trên cao, phía xa là Hồ Gươm
    Đi tìm dấu tích chùa Quan Thượng
    Vietsciences-Nguyễn Thị Chân Quỳnh 17/11/2005




    Tuy sinh trưởng ở Hà-nội, nhà cách hồ Hoàn Kiếm không xa, nhưng tôi chỉ mới biết đến tên chùa Quan Thượng từ khi bắt đầu sưu tầm tài liệu về Hà-nội xưa, nghĩa là cách đây không bao lâu, bởi lẽ giản dị là chùa đã bị phá hủy từ trước khi bố mẹ tôi ra đời!

    I. Chùa Quan Thượng theo sách sử Việt Nam.
    Những chi tiết về chùa mà tôi thu nhặt được từ sách sử của ta không có bao nhiêu, gom góp chỉ độ một trang đánh máy là nhiều:

    1. Tên chùa.
    Chùa mang rất nhiều tên: ngoài tên tục là chùa Quan Thượng (do tổng-đốc Hà-nội, Nguyễn Đăng Giai, hàm Thượng-thư, đứng ra quyên tiền xây chùa nên gọi là chùa Quan Thượng) còn tên chữ là Liên trì, Vũ Ngọc Phan gọi là chùa Cửu Tỉnh (2), Chu Thiên bảo là Sùng Hưng Tự (3), lại còn có tên là chùa Báo Ân (không nên nhầm với tháp Báo Thiên của chùa Sùng Khánh, cũng ở ven hồ Hoàn-kiếm nhưng phía tây và được xây cất từ thời nhà Lý, sau này bị tổng-đốc Hà-nội, Nguyễn Hữu Độ đem hiến cho giám mục Puginier phá đi lấy chỗ xây nhà thờ lớn Hà-nội (4). Đấy là chưa kể tên do người Pháp đặt: Pagode des Supplices (chùa Thụ hình).

    2. Thời điểm xây chùa.
    Kiều Thu Hoạch (5) cho biết chùa bắt đầu kiến tạo từ 1842, bốn năm thì xong. Chu Thiên nói khởi công năm 1843, trong khi Masson và Claude Bourrin lại viết xây từ 1841, đến 1847 thì hoàn tất (6).

    Chu Thiên nói thời Pháp sang chiếm đóng chùa, không ai được vào xem, "chùa cũng hóa ra trại lính". Đúng ra, khoảng 1884, tất cả những ngôi chùa xung quanh hồ đều bị quân đội hoặc các cơ quan hành chính của quân đội Pháp chiếm cứ, chùa Quan Thượng bị Service de la Sous-Intendance du corps expéditionnaire (Phó Quân nhu cục) của Pháp "sung công". Năm 1889, chùa bị Pháp phá hủy (7).

    3. Địa điểm.
    Vẫn theo Chu Thiên, địa điểm của chùa hiện nay (8) ở khu vực phố Đinh Lê, bộ Nội vụ, nhà Khách của Nhà nước, sở Bưu điện và Trụ sở Ắy ban quốc tế. Tháp Hòa phong, hiện vẫn còn, thuộc cổng ngoài của chùa, thì ở gần chợ hàng hoa và ngã tư Tràng Tiền.

    Đại Nam Nhất Thống Chí (9) chép chùa tọa lạc ở thôn Cựu-lâu, huyeän Thọ-xương, trên nền cũ lầu Ngũ-Long (10). Chu Thiên viết rõ hơn về gốc tích của chùa: "... Ngũ Long Lâu, lầu son gác tía nguy nga, làm chồng lên mấy tầng, ở ngoài có trường súng, có xưởng thuyền ; đến cuối Lê, Tây-sơn ra phù Lê diệt Trịnh, rồi Trịnh bị Lê trả thù, hai bên đánh nhau đốt đi đốt lại mấy lần, sạch trơn

    [​IMG]

    cả, dân cư kéo đến ở thành làng. Vì thế bản Triều (Nguyễn) mới đặt tên là làng Cựu lâu. Ở chỗ nền chùa bây giờ, khi ấy còn trơ lại ba khẩu súng thần công lớn, bằng gang, nòng ba tấc, dài năm thước, được phong là Điện Xiết tướng quân, Lôi Chấn tướng quân và Phi Đằng tướng

    quân. Đời Gia Long, các quan Bắc thành cho lính di chuyển đem vào thành, không tài nào lay nhổ lên được. Quan Đề đốc hộ thành phải cho sửa lễ cầu khẩn thần, lễ xong thì chuyển súng đi được ngay. Dân xóm chung quanh thấy linh ứng liền lập miếu đền thờ. Đến đời Minh Mạng, người ta làm ngôi đền ngói và xin phong sắc để phụng sự. Sang đầu đời Thiệu Trị, Quan Thượng Giai

    xét lại, không cho, bắt hủy đi và thân đứng ra làm ở trên chỗ nền ấy ngôi chùa nguy nga, đồ sộ, kiến trúc tinh xảo (...) công phu, tổn phí mất nhiều tiền của thập phương. Chính Quan Thượng đặt tên cho chùa là Sùng Hưng Tự, tức là chuộng sự hưng thịnh" (11).


    4. Chùa Quan Thượng.
    [​IMG]

    Chùa rộng 150 gian, tám mặt đào cừ thả sen, được kể là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng ở ven hồ Hoàn Kiếm, song đẹp ở chỗ nào thì không thấy ai nói rõ. Ngay cả Trương Vĩnh Ký đã từng đi vãn cảnh chùa năm 1876 và tả chùa tương đối tỉ mỉ so với sách sử của ta, nhưng người đọc vẫn không sao hình dung ra được cái "kiểng rất xinh" ấy, "xinh" ở chỗ nào?

    "Vô cửa hai bên có tháp cao. Trong có hồ đi quanh co vòng theo chùa, lại ăn lọt dưới chùa nữa, hai bên mép xây đá cả. Cầu bắc tứ phía qua chùa cũng xây đá gạch hết. Xung quanh bốn phía có hành lang chạy dài giáp nhau.

    Trong chùa đằng trước để tượng Phật đứng bàn cả đám, hình lớn to, quang thếp cả. Hai bên sau có động và tháp điện, đều bọng hình nổi ra hết. Đằng sau đền, có tạc hình cốt ông Nguyễn Đăng Giai.

    Phải chi nhà nước lo tu bổ, giữ gìn thì ra một kiểng rất xinh, rất đẹp. Mà nay thầy chùa, thầy sãi ở đó, dỡ ngói, cậy gạch bán lấy đi mà ăn nên hư tệ uổng quá" (12).

    5. Quan Thượng.
    Không ai biết chùa đẹp ở chỗ nào song hễ nói đến chùa thì tất cả đều không quên nhắc đến bốn câu tứ tuyệt ngụ ý châm biếm Quan Thượng:

    Phúc đức gì mày bố đĩ Giai?

    Làm cho tổn Bắc lại hao Đoài!

    Kìa gương Vũ đế còn soi đó,

    Ngã tử Đài thành, Phật cứu ai?
    (13)

    Đọc thơ ta có cảm tưởng Nguyễn Đăng Giai là một ông quan đáng chê cười: đã mê tín lại keo kiệt, muốn xây chùa để làm công quả nhưng bắt dân đen đóng góp. Tuy nhiên nếu ta giở Đại Nam Thực Lục hay Đại Nam Liệt Truyện ra thì lại gặp một Nguyễn Đăng Giai khác:

    Nguyễn Đăng Giai, người huyện Lệ-thủy, Quảng bình, đỗ Hương tiến (Cử nhân) năm 1825, làm quan từng giữ những chức Tổng-đốc, Thượng-thư, Hiệp biện Đại học sĩ, Kinh lược sứ Bắc kỳ, từng đi chấm thi, đi sứ ngà Thanh cầu phong cho vua Tự Đức... Được Minh-Mệnh coi là người có kiến thức, những điều Nguyễn Đăng Giai trình bày đều thiết thực và phần nhiều được vua cho thi hành như: gặp năm đói kém xin đặt ra sở Dưỡng tế, xin ban thóc kho, hoãn thu thuế, tha khoản trốn thiếu, xin mở đường cảng, đào đá núi lấy tiền trả công thay cho tiền phát chẩn. Lại đào sông đắp đê, đúc tiền, sửa hình luật, vun trồng phong hóa. Việc biên phòng xin tuyển lính, luyện tập, đặt đồn, miễn thuế các châu huyện bị giặc cướp. Đi sứ không làm nhục quốc thể...

    Làm quan trên 20 năm, trải ba đời vua (Minh-Mệnh, Thiệu-Trị, Tự-Đức) ra công đánh dẹp, trị an, bầy nhiều mưu kế sáng suốt được thưởng nhiều kim tiền, kim khánh, vua ban sâm quế, thuốc ngự dụng khi ốm đau... Mất năm 1854, được thăng hàm Thiếu-bảo.

    Liệt truyện tóm lược đời ông trong bốn chữ "công nghiệp rực rỡ" nhưng lại hạ một câu: "Tiếc vì chuộng đạo Thích, dựng chùa thờ Phật luôn mê hoặc người, phí của thực nhiều, chưa khỏi làm lụy cho thịnh đức" (14). Đây là những lời phê phán thiếu khách quan của nhà Nho hẹp bụng chỉ cho phép người ta tôn sùng đạo Nho mà thôi. Nguyễn Đăng Giai quả có ngưỡng mộ đạo Phật, ngoài việc hưng công xây chùa Liên trì còn giúp tổng-đốc Hà-nội Đặng Văn Hòa tô lại tượng và trùng tu chùa Một cột năm Thiệu Trị thứ bảy, sự kiện này được ghi trên bia công đức ở gần cổng chùa (15), song không thể vì "chuộng đạo Phật", "xây chùa" mà thành mê tín dị đoan, "mê hoặc lòng người" và "làm lụy cho thịnh đức"! Không rõ tác giả có bị ảnh hưởng vì bốn câu tứ tuyệt?

    Xét ra Nguyễn Đăng Giai không được người đương thời quý trọng một phần vì ông sùng bái đạo Phật, một phần vì ông không hòa hợp với các đại thần trong triều. Người đời sau không biết ông, thường xét ông qua bốn câu tứ tuyệt nên không khỏi có chỗ oan ức cho ông. Sau này đọc Bóng nước Hồ Gươm tôi mới biết Nguyễn Đăng Giai đã được Chu Thiên biện minh hộ rồi.

    II. Chùa Quan Thượng dưới mắt người Pháp.
    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    Một tháp ở chùa Báo ân (Quan Thượng)

    [​IMG]

    Một cái tháp của chùa Quan Thượng bên bờ hồ Hoàn-Kiếm

    (Ảnh Hocquard, với sự đồng ý của anh Nguyễn Tấn Lộc

    http://hinhxua.free.fr/autrefois/docteur-hocquard/page5/photo_docteur_hocquard_5_vn.htm)

    Tuy chùa do người Pháp triệt hạ năm 1889, song cũng chính nhờ những sách báo và tranh ảnh của họ để lại mà ngày nay chúng ta có được một ý niệm về ngôi chùa nổi tiếng mà họ mệnh danh là Pagode des Supplices (chùa Thụ hình). Theo Halais (16) thì chùa sở dĩ mang tên Thụ hình vì hai tấm vách ván (panneaux) chạm nổi, chiều cao ba thước chiều dài năm thước, tả cảnh thần Phật ngồi phán xét những hành động của người dương thế: ai thiện được lên Thượng giới, kẻ ác bị đày xuống phía chân vách, có quỷ sứ áp dụng những cực hình xét ra còn thảm khốc bằng mấy cực hình của Pháp đình tôn giáo Âu châu thời Trung cổ.

    Masson cho biết thêm chùa xây ở mé đông nam hồ Hoàn Kiếm, xung quanh có hồ sen bao bọc, trông giống như một vòng hoa nên có tên là Liên trì. Chùa thờ những bức tượng bằng gỗ hay bằng đá diễn cảng thụ hình ở địa ngục. "Những tác phẩm điêu khắc kỳ hình dị dạng, khó tả nên lời, nhưng không thiếu vẻ tinh xảo, vượt xa những tấm bích họa khủng khiếp nhất của các nghệ sĩ Âuchâu thời Trung cổ" (17). Kể cũng lạ là một ngôi chùa được ta đặt tên là "Báo Ân" lại chỉ để lại những ấn tượng hãi hùng trong lòng người Pháp.

    Bác sĩ Hocquard, y sĩ trưởng (médecin major) trong đoàn quân viễn chinh Pháp, là người đã từng chụp ảnh chùa khoảng 1882-1883. Ảnh lâu ngày đã mờ nhạt, những cái chúng ta thấy in trên sách báo phần nhiều là tranh vẽ lại theo ảnh của Hocquard. Chính Hocquard cũng là một trong nhữngngười đầu tiên mô tả chùa tỉ mỉ, theo đúng phong cách Âu Tây:

    "Từ xa, tầm mắt khách thập phương đã bị những cái tháp chuông, cột trụ, tiểu tháp thu hút. Bước vào chánh điện, quy mô rộng lớn, giữa những hàng cột vàng son lộng lẫy, có đến trên hai trăm pho tượng thần Phật sắp hàng. Chính giữa là bàn thờ Đức Phật Thích Ca, cao 1m50, dát vàng từ đầu đến chân, ngồi trên tòa sen, đôi mắt lim dim nhìn xuống lòng bàn tay đặt ngửa trên đầu gối. Hai đại đệ tử đứng hầu hai bên (18).

    Vây quanh mấy pho tượng trung tâm này, la liệt những tượng chư thánh tăng đặt trên các bàn thờ riêng biệt, chạy dài dọc theo tường vách, trông như một cử tọa đang chăm chú. Có những lão trượng khả kính, những ông quan mặc triều phục tay cầm hốt hay bưng lư hương, những tu sĩ khổ hạnh đang ngồi tĩnh tọa, tham thiền nhập định. Tuy họ chỉ mới đạt được bước đầu công phu giác ngộ Phật pháp song đã đủ tài chế ngự được các loài mãnh thú điển hình là những con hổ, con trâu nằm phục dưới chân.

    Dáng dấp và cách trang phục pho tượng chính giống kiểu Ấn độ. Tượng Phật ở Bắc kỳ chẳng khác gì ở các chùa bên Tích-lan hay Tân-gia-ba. Chỉ những pho tượng phụ mới thay đổi, hệt như tượng của Trung quốc.

    Chùa đã xiêu đổ và không còn mấy người bản xứ đủ khả năng giải thích những điển tích nhà Phật thể hiện qua các pho tượng" (19).

    Paul Bourde, phái viên tờ Thời báo, đi sâu hơn vào khía cạnh kỹ thuật: "Tượng bằng gỗ phủ một lớp sơn màu hay quang thếp khá dày, có pho lại tô một chất liệu gì giống như stuc (đá hoa giả?). Vì lớp sơn phết bên ngoài quá dầy nên những nét đục chạm sắc bén trở nên tròn nhẵn, những đường rãnh sâu trũng bị lấp bằng, xóa mất các nét gân guốc, sắc cạnh của lưỡi dao nhà điêu khắc. Loại stuc không thích hợp với thuật đắp tượng diễn khối mạnh bạo.

    Nhiều pho tượng, qua những tâm trạng biểu lộ trên nét mặt, những tư thái tự nhiên, rất đáng chú ý. Đứng sánh bên thì tượng của chùa Bách ngũ thần ở Quảng đông chỉ là những tác phẩm vụng về, thô kệch, bất thành dạng. Nghệ thuật tạo hình cũng như nghệ thuật khảm xà cừ của họ tỏ ra thực sự đặc sắc.

    Người tạc tượng nay đã mất hoặc xiêu tán. Tuy nhiên, tôi rất muốn tìm hiểu cung cách làm việc của những nghệ nhân chân chất này, xem họ bị giằng xé đến mức nào giữa những quy tắc rập theo khuôn mẫu cổ truyền và khuynh hướng tôn trọng thiên nhiên. Tôi có cảm tưởng đôi phen sự thật đã làm họ phải khắc khoải." (20)

    Nếu ta biết Bourde thường tỏ ra rất miệt thị dân "bản xứ" thì mới thấy những câu phê bình trên đây là những lời "vàng ngọc"! Hiển nhiên phẩm chất nghệ thuật của các nghệ nhân đã "chinh phục" được Bourde tới mức chịu nhìn nhận tác phẩm của những người này đã đáp ứng tiêu chuẩn trình độ thẩm mỹ của phái viên "thông kim bác cổ" tờ Thời báo. Ngày nay ai ai cũng ca tụng tượng Phật chùa Tây phương, có biết đâu xưa kia còn bao nhiêu tác phẩm có lẽ cũng độc đáo không kém của các nghệ sĩ vô danh khác đã bị mai một chỉ vì không được bảo tồn.

    R. Bonnal, Trú sứ Hà-nội (1883-1884), một trong những viên chức hành chính dân sự đầu tiên của Pháp ở Bắc kỳ, cho rằng chùa Thụ hình có những sắc thái đúng với mỹ quan của dân Việt, và nhìn nhận nó có một giá trị lịch sử. Theo ý ông thì tất cả các ngôi chùa ở Việt Nam đều là những di sản văn hóa rất nên bảo trọng và tu bổ.

    Cả năm chục năm sau khi chùa bị triệt hạ, Claude Bourrin vẫn còn than tiếc "cái quyết định phá hủy chùa là một quyết định không sao giải thích nổi, và đáng tiếc vô cùng!" (21). Claude Bourrin không phải là người Pháp duy nhất tỏ ý than phiền.

    III. Những di tích tranh ảnh.
    1. Họa đồ.

    Bằng vào họa đồ của một người Việt vẽ theo trí nhớ (22) thì chùa gồm tháp Hòa Phong, rồi tới một con đường dài dẫn đến chùa, giữa đường phải chui qua một cái cổng. Chùa được kiến tạo trên một khuôn viên hình bát giác, tám cạnh không đều nhau, xung quanh có hồ sen bao bọc.

    2. Tháp Hòa Phong.
    [​IMG]
    Đất nước ta cho biết "hiện nay" (23) trước nhà Bưu điện còn "cái cổng ngoài của chùa". Tôi nhớ trước nhà Bưu điện không có cáicổng nào nhưng có lẽ vì đi xa đã lâu nên quên chăng? Hỏi những người có dịp về Hà-nội gần đây thì chỉ có một người nhận đã thấy "cái cổng" song lại...chê nó xấu nên không chụp ảnh. Tôi nhờ người gửi ảnh sang hóa ra nó không phải "cái cổng" mà là "cái tháp Hòa Phong", hiện được liệt vào hạng di tích nghệ thuật kiến trúc. Tháp dựng ngay ven hồ Hoàn-Kiếm, thuộc cổng ngoài cùng, ở khá xa chùa, mãi tận bên kia đường, chỗ nhà Bưu chính, có lẽ vì thế mà không bị phá cùng với chùa?

    Mới đây (1998), đọc Hà-nội cũ (24) thấy Sở Bảo viết "bốn mươi năm trước sau khi toàn thể ngôi chùa bị phá dỡ còn trơ lại cái cổng, bên trên có bốn chữ "Phương Tiện Pháp Môn", còn tháp Hòa Phong, ở trước tượng Paul Bert, thì xưa kia "đứng ngay giữa lối đi vào chùa". Như vậy là ngoài tháp Hòa Phong rõ ràng còn một "cái cổng chùa" thật sự. Nhưng khi quan sát ảnh của Hocquard và tranh vẽ lại cổng chùa thì không thấy cái nào có chữ nho nên tôi nghi có lẽ cái cổng mang hàng chữ "Phương Tiện Pháp Môn" nằm ở giữa con đường đi từ tháp đến chùa, và vì đứng xa chùa nên không bị phá ngay cùng một lúc với chùa. Bằng vào một số bài của Hà-Nội cũ đã in trên Trung Bắc Chủ Nhật khoảng 1940-1945, thì "bốn mươi năm trước" có nghĩa là đầu thế kỷ XX, khi ấy chùa mới bị triệt hạ có hơn mười năm nên có thể cái cổng "Phương Tiện Pháp Môn" vẫn còn.

    3. Cổng chính của chùa.
    Trước cổng có sân gạch, hai bên cổng mỗi bên hai cái tháp, ở giữa có cầu cuốn rồi tới mấy bậc thềm. Kiến trúc cân đối, khang trang. Toàn thể toát ra một vẻ tôn nghiêm, tĩnh lặng khiến cho lòng người lắng xuống.

    Cũng như tháp Hòa Phong, tranh vẽ cổng chùa, so với ảnh của Hocquard, đã được "tô điểm" ít nhiều: đỉnh hai ngọn tháp bên cạnh chùa sự thật không nhọn, cổng chỉ có ba bậc thềm, số người đứng trước cổng không giống nhau, khi thì một, khi thì ba, vị trí chỗ họ đứng cũng khác.

    Khi tôi đang viết bài thì được anh chị Tiêu Nương và Trúc Viên Lang tình cờ đem cho mấy cái tranh ảnh Việt-Nam thời cổ, trong đó có cái tranh vẽ cổng chùa. Đây là ảnh chụp lại tranh vẽ chứ không phải loại phóng ảnh như của tôi (bởi muốn chụp lại ảnh của Hocquard rất khó, phải xin phép trước rất lâu). Tôi thích thú ngắm đi ngắm lại mãi và bỗng phát hiện cổng chùa được giới thiệu là "cổng Văn miếu Hà-nội"! Râu ông nọ đã được trịnh trọng cắm vào cằm bà kia!

    4. Hai bức chạm nổi.
    Theo Halais thì khi phá chùa người ta dời hai bức vách ván chạm nổi (panneaux) đến một ngôi chùa khác ở phía nam Hà-nội. Một bậc tiền bối cho biết phía nam Hà-nội có một ngôi chùa ở gần Lò lợn, nhưng tên là gì thì không nhớ. Nhìn địa đồ Hà-nội vẽ năm 1889, năm chùa bị phá, thì thấy phía nam, gần Văn miếu có một ngôi chùa, đọc tên không rõ, không biết có phải là ngôi chùa ấy không? Tôi nhờ người nhà điều tra hộ nhưng cho đến nay (tháng 8-1997) vẫn chưa ra manh mối, không rõ tên ngôi chùa ấy là gì và hai bức chạm nổi còn hay mất?

    5. Chùa Tupphen.
    Một trong những lần đầu đi thư viện tìm tài liệu về chùa Quan Thượng, tôi thấy có một bài viết về Chùa Tupphen. Thường thì thấy cái gì lạ tôi cũng đọc rồi ghi lại tên sách. Lần ấy vội, tôi bỏ qua. Một tuần sau, đọc Archives de l'Indochine tôi ngẩn người thấy tranh cổng chùa Quan Thượng được chú thích là "Pagode Tupphen dite Pagode des Supplices". Vội vàng trở lại thư viện, song vì lần trước vội, không ghi tên sách, nên dòng dã mấy tháng tìm kiếm tôi vẫn không sao thấy lại được bài viết về chùa Tupphen! Khi viết về chùa Quan Thượng, các tác giả dành nhiều nhất là độ một trang rưỡi, đằng này chùa Tupphen được tả trên mấy tờ, càng khiến tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ, "mất ăn mất ngủ", và sẽ còn ăn năn, hối tiếc chưa biết đến bao giờ nếu một hôm tôi không sực nghĩ ra: rất có thể tác giả "Archives..."-xuất bản năm 1995- đã lầm, cũng như người giới thiệu cổng chùa Quan Thượng là cổng Văn miếu, vì ngoài "Archives..." tôi không thấy một người Pháp đương thời nào gọi chùa Thụ hình là chùa Tupphen.

    Đã tưởng không thể tìm thêm được tài liệu nào về chùa, không ngờ đến phút cuối tôi lại kiếm ra một bài ca dao có những chi tiết cho thấy có lẽ tác giả đã từng vãn cảnh chùa, tuy rằng "tường lục lăng" tả không được chính xác lắm. Xin mượn nó để kết thúc bài này:

    Gần xa nô nức tưng bừng,

    Vào chùa Quan Thượng xem bằng động tiên.

    Lầu chuông gác trống hai bên,

    Trông ra chợ Mới, Tràng tiền kinh đô.

    Khen ai khéo họa địa đồ,

    Sau lưng Nhị thủy, trước hồ Hoàn Gươm.

    Phong quang cảnh trí trăm đường,

    Trong xây chín giếng, ngoài tường lục lăng.

    Rõ mười cửa động tưng bừng,

    Đền vàng, tòa ngọc, chật từng như nêm.

    Dục trì phơi tỏ màu sen,

    Thập phương chư Phật ngồi trên đủ mười.

    Dạo xem Tam bảo khắp rồi,

    Hành lang, nhà hậu khắp nơi rõ ràng.

    Kẻ thanh lịch, kẻ quyền sang,

    Vào chùa lễ bái mọi đường vui xem.

    Ai ai mến cảnh thiền môn,

    Lòng trần rũ sạch nhơn nhơn ra về.

    Bước ra hòn đá xanh rì,

    Nhìn phong cảnh chẳng muốn về nữa đâu.
    (25)



    Chatenay-Malabry, 8-1997

    Sửa lại tháng 4-1998

    Nguyễn Thị Chân Quỳnh



    ***

    Sách tham khảo
    Bonnal R. "Au Tonkin" (1873-1886), Revue Indo-chinoise, Sept-Oct. 1923.

    Bonnetain P. "Au Tonkin", Paris: Victor Havard, 1885.

    Borge Jacques & Viasnoff Nicolas. Archives de l'Indochine. Michèle Trinckvel, 1995.

    Bourde Paul. De Paris au Tonkin. Paris: Calmann Lévy, 1885.

    Bourrin Claude. Le vieux Tonkin. Saigon: J. Aspen, 1935.

    Chu Thiên. Bóng nước hồ Gươm. Hà-nội: Văn học. Tái bản lần thứ ba, 1985.

    Đại Nam Liệt truyện, III. Huế: Thuận hóa, 1993.

    Đại Nam Nhất Thống Chí, III. Hà-nội: KHXH, 1971.

    Đại Nam thực lục chính biên, XV, XVI, XVIII. Hà-nội: KHXH, 1965, 1966, 1967.

    Dumoutier G. Les pagodes de Hanoi. Hà-nội: F. H. Schneider impr. 1887.

    Giang Quân. Hà-nội trong ca dao, ngạn ngưõ. Hà-nội, 1994.

    Halais M. C. Hà-nội et ses environs, Bulletin de la société de Géographie commerciale de Paris. Paris, 1889.

    Hoàng Đạo Thúy, Huỳnh Lứa, Nguyễn Phước Hoàng. Đất nước ta. Hà-nội: KHXH, 1989.

    Hocquar Dr. Une campagne au Tonkin. Paris: Hachette, 1892.

    Huard Lucien. La guerre illustrée (du Tonkin). Paris: L. Boulanger.

    Kiều Thu Hoạch. Đại cương về đất nước và con người, Thăng long, Đông đô, Hà-nội. Sở Văn hóa Thông tin Hà-nội, 1991.

    Lãng Nhân. Giai thoại làng Nho toàn tập. Sài gòn: Nam chi tùng thư, 1966.Tái bản ở Mỹ.

    Masson André. Hanoi pendant la période héroĩque (1873-1888). Paris:Librairie orientale Paul Genthner, 1929.

    Sở Bảo Doãn Kẻ Thiện. Hà-nội cuõ. Hà-nội, 1994.

    Trương Vĩnh ký. Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876), trích Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký của Bằng Giang. Văn học, 1994.

    Vũ Ngọc Phan. Những năm tháng ấy. Hà-nội: Văn học, 1987.

    Chú Thích
    (1). Bài này đã được đăng trong Vietnamologica số 3

    (2). Những năm tháng ấy, tr.51.

    (3). Bóng nước Hồ Gươm, tập I, tr.18.

    (4). Bonnal, "Au Tonkin", Revue Indo-chinoise, sept-oct.1923, tr.379.

    (5). Thăng-long, Đông-đô, Hà nội, tr.52.

    (6). Masson André, tr.158. Claude Bourrin, tr.52.

    (7). Claude Bourrin, tr.25 & 52

    (8). Bóng nước Hồ Gươm, tr.441, in lần thứ ba, không rõ viết từ bao giờ, "hiện nay" trỏ vào năm nào?

    (9). Đại Nam Nhất Thống Chí, III, tr.206.

    (10). Lầu Ngũ long cao 300th là nơi các chúa Trịnh mấy lần bắt các Cống sĩ (Cử nhân) thi lại để loại những kẻ gian lận thuê người đi thi hộ.

    (11). Bóng nước Hồ Gươm, tr.18.

    (12). Trương Vĩnh Ký "Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi" (1897). Trích trong Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Kyù của Bằng Giang, Văn học, 1994.

    (13). Vua Vũ đế nhà Lương (thế kỷ thư VI, Trung quốc) ngưỡng mộ đạo Phật, xây nhiều chùa tháp. Bị cận thần là Hầu Cảnh làm loạn, vây cung cấm khiến Vũ đế phải chết đói ở Đài thành. Bài thơ ngụ ý chế giễu: nếu Phật linh thiêng sao không cứu Vũ đế? Trong Giai thoại làng Nho, tr.382-384, cụ Lãng Nhân chép rằng bốn câu thơ này do Ba Giai tức Nguyễn Văn Giai, khi còn để chỏm, đi học về qua đấy thấy thợ đang xúm xít xây chùa bèn viết lên bức tường mới tinh bài thơ tứ tuyệt ấy. Thợ thấy bôi bẩn tường, bắt giữ xôn xao, vừa khi Quan Thượng ra thăm, đọc thấy bài thơ hỗn xược, lên tiếng trách mắng. Ba Giai cãi lại rằng "Bố đĩ Giai" trỏ vào bố đẻ mình, quan bảo: "Bố mày không có ở đây" và bắt sửa lại, Ba Giai liền trổ tài mẫn tiệp:

    Phúc đức ai bằng cụ Thượng Giai,

    Làm chùa bên Bắc lại bên Đoài.

    Nam mô tế độ nhờ ơn Phật,

    Lộc thọ song toàn chẳng kém ai.

    Đây chắc là một giai thoại được bịa đặt để có cớ đưa bài họa ra. Ngoài lời lẽ rất tầm thường, bài này còn nhiều chỗ không ổn:

    a. Ba Giai sinh khoảng 1850 mà chùa thì xây xong từ 1847, làm gì còn thợ "đang xúm xít xây chùa" khi Ba Giai đi học về?

    b. Dù đấy là sự thực thì khi thấy một đứa trẻ viết bậy lên bức tường mới thì thợ phải can thiệp ngay, đời nào lại chờ viết xong cả bài thơ rồi mới "xôn xao bắt giữ"?

    c. Giọng xấc xược ấy không phải là giọng một đứa trẻ còn để chỏm đang đi học. Thời xưa "tiên học lễ..." trẻ con phải tôn kính bậc trưởng thượng, huống chi đây lại là một ông quan, đến bố mẹ đứa trẻ còn phải kính sợ. Đây hẳn là giọng của một nhà Nho ngông nghênh, tự coi mình ngang hàng nên mới dám đùa cợt gọi quan là "bố đĩ".

    d. "Còn để chỏm" thì chỉ có thể giỏi lắm đang học Tứ Thư, Ngũ Kinh, chưa chắc dã đến Bách gia chư tử, nói gì đạo Phật? Phật giáo không có trong chương trình để đi thi, ai muốn tìm hiểu phải tự học lấy. Một đứa trẻ không thể biết rõ những điển tích như Vũ Đế bị chết đói ở Đài thành để đem ra mai mỉa Quan Thượng.

    (14). Liệt truyện, III, tr.237-249.

    (15). Dumoutier, tr.27.

    (16). Halais, tr.545.

    (17). Masson, tr.157-158.

    (18). Tôn giả Anan và Ca Diếp.

    (19). Hocquard, tr.167.

    (20). Bourde, tr.297-298.

    (21). C1. Bourrin, tr.52.

    (22). Masson, P1.34.

    (23). Đất nước ta, tr.85. Không rõ "hiện nay" là thời điểm nào?

    (24). Hà nội cũ, tr.69.

    (25). Giang Quân, tr.43-44.

    © http://vietsciences.free.frhttp://vietsciences.net Nguyễn Thị Chân Quỳnh
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/9/18 lúc 11:21
  10. 16/9/18 lúc 11:22 #430
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]



    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]

    Quân đội Pháp duyệt binh với xe tăng tại Sài Gòn - 1922
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/9/18 lúc 12:15
  11. 16/9/18 lúc 11:33 #431
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]

    Ảnh chụp trên cao tầm nhìn bao quát khu vực Dinh Toàn quyền Đông Dương - Trường trung học An be Xa rô - Hồ Tây
     
  12. 16/9/18 lúc 20:16 #432
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]



    [​IMG]

    Tourance - Đà Nẵng
     
  13. 17/9/18 lúc 20:20 #433
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]
    Ga Hà Nội

    [​IMG]
    Ga Hà Nội

    [​IMG]

    Bưu điện Hà Nội
    [​IMG]

    Bưu điện Hà Nội
    [​IMG]

    Bưu điện Hà Nội
    [​IMG]

    Ga Hà Nội

    [​IMG]

    Ga Hà Nội
    [​IMG]

    Văn Miếu Quốc tử giám
    [​IMG]
    Ga Hà Nội
     
  14. 17/9/18 lúc 21:09 #434
    khoai0705
    khoai0705 Xe tải
    Biển số:
    OF-456808
    Ngày cấp bằng:
    27/9/16
    Số km:
    302
    Động cơ OF:
    4 mã lực
    Mã lực:
    4
    Em đánh dấu xem ảnh...
     
  15. 17/9/18 lúc 22:51 #435
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]


    [​IMG]


    [​IMG]
    Có điều rất khó hiểu là Cổng Tam Quan Văn Miếu và Cổng Tam Quan chùa Báo Ân, xét về lịch sử thì có lẽ niên đại same same nhau, nhưng tại sao cổng Tam Quan Văn Miếu lại ghi chữ Môn kiểu Phồn thể, còn Tam Quan chùa Báo Ân lại ghi chữ Môn kiểu giản thể?
    Theo sách lịch sử chính thống thì chữ giản thể đầu tiên được biêt đến ở Trung Quốc là giai đoạn vận động cách mạng Tân Hợi, khoảng sau năm 1900 tới trước năm 1912, trong khi các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng chùa Báo Ân đã bị Pháp phá đi để xây bưu điện vào năm 1888 ?
    Có lẽ việc Pháp cho phá chùa Báo Ân còn phải tranh luận, vì so sánh hai cây đèn đường đốt bằng dầu hỏa, một cái chụp ở Sài Gòn khoảng năm 1896, cái kia chụp chùa Báo Ân, thấy rằng đó chỉ là một kiểu đèn đường. Suy ra bức ảnh chụp chùa Báo Ân chắc chắn nằm trong khoảng năm 1890 - 1896,
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/9/18 lúc 23:02
  16. 17/9/18 lúc 23:49 #436
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]


    [​IMG]

    Một vài hình ảnh về phụ nữ Bắc Kỳ năm 1900
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/9/18 lúc 00:11
  17. 18/9/18 lúc 08:49 #437
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
  18. 18/9/18 lúc 14:59 #438
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]

    Một con tàu của hãng vận tải Pháp Messageries Maritimes năm 1902 chuyên hoạt động tuyến Đông Dương (cảng Hải Phòng và Sài Gòn)
     
  19. 18/9/18 lúc 15:00 #439
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    [​IMG]

    Tù nhân bản xứ phạm tội bị Pháp cho đi đày lao động khổ sai tại Côn Đảo
     
  20. 18/9/18 lúc 19:37 #440
    Nam Kỳ thuộc Pháp
    Biển số:
    OF-577096
    Ngày cấp bằng:
    3/7/18
    Nơi ở:
    PARIS KINH ĐÔ ÁNH SÁNG
    Số km:
    566
    Có cái lạ là tuy tên tháp là Hòa Phong nhưng tuyệt không thấy chỗ nào ghi là Hòa Phong cả.

    Dòng chữ phía dưới cùng là : Báo Ân Môn () viết kiểu Khải thư
    Dòng chữ phía trên cùng lại là : Báo Thiên Tự ( 天 報) viết kiểu Khải thư

    Chữ ở giữa viết kiểu Triện Văn hình như chữ Phật.

    Chứng tỏ chữ Môn này dùng chung cho chùa này.

    Chữ Môn giản thể này không chỉ thể hiện ở cổng tam quan của chùa mà còn được ghi trên tháp Hòa Phong của chùa này luôn.
    [​IMG]


    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/9/18 lúc 20:17

Thông tin thớt

Hiện có 0 cụ đang nghía thớt này. (0 lái chính và 0 lái phụ)