[Funland] Tiện bút của Cao Việt Dũng: Trai Hà Nội như thế nào?

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
13/4/17
Số km
22,771
Động cơ
9,755,669 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Không hẳn là viển vông, với công nghệ hiện nay thì vài trăm năm sau những nội dung mình chém trên đây đám chút chít chụt chịt khìn khịt tịt mịt vẫn sẽ đọc được. Không biết khi đó còn Hà Nội không? Không biết khi đó "Hà Nội" có còn là môt khí phách riêng có hay không?
Cụ Nguyễn Du từng than "Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, thiên hạ ai người khóc Tố Như". Các cụ zai Lội giờ lo "Bia hơi còn một cốc này, chẳng cầm cho vững lại giày cho tan" #:-s
 

XPQ

Xe ba gác
Biển số
OF-25733
Ngày cấp bằng
13/12/08
Số km
20,233
Động cơ
581,887 Mã lực
Nơi ở
Trỏng
Cụ Nguyễn Du từng than "Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, thiên hạ ai người khóc Tố Như". Các cụ zai Lội giờ lo "Bia hơi còn một cốc này, chẳng cầm cho vững lại giày cho tan" #:-s
Bia thì bia sớm kẻo mà
AI giao thông bắt, mặn mà với ai?
 

XPQ

Xe ba gác
Biển số
OF-25733
Ngày cấp bằng
13/12/08
Số km
20,233
Động cơ
581,887 Mã lực
Nơi ở
Trỏng
Lúc đấy Hà Nội là một phường của Hưng Yên
Ngày 5 tháng 1 năm 2326, các báo đồng loạt đăng bài viết về lời tiên tri ứng nghiệm của một nhân vật bí ẩn thuộc ngành Chạng Chình lớp "bia hơi" sống vào năm 2026.
 
Chỉnh sửa cuối:

Honghen2008

Xe lăn
Biển số
OF-423435
Ngày cấp bằng
19/5/16
Số km
13,851
Động cơ
559,965 Mã lực
ĐÁNG SUY NGẪM …
Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng vẫn sẵn sàng để bị lay động.

Chuyến bay từ Nội Bài vào một tối cuối năm khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn thường lệ. Tôi tình cờ đứng gần hai gia đình trẻ - một nói giọng Bắc, một nói giọng Nam. Không rõ là ngẫu nhiên hay do trí nhớ chọn lọc, nhưng trong nhiều chuyến bay quay lại Nhật, tôi thường bắt gặp những tình huống tương tự. Chúng dần trở thành một thứ định kiến trong tôi, và tôi xin thú thật như vậy, dù rõ ràng nó thật phiến diện.

Tôi muốn nói trước điều này, dù có phần buồn: Trong những lần tiếp xúc ngắn ngủi với người miền Nam trên các chuyến bay ấy, tôi thường mang về những ấn tượng tốt. Từ tác phong đến cách giao tiếp, mọi thứ đều nhẹ nhàng và có chừng mực. Cách họ xếp hàng, quan sát lối đi, để ý người khác dường như luôn chừa ra một khoảng vừa đủ cho sự lịch thiệp. Trong nhà vệ sinh sân bay, giữa dòng người mệt mỏi, tôi đã nhiều lần nghe thấy một giọng miền Nam rất khẽ:

“Dạ, xin lỗi cho em qua.”

Một câu nói nhỏ thôi, nhưng đủ khiến lòng người dịu lại.

Rồi tôi quay về với chuyến bay gần đây nhất. Trong khu vực nhập cảnh khai báo hành lý, tôi đứng sau hai gia đình Việt, lại là một Bắc, một Nam và cả hai đều có con nhỏ. Ở gia đình miền Bắc, người chồng liên tục càu nhàu vợ vì con khóc, vì con đòi đồ chơi, vì chiếc bánh mang theo có chứa chà bông. Giọng nói gắt gỏng vang lên giữa không gian vốn đã căng thẳng, khiến tôi có phần e ngại. Người vợ thì cúi gằm mặt, lặng lẽ và ngại ngùng.

Ở phía bên kia, gia đình miền Nam hoàn toàn trái ngược. Người chồng bế con suốt quá trình làm thủ tục, thỉnh thoảng quay sang hỏi vợ có mệt không, lặng lẽ xử lý mọi giấy tờ mà không một lời than phiền.

Tôi khó gọi tên cảm giác của mình lúc ấy. Chỉ biết rằng đó không phải lần đầu tôi chứng kiến những cảnh tương tự, từ cách xếp hàng, cách nói chuyện trong gia đình, cho đến thái độ với người xa lạ. Tôi không muốn và cũng không tin vào việc phân biệt vùng miền. Tôi luôn phản đối điều đó. Nhưng ít nhất, trong những khoảnh khắc rất đời và rất ngắn ấy, tôi buộc phải thừa nhận, trong tôi nảy sinh một sự ngưỡng mộ. Không phải vì họ đến từ đâu, mà vì cách họ đối xử với nhau và với thế giới xung quanh, đủ tử tế để được nhìn nhận một cách xứng đáng.

Và chính ở đó, tôi bắt đầu thấy niềm kiêu hãnh của mình không còn đứng vững như trước.

Tôi chợt nhận ra, niềm kiêu hãnh mà tôi mang theo, thứ tôi từng nghĩ là bản sắc Hà Nội, đôi khi đã bị tôi nhầm lẫn với quyền được khó chịu. Quyền được cáu kỉnh khi mệt, được lớn tiếng khi không vừa ý, được tin rằng sự thẳng thắn của mình là trung thực, còn sự dịu dàng của người khác chỉ là tính cách. Tôi đã sống đủ lâu trong những con phố hẹp, những căn nhà chật, những buổi sáng chen chúc để tin rằng gắt gỏng là điều có thể thông cảm. Nhưng có lẽ, thông cảm quá lâu, người ta sẽ quên mất cách giữ gìn.

Đứng giữa sân bay, nơi không ai thực sự thuộc về, tôi thấy rõ sự khác biệt giữa chịu đựng và chăm sóc. Hai đứa trẻ khóc như nhau, cùng mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Nhưng cách người lớn phản ứng đã tạo ra hai thế giới khác hẳn. Ở một bên, mệt mỏi được trút xuống người gần nhất. Ở bên kia, mệt mỏi được gánh lên vai một người, rồi vì thế, nhẹ đi cho cả gia đình.

Tôi tự hỏi, phải chăng điều tôi ngưỡng mộ không nằm ở vùng miền mà nằm ở một thứ văn hóa ứng xử đã được rèn giũa qua nhiều thế hệ? Một văn hóa coi sự nhỏ nhẹ không phải là yếu đuối mà là lựa chọn. Coi việc giữ giọng thấp xuống là một cách giữ gìn nhân phẩm cho cả mình và người đối diện. Trong cái cách nói “dạ” rất khẽ ấy, tôi nghe thấy không phải sự nhún nhường. Đó là sự tự tin, tự tin rằng mình không cần lớn tiếng để được tôn trọng.

Tôi nghĩ về Hà Nội của tôi, thành phố mà tôi yêu bằng một tình yêu vừa kiêu kì vừa mệt mỏi. Hà Nội từng rất chậm, rất ý tứ. Người ta từng biết hạ giọng trong bữa ăn, biết tránh làm phiền người khác, biết giữ thể diện cho nhau bằng im lặng. Nhưng rồi nhịp sống gấp gáp, những va chạm dồn nén và cảm giác luôn phải giành phần hơn đã khiến chúng tôi quên mất rằng lịch sự cũng là một dạng sức mạnh.

Có lẽ vì thế mà tôi tò mò. Không phải tò mò về miền Nam như một đối cực, mà có lẽ tôi tò mò về khả năng lựa chọn của con người. Là lựa chọn nói nhẹ hay nói nặng, lựa chọn bế con hay trách vợ, lựa chọn làm dịu một không gian hay làm nó căng thêm. Những lựa chọn rất nhỏ nhưng tích tụ lại thành khí hậu tinh thần của một cộng đồng.

Khi chuyến bay kết thúc, tôi kéo vali đi giữa dòng người nhập cảnh. Tôi vẫn là người Hà Nội, với niềm kiêu hãnh của mình. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy, sau những chuyến đi, đã bắt đầu đổi hình dạng. Nó không còn là cảm giác mình đến từ đâu, giờ đây nó đã là câu hỏi mình đã đối xử với người khác như thế nào.

Có những lúc, người ta lớn tiếng không phải vì mạnh mẽ, có lẽ phần nhiều vì đã kiệt sức. Kiệt sức vì phải gồng lên suốt một quãng đời dài, vì phải chứng minh mình đúng, mình hơn, mình không thua kém. Tôi đã quen với thứ mệt mỏi ấy đến mức tưởng nó là bản lĩnh. Cho đến khi đứng giữa sân bay xa lạ, nhìn một người đàn ông lặng lẽ bế con, tôi mới thấy, hóa ra bản lĩnh có thể im lặng và im lặng ấy không hề yếu ớt.

Tôi chợt nghĩ về những người đàn ông Hà Nội quanh mình, những người cha, người chồng, người anh. Phần nhiều đều yêu gia đình nhưng lại hiếm khi được dạy cách thể hiện tình yêu mà không làm đau người khác. Yêu, trong nhiều trường hợp, đồng nghĩa với lo lắng; lo lắng kéo theo kiểm soát; kiểm soát sinh ra cáu gắt. Và rồi, sự quan tâm biến thành áp lực, lúc nào không hay. Có lẽ, chúng tôi đã học cách gánh trách nhiệm nhưng chưa học đủ cách chia sẻ gánh nặng.

Sân bay lúc ấy đông hơn. Tiếng loa thông báo, tiếng bánh xe vali, tiếng trẻ con khóc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh mệt mỏi rất người. Tôi đứng giữa đó, bỗng thấy mình không còn muốn quan sát để so sánh nữa. Thay vào đó, tôi muốn quan sát để hiểu. Hiểu rằng mỗi vùng đất sinh ra con người với những cách chịu đựng khác nhau. Có nơi dạy người ta phải cứng, có nơi dạy người ta nên mềm. Và cả hai, suy cho cùng, đều là cách để sống sót.

Nhưng sống sót khác với sống đẹp. Và sống đẹp, có lẽ, bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức dễ bị coi thường - một câu xin lỗi, một cái hỏi han, một cánh tay chìa ra đúng lúc. Sự tử tế không cần hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại.

Khi tôi bước ra khỏi sân bay, không khí lạnh tràn vào phổi. Thành phố mới đón tôi bằng sự im lặng quen thuộc của một nơi tôi đã chọn để sống. Tôi kéo cổ áo lên, đi chậm lại. Trong đầu tôi, niềm kiêu hãnh Hà Nội không còn đứng ở vị trí đối đầu với sự ngưỡng mộ miền khác. Nó đứng cạnh, khiêm tốn hơn, lắng nghe hơn, lặng lẽ hơn.

Có lẽ, trưởng thành không phải là thôi kiêu hãnh, mà là học cách đặt niềm kiêu hãnh ấy xuống thấp hơn người khác một chút. Thấp đến mức mình có thể cúi đầu xin lỗi. Thấp đến mức mình có thể bế con thay vì trách móc. Thấp đến mức, giữa một sân bay đông người, giọng nói của mình không lấn át giọng ai khác, chỉ đủ để giữ lại một chút ấm áp cho những người đang rất mệt.

Tôi chợt hiểu vì sao những câu nói nhỏ nhẹ lại có sức bền đến thế. Chúng không gây ấn tượng mạnh tức thì, nhưng thấm vào lòng rất sâu. Như mưa phùn Hà Nội, không ồn ào, không dữ dội, chỉ đủ để làm ướt áo ai đó đi rất xa. Có điều, mưa phùn mà kéo dài quá, cũng khiến người ta lạnh. Có lẽ, điều chúng tôi thiếu không phải là sự dịu dàng mà là sự dịu dàng đúng lúc, không biến thành nhẫn nhịn.

Tôi không còn muốn biện minh cho vùng đất mình sinh ra, cũng không muốn lý tưởng hóa vùng đất khác. Mỗi miền đều có những vết xước riêng, những nỗi mệt riêng. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, sau những chuyến bay dài và những lần đứng giữa đám đông vô danh, là khả năng tự hỏi mình. Trong khoảnh khắc này, mình có thể làm gì để không khiến người khác nặng thêm?

Tôi vẫn là người Hà Nội. Tôi vẫn yêu thành phố ấy với tất cả những mâu thuẫn của nó. Nhưng giờ đây, tình yêu ấy không còn đi kèm với sự bảo vệ mù quáng. Nó đi kèm với mong muốn sửa mình, chậm rãi, vụng về, nhưng thành thật. Và có lẽ, đó là cách duy nhất để niềm kiêu hãnh không trở thành gánh nặng, chỉ là trở thành một thứ ánh sáng đủ dịu, để soi đường cho chính tôi và cho những người đi ngang qua đời mình.
Tác giả: Nguyễn quỳnh Hoa.
 
Chỉnh sửa cuối:

DungPhuong0712

Xe tăng
Biển số
OF-860767
Ngày cấp bằng
5/6/24
Số km
1,786
Động cơ
133,717 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội Phố
Gốc Hà Nam, ở HN gần 50 năm và vẫn đang ăn bám vợ =))
Tầm này one Việt Nam rồi, hỏi khó nhau làm gì
 

DungPhuong0712

Xe tăng
Biển số
OF-860767
Ngày cấp bằng
5/6/24
Số km
1,786
Động cơ
133,717 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội Phố
ĐÁNG SUY NGẪM …
Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng vẫn sẵn sàng để bị lay động.

Chuyến bay từ Nội Bài vào một tối cuối năm khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn thường lệ. Tôi tình cờ đứng gần hai gia đình trẻ - một nói giọng Bắc, một nói giọng Nam. Không rõ là ngẫu nhiên hay do trí nhớ chọn lọc, nhưng trong nhiều chuyến bay quay lại Nhật, tôi thường bắt gặp những tình huống tương tự. Chúng dần trở thành một thứ định kiến trong tôi, và tôi xin thú thật như vậy, dù rõ ràng nó thật phiến diện.

Tôi muốn nói trước điều này, dù có phần buồn: Trong những lần tiếp xúc ngắn ngủi với người miền Nam trên các chuyến bay ấy, tôi thường mang về những ấn tượng tốt. Từ tác phong đến cách giao tiếp, mọi thứ đều nhẹ nhàng và có chừng mực. Cách họ xếp hàng, quan sát lối đi, để ý người khác dường như luôn chừa ra một khoảng vừa đủ cho sự lịch thiệp. Trong nhà vệ sinh sân bay, giữa dòng người mệt mỏi, tôi đã nhiều lần nghe thấy một giọng miền Nam rất khẽ:

“Dạ, xin lỗi cho em qua.”

Một câu nói nhỏ thôi, nhưng đủ khiến lòng người dịu lại.

Rồi tôi quay về với chuyến bay gần đây nhất. Trong khu vực nhập cảnh khai báo hành lý, tôi đứng sau hai gia đình Việt, lại là một Bắc, một Nam và cả hai đều có con nhỏ. Ở gia đình miền Bắc, người chồng liên tục càu nhàu vợ vì con khóc, vì con đòi đồ chơi, vì chiếc bánh mang theo có chứa chà bông. Giọng nói gắt gỏng vang lên giữa không gian vốn đã căng thẳng, khiến tôi có phần e ngại. Người vợ thì cúi gằm mặt, lặng lẽ và ngại ngùng.

Ở phía bên kia, gia đình miền Nam hoàn toàn trái ngược. Người chồng bế con suốt quá trình làm thủ tục, thỉnh thoảng quay sang hỏi vợ có mệt không, lặng lẽ xử lý mọi giấy tờ mà không một lời than phiền.

Tôi khó gọi tên cảm giác của mình lúc ấy. Chỉ biết rằng đó không phải lần đầu tôi chứng kiến những cảnh tương tự, từ cách xếp hàng, cách nói chuyện trong gia đình, cho đến thái độ với người xa lạ. Tôi không muốn và cũng không tin vào việc phân biệt vùng miền. Tôi luôn phản đối điều đó. Nhưng ít nhất, trong những khoảnh khắc rất đời và rất ngắn ấy, tôi buộc phải thừa nhận, trong tôi nảy sinh một sự ngưỡng mộ. Không phải vì họ đến từ đâu, mà vì cách họ đối xử với nhau và với thế giới xung quanh, đủ tử tế để được nhìn nhận một cách xứng đáng.

Và chính ở đó, tôi bắt đầu thấy niềm kiêu hãnh của mình không còn đứng vững như trước.

Tôi chợt nhận ra, niềm kiêu hãnh mà tôi mang theo, thứ tôi từng nghĩ là bản sắc Hà Nội, đôi khi đã bị tôi nhầm lẫn với quyền được khó chịu. Quyền được cáu kỉnh khi mệt, được lớn tiếng khi không vừa ý, được tin rằng sự thẳng thắn của mình là trung thực, còn sự dịu dàng của người khác chỉ là tính cách. Tôi đã sống đủ lâu trong những con phố hẹp, những căn nhà chật, những buổi sáng chen chúc để tin rằng gắt gỏng là điều có thể thông cảm. Nhưng có lẽ, thông cảm quá lâu, người ta sẽ quên mất cách giữ gìn.

Đứng giữa sân bay, nơi không ai thực sự thuộc về, tôi thấy rõ sự khác biệt giữa chịu đựng và chăm sóc. Hai đứa trẻ khóc như nhau, cùng mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Nhưng cách người lớn phản ứng đã tạo ra hai thế giới khác hẳn. Ở một bên, mệt mỏi được trút xuống người gần nhất. Ở bên kia, mệt mỏi được gánh lên vai một người, rồi vì thế, nhẹ đi cho cả gia đình.

Tôi tự hỏi, phải chăng điều tôi ngưỡng mộ không nằm ở vùng miền mà nằm ở một thứ văn hóa ứng xử đã được rèn giũa qua nhiều thế hệ? Một văn hóa coi sự nhỏ nhẹ không phải là yếu đuối mà là lựa chọn. Coi việc giữ giọng thấp xuống là một cách giữ gìn nhân phẩm cho cả mình và người đối diện. Trong cái cách nói “dạ” rất khẽ ấy, tôi nghe thấy không phải sự nhún nhường. Đó là sự tự tin, tự tin rằng mình không cần lớn tiếng để được tôn trọng.

Tôi nghĩ về Hà Nội của tôi, thành phố mà tôi yêu bằng một tình yêu vừa kiêu kì vừa mệt mỏi. Hà Nội từng rất chậm, rất ý tứ. Người ta từng biết hạ giọng trong bữa ăn, biết tránh làm phiền người khác, biết giữ thể diện cho nhau bằng im lặng. Nhưng rồi nhịp sống gấp gáp, những va chạm dồn nén và cảm giác luôn phải giành phần hơn đã khiến chúng tôi quên mất rằng lịch sự cũng là một dạng sức mạnh.

Có lẽ vì thế mà tôi tò mò. Không phải tò mò về miền Nam như một đối cực, mà có lẽ tôi tò mò về khả năng lựa chọn của con người. Là lựa chọn nói nhẹ hay nói nặng, lựa chọn bế con hay trách vợ, lựa chọn làm dịu một không gian hay làm nó căng thêm. Những lựa chọn rất nhỏ nhưng tích tụ lại thành khí hậu tinh thần của một cộng đồng.

Khi chuyến bay kết thúc, tôi kéo vali đi giữa dòng người nhập cảnh. Tôi vẫn là người Hà Nội, với niềm kiêu hãnh của mình. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy, sau những chuyến đi, đã bắt đầu đổi hình dạng. Nó không còn là cảm giác mình đến từ đâu, giờ đây nó đã là câu hỏi mình đã đối xử với người khác như thế nào.

Có những lúc, người ta lớn tiếng không phải vì mạnh mẽ, có lẽ phần nhiều vì đã kiệt sức. Kiệt sức vì phải gồng lên suốt một quãng đời dài, vì phải chứng minh mình đúng, mình hơn, mình không thua kém. Tôi đã quen với thứ mệt mỏi ấy đến mức tưởng nó là bản lĩnh. Cho đến khi đứng giữa sân bay xa lạ, nhìn một người đàn ông lặng lẽ bế con, tôi mới thấy, hóa ra bản lĩnh có thể im lặng và im lặng ấy không hề yếu ớt.

Tôi chợt nghĩ về những người đàn ông Hà Nội quanh mình, những người cha, người chồng, người anh. Phần nhiều đều yêu gia đình nhưng lại hiếm khi được dạy cách thể hiện tình yêu mà không làm đau người khác. Yêu, trong nhiều trường hợp, đồng nghĩa với lo lắng; lo lắng kéo theo kiểm soát; kiểm soát sinh ra cáu gắt. Và rồi, sự quan tâm biến thành áp lực, lúc nào không hay. Có lẽ, chúng tôi đã học cách gánh trách nhiệm nhưng chưa học đủ cách chia sẻ gánh nặng.

Sân bay lúc ấy đông hơn. Tiếng loa thông báo, tiếng bánh xe vali, tiếng trẻ con khóc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh mệt mỏi rất người. Tôi đứng giữa đó, bỗng thấy mình không còn muốn quan sát để so sánh nữa. Thay vào đó, tôi muốn quan sát để hiểu. Hiểu rằng mỗi vùng đất sinh ra con người với những cách chịu đựng khác nhau. Có nơi dạy người ta phải cứng, có nơi dạy người ta nên mềm. Và cả hai, suy cho cùng, đều là cách để sống sót.

Nhưng sống sót khác với sống đẹp. Và sống đẹp, có lẽ, bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức dễ bị coi thường - một câu xin lỗi, một cái hỏi han, một cánh tay chìa ra đúng lúc. Sự tử tế không cần hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại.

Khi tôi bước ra khỏi sân bay, không khí lạnh tràn vào phổi. Thành phố mới đón tôi bằng sự im lặng quen thuộc của một nơi tôi đã chọn để sống. Tôi kéo cổ áo lên, đi chậm lại. Trong đầu tôi, niềm kiêu hãnh Hà Nội không còn đứng ở vị trí đối đầu với sự ngưỡng mộ miền khác. Nó đứng cạnh, khiêm tốn hơn, lắng nghe hơn, lặng lẽ hơn.

Có lẽ, trưởng thành không phải là thôi kiêu hãnh, mà là học cách đặt niềm kiêu hãnh ấy xuống thấp hơn người khác một chút. Thấp đến mức mình có thể cúi đầu xin lỗi. Thấp đến mức mình có thể bế con thay vì trách móc. Thấp đến mức, giữa một sân bay đông người, giọng nói của mình không lấn át giọng ai khác, chỉ đủ để giữ lại một chút ấm áp cho những người đang rất mệt.

Tôi chợt hiểu vì sao những câu nói nhỏ nhẹ lại có sức bền đến thế. Chúng không gây ấn tượng mạnh tức thì, nhưng thấm vào lòng rất sâu. Như mưa phùn Hà Nội, không ồn ào, không dữ dội, chỉ đủ để làm ướt áo ai đó đi rất xa. Có điều, mưa phùn mà kéo dài quá, cũng khiến người ta lạnh. Có lẽ, điều chúng tôi thiếu không phải là sự dịu dàng mà là sự dịu dàng đúng lúc, không biến thành nhẫn nhịn.

Tôi không còn muốn biện minh cho vùng đất mình sinh ra, cũng không muốn lý tưởng hóa vùng đất khác. Mỗi miền đều có những vết xước riêng, những nỗi mệt riêng. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, sau những chuyến bay dài và những lần đứng giữa đám đông vô danh, là khả năng tự hỏi mình. Trong khoảnh khắc này, mình có thể làm gì để không khiến người khác nặng thêm?

Tôi vẫn là người Hà Nội. Tôi vẫn yêu thành phố ấy với tất cả những mâu thuẫn của nó. Nhưng giờ đây, tình yêu ấy không còn đi kèm với sự bảo vệ mù quáng. Nó đi kèm với mong muốn sửa mình, chậm rãi, vụng về, nhưng thành thật. Và có lẽ, đó là cách duy nhất để niềm kiêu hãnh không trở thành gánh nặng, chỉ là trở thành một thứ ánh sáng đủ dịu, để soi đường cho chính tôi và cho những người đi ngang qua đời mình.
Đọc bài này như kiểu phân biệt N và B ấy nhỉ?
 

Kiên Khùng

Xe container
Biển số
OF-785718
Ngày cấp bằng
27/7/21
Số km
7,394
Động cơ
162,882 Mã lực
ĐÁNG SUY NGẪM …
Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng vẫn sẵn sàng để bị lay động.

Chuyến bay từ Nội Bài vào một tối cuối năm khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn thường lệ. Tôi tình cờ đứng gần hai gia đình trẻ - một nói giọng Bắc, một nói giọng Nam. Không rõ là ngẫu nhiên hay do trí nhớ chọn lọc, nhưng trong nhiều chuyến bay quay lại Nhật, tôi thường bắt gặp những tình huống tương tự. Chúng dần trở thành một thứ định kiến trong tôi, và tôi xin thú thật như vậy, dù rõ ràng nó thật phiến diện.

Tôi muốn nói trước điều này, dù có phần buồn: Trong những lần tiếp xúc ngắn ngủi với người miền Nam trên các chuyến bay ấy, tôi thường mang về những ấn tượng tốt. Từ tác phong đến cách giao tiếp, mọi thứ đều nhẹ nhàng và có chừng mực. Cách họ xếp hàng, quan sát lối đi, để ý người khác dường như luôn chừa ra một khoảng vừa đủ cho sự lịch thiệp. Trong nhà vệ sinh sân bay, giữa dòng người mệt mỏi, tôi đã nhiều lần nghe thấy một giọng miền Nam rất khẽ:

“Dạ, xin lỗi cho em qua.”

Một câu nói nhỏ thôi, nhưng đủ khiến lòng người dịu lại.

Rồi tôi quay về với chuyến bay gần đây nhất. Trong khu vực nhập cảnh khai báo hành lý, tôi đứng sau hai gia đình Việt, lại là một Bắc, một Nam và cả hai đều có con nhỏ. Ở gia đình miền Bắc, người chồng liên tục càu nhàu vợ vì con khóc, vì con đòi đồ chơi, vì chiếc bánh mang theo có chứa chà bông. Giọng nói gắt gỏng vang lên giữa không gian vốn đã căng thẳng, khiến tôi có phần e ngại. Người vợ thì cúi gằm mặt, lặng lẽ và ngại ngùng.

Ở phía bên kia, gia đình miền Nam hoàn toàn trái ngược. Người chồng bế con suốt quá trình làm thủ tục, thỉnh thoảng quay sang hỏi vợ có mệt không, lặng lẽ xử lý mọi giấy tờ mà không một lời than phiền.

Tôi khó gọi tên cảm giác của mình lúc ấy. Chỉ biết rằng đó không phải lần đầu tôi chứng kiến những cảnh tương tự, từ cách xếp hàng, cách nói chuyện trong gia đình, cho đến thái độ với người xa lạ. Tôi không muốn và cũng không tin vào việc phân biệt vùng miền. Tôi luôn phản đối điều đó. Nhưng ít nhất, trong những khoảnh khắc rất đời và rất ngắn ấy, tôi buộc phải thừa nhận, trong tôi nảy sinh một sự ngưỡng mộ. Không phải vì họ đến từ đâu, mà vì cách họ đối xử với nhau và với thế giới xung quanh, đủ tử tế để được nhìn nhận một cách xứng đáng.

Và chính ở đó, tôi bắt đầu thấy niềm kiêu hãnh của mình không còn đứng vững như trước.

Tôi chợt nhận ra, niềm kiêu hãnh mà tôi mang theo, thứ tôi từng nghĩ là bản sắc Hà Nội, đôi khi đã bị tôi nhầm lẫn với quyền được khó chịu. Quyền được cáu kỉnh khi mệt, được lớn tiếng khi không vừa ý, được tin rằng sự thẳng thắn của mình là trung thực, còn sự dịu dàng của người khác chỉ là tính cách. Tôi đã sống đủ lâu trong những con phố hẹp, những căn nhà chật, những buổi sáng chen chúc để tin rằng gắt gỏng là điều có thể thông cảm. Nhưng có lẽ, thông cảm quá lâu, người ta sẽ quên mất cách giữ gìn.

Đứng giữa sân bay, nơi không ai thực sự thuộc về, tôi thấy rõ sự khác biệt giữa chịu đựng và chăm sóc. Hai đứa trẻ khóc như nhau, cùng mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Nhưng cách người lớn phản ứng đã tạo ra hai thế giới khác hẳn. Ở một bên, mệt mỏi được trút xuống người gần nhất. Ở bên kia, mệt mỏi được gánh lên vai một người, rồi vì thế, nhẹ đi cho cả gia đình.

Tôi tự hỏi, phải chăng điều tôi ngưỡng mộ không nằm ở vùng miền mà nằm ở một thứ văn hóa ứng xử đã được rèn giũa qua nhiều thế hệ? Một văn hóa coi sự nhỏ nhẹ không phải là yếu đuối mà là lựa chọn. Coi việc giữ giọng thấp xuống là một cách giữ gìn nhân phẩm cho cả mình và người đối diện. Trong cái cách nói “dạ” rất khẽ ấy, tôi nghe thấy không phải sự nhún nhường. Đó là sự tự tin, tự tin rằng mình không cần lớn tiếng để được tôn trọng.

Tôi nghĩ về Hà Nội của tôi, thành phố mà tôi yêu bằng một tình yêu vừa kiêu kì vừa mệt mỏi. Hà Nội từng rất chậm, rất ý tứ. Người ta từng biết hạ giọng trong bữa ăn, biết tránh làm phiền người khác, biết giữ thể diện cho nhau bằng im lặng. Nhưng rồi nhịp sống gấp gáp, những va chạm dồn nén và cảm giác luôn phải giành phần hơn đã khiến chúng tôi quên mất rằng lịch sự cũng là một dạng sức mạnh.

Có lẽ vì thế mà tôi tò mò. Không phải tò mò về miền Nam như một đối cực, mà có lẽ tôi tò mò về khả năng lựa chọn của con người. Là lựa chọn nói nhẹ hay nói nặng, lựa chọn bế con hay trách vợ, lựa chọn làm dịu một không gian hay làm nó căng thêm. Những lựa chọn rất nhỏ nhưng tích tụ lại thành khí hậu tinh thần của một cộng đồng.

Khi chuyến bay kết thúc, tôi kéo vali đi giữa dòng người nhập cảnh. Tôi vẫn là người Hà Nội, với niềm kiêu hãnh của mình. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy, sau những chuyến đi, đã bắt đầu đổi hình dạng. Nó không còn là cảm giác mình đến từ đâu, giờ đây nó đã là câu hỏi mình đã đối xử với người khác như thế nào.

Có những lúc, người ta lớn tiếng không phải vì mạnh mẽ, có lẽ phần nhiều vì đã kiệt sức. Kiệt sức vì phải gồng lên suốt một quãng đời dài, vì phải chứng minh mình đúng, mình hơn, mình không thua kém. Tôi đã quen với thứ mệt mỏi ấy đến mức tưởng nó là bản lĩnh. Cho đến khi đứng giữa sân bay xa lạ, nhìn một người đàn ông lặng lẽ bế con, tôi mới thấy, hóa ra bản lĩnh có thể im lặng và im lặng ấy không hề yếu ớt.

Tôi chợt nghĩ về những người đàn ông Hà Nội quanh mình, những người cha, người chồng, người anh. Phần nhiều đều yêu gia đình nhưng lại hiếm khi được dạy cách thể hiện tình yêu mà không làm đau người khác. Yêu, trong nhiều trường hợp, đồng nghĩa với lo lắng; lo lắng kéo theo kiểm soát; kiểm soát sinh ra cáu gắt. Và rồi, sự quan tâm biến thành áp lực, lúc nào không hay. Có lẽ, chúng tôi đã học cách gánh trách nhiệm nhưng chưa học đủ cách chia sẻ gánh nặng.

Sân bay lúc ấy đông hơn. Tiếng loa thông báo, tiếng bánh xe vali, tiếng trẻ con khóc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh mệt mỏi rất người. Tôi đứng giữa đó, bỗng thấy mình không còn muốn quan sát để so sánh nữa. Thay vào đó, tôi muốn quan sát để hiểu. Hiểu rằng mỗi vùng đất sinh ra con người với những cách chịu đựng khác nhau. Có nơi dạy người ta phải cứng, có nơi dạy người ta nên mềm. Và cả hai, suy cho cùng, đều là cách để sống sót.

Nhưng sống sót khác với sống đẹp. Và sống đẹp, có lẽ, bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức dễ bị coi thường - một câu xin lỗi, một cái hỏi han, một cánh tay chìa ra đúng lúc. Sự tử tế không cần hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại.

Khi tôi bước ra khỏi sân bay, không khí lạnh tràn vào phổi. Thành phố mới đón tôi bằng sự im lặng quen thuộc của một nơi tôi đã chọn để sống. Tôi kéo cổ áo lên, đi chậm lại. Trong đầu tôi, niềm kiêu hãnh Hà Nội không còn đứng ở vị trí đối đầu với sự ngưỡng mộ miền khác. Nó đứng cạnh, khiêm tốn hơn, lắng nghe hơn, lặng lẽ hơn.

Có lẽ, trưởng thành không phải là thôi kiêu hãnh, mà là học cách đặt niềm kiêu hãnh ấy xuống thấp hơn người khác một chút. Thấp đến mức mình có thể cúi đầu xin lỗi. Thấp đến mức mình có thể bế con thay vì trách móc. Thấp đến mức, giữa một sân bay đông người, giọng nói của mình không lấn át giọng ai khác, chỉ đủ để giữ lại một chút ấm áp cho những người đang rất mệt.

Tôi chợt hiểu vì sao những câu nói nhỏ nhẹ lại có sức bền đến thế. Chúng không gây ấn tượng mạnh tức thì, nhưng thấm vào lòng rất sâu. Như mưa phùn Hà Nội, không ồn ào, không dữ dội, chỉ đủ để làm ướt áo ai đó đi rất xa. Có điều, mưa phùn mà kéo dài quá, cũng khiến người ta lạnh. Có lẽ, điều chúng tôi thiếu không phải là sự dịu dàng mà là sự dịu dàng đúng lúc, không biến thành nhẫn nhịn.

Tôi không còn muốn biện minh cho vùng đất mình sinh ra, cũng không muốn lý tưởng hóa vùng đất khác. Mỗi miền đều có những vết xước riêng, những nỗi mệt riêng. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, sau những chuyến bay dài và những lần đứng giữa đám đông vô danh, là khả năng tự hỏi mình. Trong khoảnh khắc này, mình có thể làm gì để không khiến người khác nặng thêm?

Tôi vẫn là người Hà Nội. Tôi vẫn yêu thành phố ấy với tất cả những mâu thuẫn của nó. Nhưng giờ đây, tình yêu ấy không còn đi kèm với sự bảo vệ mù quáng. Nó đi kèm với mong muốn sửa mình, chậm rãi, vụng về, nhưng thành thật. Và có lẽ, đó là cách duy nhất để niềm kiêu hãnh không trở thành gánh nặng, chỉ là trở thành một thứ ánh sáng đủ dịu, để soi đường cho chính tôi và cho những người đi ngang qua đời mình.
Em đọc hết mà chờ mãi không biết tác giả là ai.
Là cụ hay ai?
 

Honghen2008

Xe lăn
Biển số
OF-423435
Ngày cấp bằng
19/5/16
Số km
13,851
Động cơ
559,965 Mã lực

Kiên Khùng

Xe container
Biển số
OF-785718
Ngày cấp bằng
27/7/21
Số km
7,394
Động cơ
162,882 Mã lực
ĐÁNG SUY NGẪM …
Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng vẫn sẵn sàng để bị lay động.

Chuyến bay từ Nội Bài vào một tối cuối năm khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn thường lệ. Tôi tình cờ đứng gần hai gia đình trẻ - một nói giọng Bắc, một nói giọng Nam. Không rõ là ngẫu nhiên hay do trí nhớ chọn lọc, nhưng trong nhiều chuyến bay quay lại Nhật, tôi thường bắt gặp những tình huống tương tự. Chúng dần trở thành một thứ định kiến trong tôi, và tôi xin thú thật như vậy, dù rõ ràng nó thật phiến diện.

Tôi muốn nói trước điều này, dù có phần buồn: Trong những lần tiếp xúc ngắn ngủi với người miền Nam trên các chuyến bay ấy, tôi thường mang về những ấn tượng tốt. Từ tác phong đến cách giao tiếp, mọi thứ đều nhẹ nhàng và có chừng mực. Cách họ xếp hàng, quan sát lối đi, để ý người khác dường như luôn chừa ra một khoảng vừa đủ cho sự lịch thiệp. Trong nhà vệ sinh sân bay, giữa dòng người mệt mỏi, tôi đã nhiều lần nghe thấy một giọng miền Nam rất khẽ:

“Dạ, xin lỗi cho em qua.”

Một câu nói nhỏ thôi, nhưng đủ khiến lòng người dịu lại.

Rồi tôi quay về với chuyến bay gần đây nhất. Trong khu vực nhập cảnh khai báo hành lý, tôi đứng sau hai gia đình Việt, lại là một Bắc, một Nam và cả hai đều có con nhỏ. Ở gia đình miền Bắc, người chồng liên tục càu nhàu vợ vì con khóc, vì con đòi đồ chơi, vì chiếc bánh mang theo có chứa chà bông. Giọng nói gắt gỏng vang lên giữa không gian vốn đã căng thẳng, khiến tôi có phần e ngại. Người vợ thì cúi gằm mặt, lặng lẽ và ngại ngùng.

Ở phía bên kia, gia đình miền Nam hoàn toàn trái ngược. Người chồng bế con suốt quá trình làm thủ tục, thỉnh thoảng quay sang hỏi vợ có mệt không, lặng lẽ xử lý mọi giấy tờ mà không một lời than phiền.

Tôi khó gọi tên cảm giác của mình lúc ấy. Chỉ biết rằng đó không phải lần đầu tôi chứng kiến những cảnh tương tự, từ cách xếp hàng, cách nói chuyện trong gia đình, cho đến thái độ với người xa lạ. Tôi không muốn và cũng không tin vào việc phân biệt vùng miền. Tôi luôn phản đối điều đó. Nhưng ít nhất, trong những khoảnh khắc rất đời và rất ngắn ấy, tôi buộc phải thừa nhận, trong tôi nảy sinh một sự ngưỡng mộ. Không phải vì họ đến từ đâu, mà vì cách họ đối xử với nhau và với thế giới xung quanh, đủ tử tế để được nhìn nhận một cách xứng đáng.

Và chính ở đó, tôi bắt đầu thấy niềm kiêu hãnh của mình không còn đứng vững như trước.

Tôi chợt nhận ra, niềm kiêu hãnh mà tôi mang theo, thứ tôi từng nghĩ là bản sắc Hà Nội, đôi khi đã bị tôi nhầm lẫn với quyền được khó chịu. Quyền được cáu kỉnh khi mệt, được lớn tiếng khi không vừa ý, được tin rằng sự thẳng thắn của mình là trung thực, còn sự dịu dàng của người khác chỉ là tính cách. Tôi đã sống đủ lâu trong những con phố hẹp, những căn nhà chật, những buổi sáng chen chúc để tin rằng gắt gỏng là điều có thể thông cảm. Nhưng có lẽ, thông cảm quá lâu, người ta sẽ quên mất cách giữ gìn.

Đứng giữa sân bay, nơi không ai thực sự thuộc về, tôi thấy rõ sự khác biệt giữa chịu đựng và chăm sóc. Hai đứa trẻ khóc như nhau, cùng mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Nhưng cách người lớn phản ứng đã tạo ra hai thế giới khác hẳn. Ở một bên, mệt mỏi được trút xuống người gần nhất. Ở bên kia, mệt mỏi được gánh lên vai một người, rồi vì thế, nhẹ đi cho cả gia đình.

Tôi tự hỏi, phải chăng điều tôi ngưỡng mộ không nằm ở vùng miền mà nằm ở một thứ văn hóa ứng xử đã được rèn giũa qua nhiều thế hệ? Một văn hóa coi sự nhỏ nhẹ không phải là yếu đuối mà là lựa chọn. Coi việc giữ giọng thấp xuống là một cách giữ gìn nhân phẩm cho cả mình và người đối diện. Trong cái cách nói “dạ” rất khẽ ấy, tôi nghe thấy không phải sự nhún nhường. Đó là sự tự tin, tự tin rằng mình không cần lớn tiếng để được tôn trọng.

Tôi nghĩ về Hà Nội của tôi, thành phố mà tôi yêu bằng một tình yêu vừa kiêu kì vừa mệt mỏi. Hà Nội từng rất chậm, rất ý tứ. Người ta từng biết hạ giọng trong bữa ăn, biết tránh làm phiền người khác, biết giữ thể diện cho nhau bằng im lặng. Nhưng rồi nhịp sống gấp gáp, những va chạm dồn nén và cảm giác luôn phải giành phần hơn đã khiến chúng tôi quên mất rằng lịch sự cũng là một dạng sức mạnh.

Có lẽ vì thế mà tôi tò mò. Không phải tò mò về miền Nam như một đối cực, mà có lẽ tôi tò mò về khả năng lựa chọn của con người. Là lựa chọn nói nhẹ hay nói nặng, lựa chọn bế con hay trách vợ, lựa chọn làm dịu một không gian hay làm nó căng thêm. Những lựa chọn rất nhỏ nhưng tích tụ lại thành khí hậu tinh thần của một cộng đồng.

Khi chuyến bay kết thúc, tôi kéo vali đi giữa dòng người nhập cảnh. Tôi vẫn là người Hà Nội, với niềm kiêu hãnh của mình. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy, sau những chuyến đi, đã bắt đầu đổi hình dạng. Nó không còn là cảm giác mình đến từ đâu, giờ đây nó đã là câu hỏi mình đã đối xử với người khác như thế nào.

Có những lúc, người ta lớn tiếng không phải vì mạnh mẽ, có lẽ phần nhiều vì đã kiệt sức. Kiệt sức vì phải gồng lên suốt một quãng đời dài, vì phải chứng minh mình đúng, mình hơn, mình không thua kém. Tôi đã quen với thứ mệt mỏi ấy đến mức tưởng nó là bản lĩnh. Cho đến khi đứng giữa sân bay xa lạ, nhìn một người đàn ông lặng lẽ bế con, tôi mới thấy, hóa ra bản lĩnh có thể im lặng và im lặng ấy không hề yếu ớt.

Tôi chợt nghĩ về những người đàn ông Hà Nội quanh mình, những người cha, người chồng, người anh. Phần nhiều đều yêu gia đình nhưng lại hiếm khi được dạy cách thể hiện tình yêu mà không làm đau người khác. Yêu, trong nhiều trường hợp, đồng nghĩa với lo lắng; lo lắng kéo theo kiểm soát; kiểm soát sinh ra cáu gắt. Và rồi, sự quan tâm biến thành áp lực, lúc nào không hay. Có lẽ, chúng tôi đã học cách gánh trách nhiệm nhưng chưa học đủ cách chia sẻ gánh nặng.

Sân bay lúc ấy đông hơn. Tiếng loa thông báo, tiếng bánh xe vali, tiếng trẻ con khóc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh mệt mỏi rất người. Tôi đứng giữa đó, bỗng thấy mình không còn muốn quan sát để so sánh nữa. Thay vào đó, tôi muốn quan sát để hiểu. Hiểu rằng mỗi vùng đất sinh ra con người với những cách chịu đựng khác nhau. Có nơi dạy người ta phải cứng, có nơi dạy người ta nên mềm. Và cả hai, suy cho cùng, đều là cách để sống sót.

Nhưng sống sót khác với sống đẹp. Và sống đẹp, có lẽ, bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức dễ bị coi thường - một câu xin lỗi, một cái hỏi han, một cánh tay chìa ra đúng lúc. Sự tử tế không cần hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại.

Khi tôi bước ra khỏi sân bay, không khí lạnh tràn vào phổi. Thành phố mới đón tôi bằng sự im lặng quen thuộc của một nơi tôi đã chọn để sống. Tôi kéo cổ áo lên, đi chậm lại. Trong đầu tôi, niềm kiêu hãnh Hà Nội không còn đứng ở vị trí đối đầu với sự ngưỡng mộ miền khác. Nó đứng cạnh, khiêm tốn hơn, lắng nghe hơn, lặng lẽ hơn.

Có lẽ, trưởng thành không phải là thôi kiêu hãnh, mà là học cách đặt niềm kiêu hãnh ấy xuống thấp hơn người khác một chút. Thấp đến mức mình có thể cúi đầu xin lỗi. Thấp đến mức mình có thể bế con thay vì trách móc. Thấp đến mức, giữa một sân bay đông người, giọng nói của mình không lấn át giọng ai khác, chỉ đủ để giữ lại một chút ấm áp cho những người đang rất mệt.

Tôi chợt hiểu vì sao những câu nói nhỏ nhẹ lại có sức bền đến thế. Chúng không gây ấn tượng mạnh tức thì, nhưng thấm vào lòng rất sâu. Như mưa phùn Hà Nội, không ồn ào, không dữ dội, chỉ đủ để làm ướt áo ai đó đi rất xa. Có điều, mưa phùn mà kéo dài quá, cũng khiến người ta lạnh. Có lẽ, điều chúng tôi thiếu không phải là sự dịu dàng mà là sự dịu dàng đúng lúc, không biến thành nhẫn nhịn.

Tôi không còn muốn biện minh cho vùng đất mình sinh ra, cũng không muốn lý tưởng hóa vùng đất khác. Mỗi miền đều có những vết xước riêng, những nỗi mệt riêng. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, sau những chuyến bay dài và những lần đứng giữa đám đông vô danh, là khả năng tự hỏi mình. Trong khoảnh khắc này, mình có thể làm gì để không khiến người khác nặng thêm?

Tôi vẫn là người Hà Nội. Tôi vẫn yêu thành phố ấy với tất cả những mâu thuẫn của nó. Nhưng giờ đây, tình yêu ấy không còn đi kèm với sự bảo vệ mù quáng. Nó đi kèm với mong muốn sửa mình, chậm rãi, vụng về, nhưng thành thật. Và có lẽ, đó là cách duy nhất để niềm kiêu hãnh không trở thành gánh nặng, chỉ là trở thành một thứ ánh sáng đủ dịu, để soi đường cho chính tôi và cho những người đi ngang qua đời mình.
Tác giả: Nguyễn quỳnh Hoa.
Chuyện này thường xảy ra đối với cư dân tiêu biểu của một nơi tương đối cách biệt với những nơi khác về văn hóa, khác biệt về hoàn cảnh kinh tế xã hội trong 1 thời gian tính bằng thế hệ khi va chạm với vùng văn hóa khác, đặc biệt là những nơi vốn được ưu ái nhiều ngợi ca.
Ví dụ tôi từ chỗ chỉ tin rằng món ăn Huế là siêu việt, là độc nhất thủa tuổi 20, đến nay thì thấy ở đâu cũng siêu việt cũng độc đáo cả.
 

Honghen2008

Xe lăn
Biển số
OF-423435
Ngày cấp bằng
19/5/16
Số km
13,851
Động cơ
559,965 Mã lực
Chuyện này thường xảy ra đối với cư dân tiêu biểu của một nơi tương đối cách biệt với những nơi khác về văn hóa, khác biệt về hoàn cảnh kinh tế xã hội trong 1 thời gian tính bằng thế hệ khi va chạm với vùng văn hóa khác, đặc biệt là những nơi vốn được ưu ái nhiều ngợi ca.
Ví dụ tôi từ chỗ chỉ tin rằng món ăn Huế là siêu việt, là độc nhất thủa tuổi 20, đến nay thì thấy ở đâu cũng siêu việt cũng độc đáo cả.
Cứ đọc để có thêm cái nhìn nữa thôi Cụ, chắc gì cái người giọng Bắc đó đã là người HN.Cứ yêu tiếp đi, cứ kiêu hãnh đi, sao mà phải chỉ vì chút dao động ở sân bay mà phải ngừng làm cái mình đang yêu mến. Cụ nhỉ?
 

Kiên Khùng

Xe container
Biển số
OF-785718
Ngày cấp bằng
27/7/21
Số km
7,394
Động cơ
162,882 Mã lực
Cứ đọc để có thêm cái nhìn nữa thôi Cụ, chắc gì cái người giọng Bắc đó đã là người HN.Cứ yêu tiếp đi, cứ kiêu hãnh đi, sao mà phải chỉ vì chút dao động ở sân bay mà phải ngừng làm cái mình đang yêu mến. Cụ nhỉ?
Tóm lại hàng này nửa nạc nửa mỡ.
Em giờ chỉ còn lại "tứ hải giai huynh đệ" nên nhìn đâu cũng thấy cái đẹp.
 

Honghen2008

Xe lăn
Biển số
OF-423435
Ngày cấp bằng
19/5/16
Số km
13,851
Động cơ
559,965 Mã lực
Tóm lại hàng này nửa nạc nửa mỡ.
Em giờ chỉ còn lại "tứ hải giai huynh đệ" nên nhìn đâu cũng thấy cái đẹp.
Chuẩn, anh hùng nó phải thế🤗 đẹp thì đẹp nhưng yêu thì không.
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
13/4/17
Số km
22,771
Động cơ
9,755,669 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Tóm lại hàng này nửa nạc nửa mỡ.
Em giờ chỉ còn lại "tứ hải giai huynh đệ" nên nhìn đâu cũng thấy cái đẹp.
Chuẩn, anh hùng nó phải thế🤗 đẹp thì đẹp nhưng yêu thì không.
Chắc hẳn nhiều bác đã đọc câu chuyện này, nhưng cũng cứ cùng đọc lại lần nữa. Đây là một trong những truyện em thích nhất, và càng ngày càng thấm.

Ông già làm gì cũng đúng - H.C.Andersen

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện mà tôi đã được nghe khi còn nhỏ. Mỗi lần nghĩ đến câu chuyện này, tôi cảm thấy dường như nó ngày càng hấp dẫn hơn bởi vì các câu chuyện cũng giống như con người ta - càng nhiều tuổi thì càng trở nên hiểu biết hơn.
Hãy mường tượng bạn đang ở trên đất nước này, và đã nhìn thấy một ngôi nhà tranh cũ kỹ trên mái đầy những cụm rêu và những cây nhỏ li ti. Những bức tường của ngôi nhà khá dốc còn những ô cửa sổ thì thấp lè tè, và chỉ có duy nhất một ô cửa có thể mở được. Lò nướng bánh được đắp thò ra ngoài bức tường giống như một người có cái bụng phệ. Một cây cơm cháy vươn lên khỏi hàng rào tỏa bóng xuống một cái ao nhỏ nơi có một đàn vịt con đang bơi bên dưới cây liễu khẳng khiu. Và ngôi nhà đó còn có một con chó thường cất tiếng sủa khi thấy có bóng người.
Ngôi nhà đơn sơ ấy ở vùng nông thôn, và trong nhà có một cặp vợ chồng già. Họ vốn đã nghèo, ấy thế mà trong nhà lại nuôi một con vật mà chẳng có cũng không sao - một con ngựa sống nhờ những ngọn cỏ mà nó tìm thấy ở vệ đường. Người nông dân già vào thị trấn bằng con ngựa đó, và hàng xóm thường mượn ngựa của ông để dùng rồi trả cho ông một chút tiền gọi là. Nhưng cặp vợ chồng già nghĩ nên bán con ngựa đi, hoặc đổi nó lấy thứ gì đó hữu ích đối với họ hơn. Nhưng đổi lấy thứ gì mới được chứ?
“Đổi lấy thứ gì thì chính ông là người biết rõ nhất, ông ạ,” bà vợ nói. “Hôm nay có hội chợ đấy, vậy ông hãy cưỡi ngựa vào thị trấn bán lấy tiền, hoặc đổi lấy thứ gì đó: bất cứ việc gì ông làm tôi đều thấy đúng cả. Hãy đến hội chợ đi.”
Và bà giúp ông thắt khăn quàng cổ. Bà thắt nó theo kiểu tạo nơ đúp, bởi vì bà thắt khăn kiểu đó rất khéo. Sau đó bà chải mũ cho ông bằng chiếc chổi cọ, rồi hôn tạm biệt ông. Vậy là ông cưỡi ngựa đến hội chợ để bán hoặc đổi lấy thứ gì đó. Ông biết mình phải làm gì.
Trời nắng chang chang: bầu trời trong vắt, không có một gợn mây. Đường bụi mù bởi nhiều người đổ về hội chợ bằng xe kéo, bằng ngựa hoặc đi bộ. Không có một chỗ nào để tránh nắng cả.
Trong số những người đi đường có một người đàn ông đang dắt một con bò cái đến hội chợ. Con bò thuộc loại bò cái đẹp nhất.
Con bò kia tốt sữa lắm, mình dám chắc như vậy, người nông dân nghĩ. Sẽ rất tốt nếu đổi con bò cái kia lấy con ngựa này.
"Xin chào anh bạn dắt bò!”, ông nói. “Chúng ta có thể nói chuyện một lát không? Tôi muốn nói với anh rằng con ngựa này có giá hơn con bò ấy nhưng tôi không quan tâm đến điều đó đâu: một con bò cái hữu ích với tôi hơn. Nếu anh thích, chúng ta sẽ đổi.”
“Đồng ý,” người đàn ông nói, và họ đổi bò và ngựa cho nhau.
Người nông dân đáng lẽ quay trở về nhà bởi vì ông đã thực hiện xong việc mà ông định làm, nhưng bởi vì ông đã quyết định đi đến hội chợ, ông sẽ đi đến tận nơi, dù chỉ để ngắm thôi. Vậy nên ông dắt cả con bò đến hội chợ.
Ông dắt bò bước về phía trước đầy quả quyết. Một lúc sau ông gặp một người đàn ông đang dắt một con cừu. Đó là một con cừu béo tốt với lớp lông thật mượt.
Mình muốn có con cừu đó, người nông dân tự nhủ. Dưới chân hàng rào nhà mình đầy cỏ và mùa đông mình sẽ cho nó vào trong nhà với vợ chồng mình. Có lẽ nuôi một con cừu thiết thực hơn nuôi một con bò. “Đổi nhé?”
Người đàn ông sở hữu con cừu đồng ý, và cuộc trao đổi được thực hiện. Người nông dân dắt cừu đến hội chợ. Đi đến gần một cái bục trèo ông nhìn thấy một người đàn ông khác ôm một con ngỗng cái rất to.
Con ngỗng đó chắc lắm đấy. Nó vừa béo vừa có nhiều lông, và sẽ rất hay nếu buộc dây cho nó để nó bơi trong ao nhà mình. Bà vợ của mình sẽ có được một số thứ. Bà ấy thường nói: “Ước gì chúng ta có một con ngỗng!” Bây giờ thì nó sẽ thuộc về bà ấy. “Chúng ta đổi nhé? Tôi sẽ đổi con cừu lấy con ngỗng, và cảm ơn ông nếu ông đồng ý.”
Người đàn ông kia bằng lòng, và họ thực hiện vụ trao đổi.
Ông già đã đi đến rất gần thị trấn. Càng đến gần thị trấn đường càng đông, người và gia súc chen nhau đi. Họ đi đến đoạn có cái rãnh ở bên đường, và ở chỗ có thanh chắn họ thậm chí phải bước xuống ruộng khoai tây nơi con gà của người thu phí qua đường đang khệnh khạng đi lại với cái dây buộc ở chân để giữ cho nó khỏi chạy mất vì sợ đám đông. Con gà có cái đuôi ngắn cũn cỡn ấy nheo mắt trông rất ngộ. Con gà kêu cục cục. Tôi chịu không thể nói cho các bạn biết nó đang nghĩ gì, nhưng vừa mới nhìn thấy nó, ông già chợt nghĩ: Đó là con gà đẹp nhất mà mình từng nhìn thấy trong đời! Nó đẹp hơn cả con gà mái đẻ của cha xứ. Thực tình, mình muốn có con gà đó. Một con gà luôn luôn tự bới để tìm thức ăn và chẳng cần phải trông nom gì cả. Mình nghĩ sẽ rất tốt nếu mình đổi con ngỗng này lấy con gà kia.
“Chúng ta đổi nhé?”, ông hỏi người thu phí.
“Đổi thì đổi!”, người đó đáp, “đổi như vậy cũng không thiệt.”
Vậy là họ đổi. Người thu phí qua đường ôm con ngỗng, còn ông già cắp con gà đi.
Gần đến hội chợ, ông cảm thấy nóng và mệt. Ông muốn có thứ gì đó để ăn, muốn uống một ly rượu brandy. Lát sau ông đứng trước một quán trọ. Ông sắp sửa bước vào quán thì người coi ngựa từ trong quán bước ra. Người coi ngựa xách một chiếc bao tải.
“Anh có gì trong bao thế?”, người nông dân hỏi.
“Táo chín,” người coi ngựa trả lời, “đầy một bao táo chín nẫu để cho lợn ăn.”
“Nhiều thế cơ à! Tôi ước gì bà vợ tôi ở nhà được thấy cả bao táo này. Năm ngoái cây táo già của nhà tôi chỉ ra được mỗi một quả và chúng tôi cứ để trong tủ cho đến khi nó chín nẫu và hỏng mất. Tài sản quý đấy, bà vợ tôi nói, nhưng ở đây có cả một khối tài sản lớn còn gì. Đúng vậy, tôi sẽ rất vui được khoe cả khối tài sản này với bà nhà tôi.”
“Ông sẽ cho tôi thứ gì để đổi lấy bao táo này?”, người coi ngựa hỏi.
“Tôi sẽ đổi con gà của tôi lấy bao táo.”
Nói rồi ông đưa con gà cho anh ta, và nhận bao táo đem vào quán trọ. Ông để bao táo dựa vào bếp lò và đi đến bàn tiếp khách. Bếp đang nóng nhưng ông không để ý. Phòng có nhiều khách - những người buôn ngựa, những lái buôn gia cầm, và hai quý ông người Anh - họ giàu đến nỗi túi quần túi áo của họ phát ra những tiếng lẻng xẻng của những đồng tiền vàng, và họ có thể chơi đánh cược, rồi các bạn sẽ thấy.
Xèo! Xèo! Cái gì ở gần bếp thế nhỉ? Táo nướng đấy!
“Cái gì cơ?”
Và họ mau chóng biết được toàn bộ câu chuyện, từ chi tiết đổi ngựa lấy bò cho đến những quả táo.
“Bà vợ ông sẽ không để ông yên đâu!”, một trong hai người Anh nói. “Ông sẽ bị rầy la đấy!”
“Tôi sẽ nhận được một cái hôn và không bị rầy la đâu,” người nông dân nói. “Vợ tôi sẽ nói, những gì ông làm luôn luôn đúng.”
“Chúng ta đánh cược nhé?”, quý ông người Anh nói. “Chúng ta sẽ đem vàng và thóc ra đánh cược nhé - một trăm đồng vàng ăn mười giạ lúa nhé!”
“Một giạ* thôi”, người nông dân đáp. “Tôi chỉ có thể đánh cược bằng một giạ táo thôi; và tôi đem cả tôi và bà vợ già của tôi ra đánh cược đấy - tôi cho rằng như thế là tương đương rồi.”
“Đồng ý - xong!”
Và điều kiện cá cược được thỏa thuận. Xe kéo chạy tới và hai người Anh bước lên xe, người nông dân cũng lên xe. Họ rời khỏi quán trọ và chẳng bao lâu xe đã dừng trước căn nhà tranh của người nông dân.
“Chào bà!”
“Chào ông!”
“Tôi đã đem ngựa đi đổi rồi.”
“Vâng, tôi biết,” bà vợ nói.
Và bà ôm ông, quên cả chiếc bao tải cùng hai vị khách.
“Tôi đã đổi con ngựa nhà mình lấy một con bò cái,” ông nói.
“Tạ ơn Chúa đã cho sữa!”, bà nói. “Bây giờ chúng ta sẽ có sữa, bơ và pho mát bày trên bàn ăn! Ông đổi như thế là lời nhất rồi!”
“Đúng vậy, nhưng sau đó tôi lại đổi con bò lấy một con cừu.”
“Ồ, vậy thì còn tốt hơn!”, bà vợ reo lên. “Ông luôn tính toán chu toàn. Chúng ta có đủ cỏ cho một con cừu. Sữa của cừu cái, pho mát, áo len và tất lông cừu. Một con bò sữa không thể cho những thứ đó, mà lông bò thì chẳng có ích gì. Ông tính giỏi đấy!”
“Nhưng tôi lại đem con cừu đổi lấy một con ngỗng.”
“Vậy thì năm nay vào Lễ thánh Mác-tin chúng ta sẽ có một con ngỗng thật để ăn rồi! Ông luôn nghĩ đến những gì làm tôi vui. Thật hấp dẫn! Chúng ta có thể buộc dây vào chân ngỗng để nó đi loanh quanh cho đến Lễ thánh Mác-tin.”
“Nhưng tôi lại đổi con ngỗng lấy một con gà mái rồi, bà nó ạ”, ông già nói.
“Một con gà ư? Đổi như vậy tốt quá!”, bà vợ nói. “Con gà mái sẽ đẻ trứng rồi ấp trứng, và chúng ta sẽ có gà con, sẽ có đầy một sân gà! Ôi đó đúng là điều tôi ao ước đấy ông ạ.”
“Nhưng tôi lại đổi con gà lấy một bao táo chín rồi.”
“Gì cơ! Tôi phải hôn ông mới được,” bà vợ reo lên. “Ông chồng yêu quý của tôi! Tôi sẽ nói cho ông nghe điều này. Ông có biết khi ông rời khỏi nhà sáng nay tôi cứ nghĩ làm thế nào tối nay tôi có thể nấu cho ông món gì đó thật ngon. Tôi đã nghĩ có thể tôi sẽ làm bánh bột nhào sữa trứng với rau thơm. Tôi có trứng rồi, nhưng chưa có rau thơm, tôi biết - nhưng bà hiệu trưởng là một người keo kiệt. Tôi sang vay bà ấy một nắm rau thơm. Vay ư!, bà ấy trả lời tôi, vườn nhà chúng tôi chẳng có rau quả gì sất, một quả táo thối cũng không. Nhưng bây giờ tôi có thể cho bà ta vay mười quả, hoặc cả một bao táo; ôi, chuyện này làm tôi cười đấy!”. Nói xong bà hôn ông một cái thật kêu.
“Tôi thích chuyện này!”, hai người Anh đồng thanh nói. “Hễ đi về vùng nông thôn thì tôi luôn gặp những chuyện vui: bỏ tiền ra cũng đáng.”
Vậy là họ trả một trăm đồng tiền vàng cho người nông dân không những không bị mắng mà còn được hôn.
Đúng vậy, khi người vợ tin rằng chồng mình luôn làm điều tốt nhất, rằng điều gì chồng mình làm cũng đúng thì phần thưởng luôn đến.
Các bạn ạ, câu chuyện của tôi là như vậy đấy. Tôi đã nghe câu chuyện này từ khi tôi còn nhỏ, và bây giờ các bạn đã được nghe chuyện đó rồi đấy và đã biết nó có tên là “Ông già làm gì cũng đúng”.
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
13/4/17
Số km
22,771
Động cơ
9,755,669 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Bánh mì pa tê, xúc xích đỏ một thời

FB_IMG_1768734644061.jpg
 

Thỏ móm

Xe container
Biển số
OF-542866
Ngày cấp bằng
24/11/17
Số km
5,707
Động cơ
158,987 Mã lực
Nơi ở
Vườn cà rốt màu mỡ
Bánh mì pa tê, xúc xích đỏ một thời

FB_IMG_1768734644061.jpg
Nom món này, chợt nhớ hôm nọ chén chú chén anh với bác XPQ . Trong câu chuyện chợt " sáng lấp lánh" một khái niệm, một chủ đề rất thơ, rất " chất".

Mùi " Phố"!
 
  • Vodka
Reactions: XPQ

phuongmit

Xe ngựa
Biển số
OF-134398
Ngày cấp bằng
14/3/12
Số km
27,026
Động cơ
3,135,925 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Bánh mì pa tê, xúc xích đỏ một thời

FB_IMG_1768734644061.jpg
Nom món này, chợt nhớ hôm nọ chén chú chén anh với bác XPQ . Trong câu chuyện chợt " sáng lấp lánh" một khái niệm, một chủ đề rất thơ, rất " chất".

Mùi " Phố"!
Ăn tìm hoài niệm, nhớ vị xưa thôi chứ nó cũng k ngon lắm trong thời này. E ăn cái lạp xưởng, xúc xích lợn đen hun khói gác bếp nó vẫn vào hơn ;))
 

Garrard_1967

Xe tăng
Biển số
OF-844852
Ngày cấp bằng
11/12/23
Số km
1,610
Động cơ
74,635 Mã lực
Bánh mì pa tê, xúc xích đỏ một thời

FB_IMG_1768734644061.jpg
Quãng năm 95, e vẫn nhớ thỉnh thoảng ra Đinh Liệt, quán bánh mỳ 2 chị e họ bán. Hồi đó đói, cái gì ăn cũng ngon. Xúc xích đỏ này có mùi rất, nói thế nào nhỉ, nó cùng với pate hồi đó thơm thơm lạ miệng, chưa cắn đã nhỏ dãi
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top