"LẠI MỘT LẦN NỮA LỊCH SỬ CHỌN VIỆT NAM ĐỂ THỬ THÁCH"
Lịch Sử Việt Nam, tập 14, trang 355 có viết: “5h sáng ngày 17/2/1979, 60 vạn quân Trung Quốc đồng loạt vượt biên giới kéo dài 1.400km tiến vào 6 tỉnh của Việt Nam gồm: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên(Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơm(Lào Cai và Yên Bái), Lai Châu, điều động 9 quân đoàn vào đất Lạng Sơn, Lai Châu 10-15km, vào Cao Bằng 40-50 km.
Hồi chiến tranh biên giới Việt Trung nổ ra, Đài Phát Thanh thường phát đi phát lại một câu: “Vậy là một lần nữa lịch sử lại chọn đất nước chúng ta để thử thách.”
Tôi đã từng đọc một câu chuyện trên Soha, rằng khi nghe câu nói đó, Thiếu tướng Hoàng Đan đã đấm mạnh tay xuống bàn:
“Lịch sử là gì mà làm lính tôi khổ thế?!”
Sau cái đấm tay đầy đau đớn ấy, ông trở thành Tư lệnh của Mặt trận Lạng Sơn, rồi lại trở thành Tư lệnh của Mặt trận Vị Xuyên – hai chiến trường khốc liệt nhất của Chiến tranh biên giới, cùng với binh lính của mình gánh lấy phần vất vả, hy sinh và thiệt thòi nhất để đất nước có cơ hội được hòa bình.
Chiến tranh biên giới 1979 năm ấy, quân Trung Quốc dùng chiến thuật biển người khi tràn sang biên giới Việt Nam. 50.000 quân của chúng ta (trong đó chủ yếu là bộ đội địa phương, quân du kích và các đơn vị làm kinh tế vừa chuyển sang chiến đấu) đã phải chiến đấu chống lại 180.000 quân địch, nên chỉ sau vài ngày, 3 sư đoàn của ta ở Lạng Sơn đều tơi tả.
Nhưng nên nhớ trong lịch sử, có thể chiến thắng một đội quân thiện chiến, nhưng chẳng thể nào chiến thắng cả một dân tộc ngoan cường. Như lời Hồ Chủ Tịch từng nói: Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Kẻ thù muốn xâm phạm Việt Nam, sẽ phải trả một cái giá rất đắt.
Quân dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu và bảo vệ lãnh thổ Tổ Quốc, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 địch, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá huỷ 550 xe quân sự trong đó có 280 xe tăng, xe bọc thép, phá huỷ 115 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, bắt nhiều tên xâm phạm lãnh thổ Việt Nam”
Nhưng có ai đó đã từng thắc mắc, vì sao Trung Quốc cùng với Liên Xô là những quốc gia viện trợ cho nước ta nhiều nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lại đột nhiên trở cờ tấn công Việt Nam chưa?
Đáp án: Lợi ích quốc gia! Cùng một trục Xã hội chủ nghĩa, nhưng Trung Quốc và Liên Xô nảy sinh khúc mắc, và đỉnh điểm là xung đột biên giới Trung - Xô năm 1969, giữa hai nước Việt Nam chỉ có thể chọn một, dĩ nhiên chúng ta chọn “anh cả Liên Xô”.
Chớp được thời cơ, Mỹ ngỏ ý chìa tay nói: Này Trung Quốc, ông bạn và chúng tôi ít nhất có chung một kẻ thù, vậy thì tội gì chúng ta không hợp tác. Dĩ nhiên, làm suy yếu Liên bang Xô Viết luôn là mục tiêu hàng đầu của Mỹ. Trung Quốc đáp lại chứ, dĩ nhiên, luôn cần một đồng minh đủ mạnh.
Thế là ngoại giao bóng bàn và các chuyến đi bí mật của cố vấn Kissinger tới Trung Quốc, sau đó là sự kiện Tổng thống Mỹ Nixon thăm Bắc Kinh vào tháng 2/1972 được coi là một "cột mốc quan trọng làm xoay chuyển cục diện thế giới".
Sự kiện này làm thay đổi hẳn các tính toán của các bên trong ván bài Đông Dương. Mỹ muốn rút khỏi Việt Nam nên đã làm ngơ cho Trung Quốc, thế nên đã bật đèn xanh cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974 để đổi lấy tác động của Bắc Kinh lên chính sách của Hà Nội.
Trung Quốc muốn duy trì hai miền Việt Nam trước quyết tâm thống nhất đất nước của Hà Nội để có một vùng đệm an ninh cho biên giới phía Nam. Sự bắt tay Mỹ – Trung làm Liên Xô buộc phải tăng cường quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm đồng minh trong khi Hà Nội cần nhiều viện trợ quân sự trong bối cảnh Trung Quốc đang đe dọa cắt viện trợ để buộc Việt Nam theo ý mình.
Việt Nam quyết định chọn Liên Xô, và trong lúc mâu thuẫn Việt Trung ngày càng sâu sắc, quan hệ Việt — Xô lại phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã tác động mạnh đến những tính toán chiến lược của Trung Quốc.
30/04/1975, Việt Nam làm nên chiến thắng lừng lẫy, Mỹ giận đến tím mặt và âm mưu muốn trả đũa. Và trong khi Việt Nam chúng ta hân hoan với viễn cảnh đất nước bước vào một kỷ nguyên mới độc lập, tự do thì những bóng mây của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba đã tích tụ khi Trung Quốc không cam tâm để Việt Nam tuột khỏi quỹ đạo của mình. Một thế trận gọng kìm đã được giương lên từ cả biên giới phía Bắc và phía Nam. Việt Nam và Trung Quốc tố cáo nhau về các cuộc xâm phạm biên giới, dời trụ mốc, lấn chiếm lãnh thổ trên đất liền, về vấn đề người Hoa ở phía Bắc.
Từ tháng 5/1978, Trung Quốc dựng lên "sự kiện nạn kiều", thực chất là dụ dỗ, đe dọa, lần lượt cưỡng ép gần 20 vạn Hoa kiều đang sống yên ổn ở Việt Nam phải về nước. Từ tháng 8/1978, phía Trung Quốc điều động lực lượng từ phía sau ra biên giới gồm 9 quân đoàn và 5 sư đoàn độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn bộ binh), cùng 550 xe tăng, xe bọc thép, 2.558 pháo (trong đó có 1.092 pháo xe kéo), 676 máy bay… Đồng thời phía Trung trắng trợn vu cáo Việt Nam ngược đãi, khủng bố xua đuổi Hoa kiều, rút chuyên gia về nước, gây ra tình hình hết sức căng thẳng.
Trước tình hình Mỹ - Trung tăng cường quan hệ ngoại giao, ngày 3/11/1978, Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, đánh dấu bước phát triển mới của tình đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nước. Người “anh cả” rất muốn giúp cậu em có vị trí địa chính trị cực kỳ quan trọng này, tuy nhiên khi ấy Liên Xô cũng đang rối như canh hẹ, nhưng đã cố hết sức có thể. Mức viện trợ quân sự của Moscow cho Việt Nam đã tăng từ một mức khá thấp – 11 triệu USD năm 1977 lên tới 90 triệu USD trong năm 1978 khi Hà Nội rơi vào các cuộc xung đột mới trong khu vực.
Và như các bạn biết đấy, đêm 16 rạng ngày 17/2/1979 (đêm thứ Bảy rạng ngày Chủ nhật), lợi dụng trời tối, sương mù, phía Trung Quốc bí mật đưa lực lượng lớn vượt biên, luồn sâu, ém sẵn ở nhiều khu vực trên toàn tuyến biên giới, từ Pò Hèn (Quảng Ninh) đến Pa Nậm Cúm (Lai Châu); đồng thời triển khai đội hình gồm một lực lượng lớn áp sát biên giới chuẩn bị tiến công.
Trước diễn biến căng thẳng trên vùng biên giới phía Bắc, Đảng và Nhà nước ta kiên trì chủ trương giải quyết bằng biện pháp hòa bình; đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, nhất là ở Quân khu 1 và Quân khu 2. Tổng động viên cả nước, sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù.
Ngay sau sự kiện 17/2/1979, Liên Xô đã ra tuyên bố đầu tiên, in trên báo Sự thật (Pravda) hôm 19/2, trong đó có đoạn:
"Sự xâm lược của quân đội Trung Quốc vào Việt Nam không thể không làm bất cứ một người nào trung thực trên thế giới, không một quốc gia có chủ quyền nào thờ ơ. Hành động xâm lược đó đi ngược lại các nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đã cho toàn thế giới thấy được bản chất thực sự của chính sách bá quyền của Bắc Kinh ở Đông Nam Á. Nhân dân Việt Nam anh hùng, nạn nhân của cuộc xâm lược mới, sẽ đứng vững, và thêm nữa, bên họ luôn có những người bạn tin cậy. Liên Xô sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và CHXHCN Việt Nam. Những ai đang thực thi chính sách ở Bắc Kinh hãy dừng lại khi chưa muộn. Nhân dân Trung Quốc cũng như các dân tộc khác cần hòa bình, chứ không phải là chiến tranh. Lãnh đạo Trung Quốc phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc tiếp tục xâm lược nước CHXHCN Việt Nam. Liên Xô kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay cuộc xâm lược và khẩn trương rút quân Trung Quốc ra khỏi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam. Không được đụng đến nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa".
Ngoài tuyên bố trên, Liên Xô đã cử ngay Đại tướng Ghenady Obaturov cùng 20 sĩ quan cao cấp Liên Xô sang giúp Việt Nam. Một cầu hàng không cấp tập được thành lập. Cảng Hải Phòng tấp nập các chuyến tàu chở vũ khí từ Liên Xô cập cảng. Một cuộc tập trận lớn chưa từng có đã được Liên Xô triển khai áp sát biên giới Trung Quốc, ý muốn nói rằng: Chúng tao cũng đã sẵn sàng.
Cũng trong năm 1979 này, mức viện trợ quân sự của Liên Xô dành cho Việt Nam có giá trị lên tới gần 1,8 tỷ USD – mức cao chưa từng thấy trong giai đoạn trước đó (năm 1977 là 11 triệu USD, 1978 là 90 triệu USD).
Khi cầu hàng không Xô – Việt được thành lập, hơn 150.000 tấn thiết bị quân sự đã được chuyển giao cho Việt Nam, bao gồm các tiêm kích MiG-21 nâng cấp, xe tăng T-54/55, tên lửa đất-đối-không SA-3 và các khí tài khác để thay thế những v.ũ kh.í đã xuống cấp. Và có hơn 2.500 cố vấn Liên Xô được cử tới Việt Nam để giúp Việt Nam tích hợp các trang thiết bị mới, đồng thời giúp Việt Nam tổ chức lại lực lượng.
Các đợt viện trợ v.ũ kh.í vẫn duy trì ở mức cao cho tới năm 1980 (với 90.000 tấn thiết bị quân sự trị giá 1,4 tỷ USD), sau đó mới giảm xuống 50.000 tấn (trị giá 400 triệu USD) trong năm tiếp theo do một số khó khăn trong quá trình tích hợp, và mối đe dọa từ Trung Quốc cũng đã giảm bớt.
Nhờ có các đợt chuyển giao khí tài của Liên Xô trong và ngay sau cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979, Việt Nam đã có thể mở rộng và hiện đại hóa lực lượng không quân và phòng không.
Việt Nam đã sẵn sàng “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” một lần nữa. Đối thủ có là Pháp, Mỹ, Trung… hay là ai thì lòng người Việt Nam cũng chẳng sờn.
Trong chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979, chúng ta có thể sẽ thua nhưng TBT Lê Duẩn khi đó đã nói: “Đánh cho Trung Quốc hiểu rằng nếu họ dám xâm lược đất nước này thì phải trả một cái giá đắt đến không thể nào chịu đựng nổi.”
Trong khi quân đội Việt Nam anh dũng, thiện chiến và ngời ngời lý tưởng, đội quân xâm lược của Trung Quốc thì “mang trang bị hiện đại mà chiến đấu như thời Napoleon”.
Vậy là trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, Trung Quốc có thể thắng trong những trận đánh nhưng sẽ thua cả một chiến dịch, bởi đối diện với họ không phải một đội quân mà là cả một dân tộc.
Việt Nam chẳng những không phải học bài học nào của Trung Quốc như giới cầm quyền Bắc Kinh dọa nạt, mà ngược lại chúng ta còn dạy cho Trung Quốc một bài học.
Nhưng cái giá mà chúng ta phải trả, cũng thực sự rất đắt. Đó là hàng ngàn hàng vạn những liệt sĩ, đã "hi sinh" để làm nên đất nước.
Tư lệnh Hoàng Đan trận này cầm quân
Ông bảo rằng:
"Sống ch.ết thời, vận số
Cả Trung đoàn ào ào như thác lũ
Bình độ 400 bình địa trận người
Những chàng trai sống ch.ết trận này ơi
Mưa đổ xuống ông Trời tuôn nước mắt
Ơn nhớ mãi thân này đi giữ đất
Người trở về ăn, sống, ở ra sao?"
...
Nói về cuộc chiến tranh biên giới 1979, như GS Vũ Minh Giang cho rằng: “Nếu như cuộc chiến đấu bảo vệ BGPB năm 1979 giống như một cái hố ngăn cách thì tuyệt đối không được lấp cái hố ấy đi nhưng cũng không được khoét rộng nó ra. Chúng ta giữ cái hố như nó vốn có và bắc thêm một cái cầu đi qua cái hố ấy. Mỗi lần đi qua cầu nhìn thấy cái hố ấy để nhắc nhở thế hệ sau của hai nước ko bao giờ tạo ra những cái hố khác.”
Những trang ký ức đau thương mà hào hùng ấy có thể khép lại, chứ đừng đóng vĩnh viễn cánh cửa lịch sử. Thế hệ trẻ chúng ta phải học cách nhớ, có thể tha thứ chứ tuyệt đối không được phép lãng quên!
(Đạo Sĩ)