Từ năm 1949, đã có 32 người Nhật Bản đoạt giải Nobel. Giải Nobel là một giải thưởng tiền tệ quốc tế có trụ sở tại Thụy Điển. Giải thưởng được thành lập theo di chúc và tài sản năm 1895 của nhà hóa học và nhà phát minh người Thụy Điển Alfred Nobel. Lần đầu tiên giải được trao vào năm 1901 trong các lĩnh vực Vật lý, Hóa học, Sinh lý học hoặc Y học, Văn học và Hòa bình. Một giải thưởng liên quan, cho đến nay, Giải thưởng Sveriges Riksbank về Khoa học Kinh tế tưởng niệm Alfred Nobel, đôi khi còn được gọi là Giải Nobel Kinh tế, vẫn chưa được trao cho một công dân Nhật Bản nào.
Các giải Nobel trong các lĩnh vực khoa học cụ thể nêu trên và Giải Nobel Kinh tế, thường được đồng nhất với chúng, được coi là giải thưởng danh giá nhất mà một người có thể nhận được trong các lĩnh vực đó.[1][2] Trong số những người đoạt giải người Nhật Bản, mười hai người là nhà vật lý, chín người là nhà hóa học, ba người về văn học, sáu người về sinh lý học hoặc y học và hai người vì những nỗ lực vì hòa bình.[2]
Từ năm 1949 Nhật Bản đã có nhà khoa học đạt giải nobel. Đây là kết quả của quá trình cải cách sâu rộng và liên tục suốt từ thời duy tân minh trị. Thoát khỏi tình trạng nho học cổ hủ của xã hội phương Đông luận thơ, luận ca phú đối đáp rồi ra làm quan, thiếu tính thực tiễn và ứng dụng trầm trọng
Việt Nam nếu không có đối sách cụ thể về giáo dục Đại học và nghiên cứu sau đại học thì một nền sản xuất hiện đại dựa trên khoa học kĩ thuật chỉ là giấc mơ xa vời. Mãi mãi chỉ kiếp culi bảo gì làm vậy cho FDI mà thôi.
Một điều đáng buồn là họ chỉ cải cách ở mấy cái cấp thấp như tiểu học, mầm non. Nhưng cái cần là giai đoạn quyết định là cấp đại học thì không đả động gì. Đây là cấp quyết định đến trình độ của một quốc gia dân tộc, vì đây là giai đoạn tự mày mò, tự nghiên cứu, tự phản biện đúng sai. Tự rút ra kết luận một vấn đề, một đòi hỏi từ thực tiễn cạnh tranh. Cấp này không còn là đọc sách từ tri thức nhân loại nữa, không còn là học thuộc để lấy điểm cao nữa mà phải tạo ra tri thức mới.
Sở dĩ Nhật bản có thể tạo ra các vật liệu tiên tiến bền chắc phục vụ cho một loạt ngành công nghiệp như ô tô, xe máy. Đại loại là tất cả ngành sản xuất. Vì họ đã nắm trong lòng bàn tay những bí quyết về vật liệu. Từ Nhựa đến sắt thép. Những bí quyết này đến từ các nhà khoa học trình độ cao như nhà hóa học hay vật lí. Chúng ta cần có các nhà khoa học như vậy, để nghiên cứu ra các bí quyết công nghệ và đào tạo ra thế hệ lớp lớp các nhà khoa học sau này.
việt nam chỉ nói về toán học. Đó có vẻ là thứ dễ nhai nhất vì toán học chỉ cần tờ giấy và cái bút. Chúng ta có thể có ngay một nhà toán học.
Nhưng ngành vật lí và hóa học, bạn không chỉ cần kiến thức về toán mà cần nhất là tư duy thực nghiệm. Đây là điều dân tộc Việt Nam luôn thiếu. Tính phản biện và tìm tòi.
Câu hỏi đặt ra là các học sinh tốt của chúng ta, các học sinh giỏi của chúng ta ở cấp phổ thông đã biến mất hoàn toàn và không bao giờ xuất hiện ở các cấp độ sau này.
Nói đến đây nhiều người sẽ cho rằng nhà nước không tạo điều kiện, rồi một số quan liêu và không thực chất. Rồi không có chính sách đãi ngộ người tài, không thu hút người tài nên người ta đi hết. Tôi bác bỏ ngay luận điểm này, đây là cách đổ lỗi. Bởi chúng ta thấy học sinh giỏi ở Việt Nam đi nước ngoài hết và hầu như cũng không vươn mình lên được, và rất ít trường hợp có tên tuổi trong ngành của mình. (có nhưng không nổi bật, hoặc có nổi bật nhưng ít)
Phải chăng học sinh việt nam ở nước ngoài ko thể tiếp cận các tri thức khoa học lõi. Hay tố chất chỉ có vậy. Tôi đồ rằng học sinh việt Nam đang chết ngắc ở giai đoạn chuyển từ lí thuyết sang nghiên cứu. Các cộng đồng khoa học mặc dù có tính cởi mở nhưng vẫn có tính bảo thủ quốc gia và họ sẽ không cho học sinh việt nam có cơ hội tiếp xúc với các hướng đi có lợi.
việt nam nên đề ra phương án mua bí quyết công nghệ, kể cả các công nghệ lạc hậu để tìm tòi và học hỏi. Đây chính là những thứ manh nha dần để ta tự nghiên cứu để mở ra một cái hộp kín nơi những bí quyết công nghệ được giấu kín. Điều này đòi hỏi ý chí phi thường từ các nhà quản lí cũng như khoa học. Bởi con đường này nó rất dài và nỗ lực liên tục.