Em gửi một bài viết với một góc nhìn về thiền, cụ nào rảnh thì đọc tham khảo ạ:
ĐƯỜNG ĐẾN CHÁNH NIỆM HAY NGỘ TÍNH
Những người tìm hiểu, thực tập chuyển hóa tâm theo thế giới quan Phật giáo đa số rất quan tâm đến chánh niệm vốn là một giai đoạn thực tập đột chuyển trong lộ trình Bát Chánh Đạo. Trước khi đi đến giai đoạn thực tập về chánh niệm nơi tâm, đương nhiên hành giả cần nghiên cứu, tìm hiểu về các sự thật căn bản về khổ; về vô thường, biến hoại, đổi thay; về vô ngã, tính không của thân, tâm và pháp giới; về mối liên quan nhân quả và duyên sinh... Sau khi nghiên cứu tìm hiểu những nguyên lý, giáo lý căn bản, hành giả cũng cần thực hành việc từ bỏ, tránh xa điều xấu, bất thiện đồng thời hướng suy nghĩ, lời nói, hành động về những điều tích cực, thiện lành, chân chánh. Do đặc tính cố hữu nơi tâm, các chủng loài chúng sinh sinh sống, tồn tại bởi tính chấp thủ, chấp chặt nên mọi tạo tác nơi tâm đều có tính lặp lại. Những tạo tác bất thiện hay nói cách khác là Tà, vốn là các trạng thái không thuộc về phần Chánh, trong đó có chánh niệm. Do vậy, tiền đề để đi đến chánh niệm là các trạng thái, tính chất của tâm có tích chất tích cực, chân chánh, hướng thượng luôn cần được hành giả nỗ lực tích lũy. Do tính chấp thủ, chấp chặt, đến đây, ý thức của hành giả lại “nhanh nhảu và khôn ngoan” chấp chặt, chấp thủ luôn là mình đang tích lũy các trạng thái, tính chất tích cực. Do bản chất như vậy, sự thật là nội tâm mỗi người đều chất chứa các trạng thái tích cực và tiêu cực (hay thiện và bất thiện) tầng tầng, lớp lớp đan xen và sinh ra tập khí, tính khí, tích cách nơi mỗi người. Kể cả người sống tốt, sự chấp thủ vi tế khiến cái “ tôi sống tốt” cũng cứ tăng trưởng dần. Những vị thầy hiểu sâu sắc điều này, sẽ luôn hướng dẫn hành giả tạo tác, ghi nhận các trạng thái tâm tích cực đồng thời tạo tác cả các ý thức về không chấp công, về tính khiêm tốn, khiêm hạ, không vơ công về mình. Sau khi tìm hiểu và chiêm nghiệm kỹ lưỡng thì dần hành giả cũng hiểu hay biết được bằng tư duy, tư tưởng (“ Tưởng tri”) rằng không có cái ta hay bản ngã thường hằng nơi thân và nơi tâm. Biết bằng tư duy là mới biết ở cấp độ văn, tư trong lộ trình Văn - Tư - Tu, chưa giúp chuyển hóa tâm khỏi đặc tính chấp thủ, chấp chặt của hành giả mà phải sang đến thực hành, tu sửa ở giai đoạn Niệm - Định - Tuệ. Khi thực hành về tâm, thường tốt nhất, tối ưu nhất, là trạng thái yên tĩnh, ổn định khi thiền định dưới tư thế hoa sen kiết già. Một lần nữa nguyên lý trung đạo cần phải theo sát. Về Thân, cơ thể cần ngồi vững chắc, ổn định nhưng buông lỏng, không căng, không gồng, cũng không nên gắng đến mức quá đau vượt quá ngưỡng chịu đựng. Trạng thái tốt nhất là trước khi “cảm giác đau” sinh khởi một cách quá nổi trội và làm tâm không được yên ổn. Cùng với sự thực hành kiên trì, kham nhẫn, giới hạn này sẽ cải thiện, có thể ban đầu chỉ 1 phút, sau sẽ tăng dần theo tháng, năm. Về Tâm, tâm này vốn bản chất là chấp thủ, chấp chặt, luôn sinh khởi đủ chuyện như đề cập ở trên. Hành giả có thể can thiệp bằng ý thức là sẽ quyết định nên chú tâm, đặt tâm ở đâu, vị trí nào khi thực hành. Nếu chú tâm vào trước mặt, trước mũi, cảm giác răng lưỡi, giữa 2 chân mày hay đỉnh đầu hoặc hơi thở tại ví trí ngang tim, phổi thì đều gần khu vực não bộ, vốn là nơi ý thức hoạt động rất mạnh, dễ hình thành thêm sự chấp thủ, chấp chặt nơi tâm rằng ta/tôi đang thực hành. Nếu đặt tâm sâu ở vùng hạ thể, nơi là chỗ ẩn chứa nhiều thần kinh tính dục, dễ kích khởi bản năng, sinh khởi tâm tham dục. Vị trí tối ưu còn lại cũng chính là trọng tâm của cơ thể sinh học là vùng dưới rốn, dưới vùng kết thúc chuyển động thở của phổi, xa phần não vốn hay máy động bởi ý thức và cũng bên trên phần hạ thể ẩn chứa bản năng thuộc về tính dục. Vị trí này cũng nên ở khoảng không quá lệch ra bên ngoài bụng, phía trước mặt, mà cũng không nên quá sâu về phía lưng. Đó là vị trí dường như ổn định, cân bằng nhất của thân và cũng phù hợp nhất để chú tâm, hợp với nguyên lý trung đạo. Với một quá trình tích cực tạo tác các trạng thái tâm tích cực, tránh các ghi nhận trạng thái tiêu cực bao gồm cả việc có đời sống thế gian tạm yên ổn, không có bức bách lớn bởi các nỗi lo từ công việc hay gia đình thì khi thân và tâm ở trạng thái như trên, duy trì thân ổn định, buông thư; nhẹ nhàng an trú tâm ở vị trí trọng tâm, thì hơi thở có xu hướng chậm dần. Các tâm bất thiện ngủ ngầm hoặc hoàn cảnh bất an của hành giả có thể vẫn còn nhưng chưa nổi trội, chưa bức bách mới thuận hợp cho việc thực tập này. Nghèo đói chạy ăn từng bữa, hay giàu có nhưng áp lực quá lớn thì không thuận lợi lắm. Hành giả khéo léo quan sát điều phục nhưng không gắng sức hơi thở chậm, nhẹ, mỏng nhạt dần ( Có những vị thì diễn đạt là chậm – ít – êm). Kiên trì thực hành như trên hàng ngày cho thuần thục, khi hơi thở còn rất chậm, nhẹ và mỏng khi đó tâm và hơi thở tiếp xúc liên tục. Tâm biết hơi thở một cách liên tục, trong khi thân vẫn ở trạng thái ổn định, buông lỏng thì sinh khởi một Cảm Giác Mới, một trạng thái mới mà gần như như Mất Thân, cảm giác được bên trong thân và bên ngoài thông suốt dù thân vẫn ở đó. Đồng thời, tâm dính với hơi thở mỏng nhạt liên tục cũng không sinh khởi ý thức nào về ta, về tôi, về bản ngã. Tâm hành giả biết và ghi nhận trạng thái Không Thân, Không Ta nơi tâm. Đây là trạng thái biết vượt sâu hơn tư duy, tư tưởng, (biết bằng “Thức tri”), biết mà dường như không có sự chấp thủ, chấp chặt, giúp hành giả lần đầu tiên biết về trạng thái thô sơ của Chánh Niệm. Đó là sự ghi nhận, biết về thân và tâm mà vơi bớt sự chấp thủ, chấp chặt của bản ngã ngủ ngầm. Kể từ thời điểm này, những tạo tác nơi tâm của hành giả đã bớt dần chấp ngã, chấp thủ mà vốn trước đó hay làm mọi việc với tâm mong cầu, gieo nhân để gặt quả cho mình. Hành giả cũng dần đối diện, chịu đựng, kham nhẫn được hoàn cảnh bất như ý với nội tâm bớt dính mắc hơn. Hành giả cũng vẫn còn vất vả trong thực hành, vẫn khó duy trì chánh niệm trong đời sống, nhiều khi vẫn mất chánh niệm, chạy theo cảnh hoặc ý thức sinh khởi nổi trội mạnh chi phối, nhất là khi hành thiền.
Cảm giác tâm có chánh niệm liên tục sẽ đi đến trạng thái chánh niệm tỉnh giác rất sâu và sau đó là đi vào các tầng, mức của tứ thiền tùy vào nỗ lực tạo tác các tâm tích cực; tùy thuộc vào các trạng thái tâm xấu ngủ ngầm chờ sinh khởi, trở nên nổi trội và hiện bày nơi tâm hoặc nơi hoàn cảnh; và/hoặc cả người người thầy hướng dẫn để đi tiếp trong lộ trình bát chánh đạo với giai đoạn niệm định tuệ để như thật “Tuệ tri” về Vô Minh hoặc sẽ lạc vào các tà định, tà tuệ mà thoái đọa trở lui thành người thường, phàm phu hoặc thấp kém hơn. Quá trình thực hành thiền gồm Chỉ với cách thức đúng và Quán thấy biết đúng là quá trình an trú, thấy biết như thật về thân, tâm. Tâm càng yên tĩnh, tỉnh giác hành giả càng biết rõ vùng gặp nhau giữa hơi thở và tâm hay thân và tâm tại vị trí trung tâm dần thu về một điểm. Mỗi người phải tự thân tìm thấy vị trí này. Đây là sự thấy biết của trạng thái định và tuệ sâu dần không phải quá trình kiếm tìm của ý thức. Tiếp tục an trú tại điểm này sẽ dần thấy biết được khởi nguồn của các lớp tâm chấp ngã và cuối cùng tuệ tri được bản chất của điểm tâm thức cuối cùng về đời sống của chính mình. Kinh sách diễn đạt về Vô minh lại là chấm dứt, đoạn tận các chấp thủ, rò rỉ, lậu hoặc trong tâm hay nói cách khác là quá trình nhận ra các lỗi lầm sâu thẳm, sâu xa, gốc rễ trong tâm rất vi tế. Khi có chánh niệm, với tâm vô tư khách quan trong sáng, bớt chấp thủ, hành giả lại càng dễ nhận ra lỗi nơi mình để sửa chữa, từ bỏ, đoạn diệt các lỗi lầm từ thô đến tế. Chính vì vậy, chạm đến Chánh niệm, dù là mức độ thô sơ, là bước chuyển đổi quan trọng nhưng vẫn còn rất nhiều việc để làm với một người đang thực hành về tâm. Trong kinh sách bắc tông hay đại thừa, quá trình trên được diễn đạt như là “Ngộ tính”, và có lẽ do khác biệt về ngôn ngữ và diễn đạt, cũng có sơ ngộ, tiểu ngộ, đại ngộ, triệt ngộ. Ngộ là một giai đoạn quan trọng cũng giống như bắt đầu chạm đến chánh niệm, chánh niệm sâu và các trạng thái, tầng mức thiền trình bày trong kinh sách nguyên thủy. Và tính Không tối thượng của thiền tông, có lẽ cũng làm một cách diễn đạt khác của chứng Vô Ngã.
Thực hành sâu về chánh niệm đã khó, thực hành sâu về thiền định càng khó hơn, nên mỗi người cần thận trọng chiêm nghiệm thấy, biết trong trải nghiệm cá nhân cũng như cần có sự thực tập cùng đại chúng với sự hướng dẫn của những vị thầy có kinh nghiệm để kiểm nghiệm tâm của mình. Giáo pháp của Phật giáo nằm ở Phật, Pháp, Tăng được tiếp nối ở các tăng sỹ, cư sỹ gắn với hình bóng các ngôi chùa. Những đường lối, phương pháp nào vô tình hoặc cố ý hướng hành giả dần xa rời, thiếu sự kết nối với tứ chúng, xa lìa bóng dáng chùa chiền đều hết sức thận trọng, tránh rơi vào thực hành sai, lạc đường. Thực tập thấy ra sự thật về bản thân, về chính mình, là quá trình tự thân, không ai làm thay được nhưng không rời xa dòng chảy giáo pháp cũng là một thực hành trong nguyên lý trung đạo mà đức Thích Ca đã thực hành và giác ngộ."