Em đúng nghĩa đàn bà nước lọc, ko biết uống trà, thẩm trà, nên ko dám lạm bàn, nhưng thỉnh thoảng vẫn đọc đâu đó, hay xem phim ảnh về việc ướp hương cho trà.
Ở Trung Quốc, bên cạnh dòng Trà thuần túy (với thành phần chỉ là lá trà), còn có Trà tái gia công (bao gồm các loại trà được ướp hương hay trộn thêm vào đó các loại thảo mộc khác).
Trà ướp hoa, trà thơm, hay hoa trà - 花茶, là một loại trà độc đáo, thuộc nhóm trà chế biến lại. Loại trà này được làm bằng cách ướp lá trà với hoa thơm, còn được gọi là Huân hoa trà - 窨花茶 (chữ huân - 窨 có nghĩa là uớp hoa vào lá trà cho đượm mùi hương). Cách chế biến chủ yếu tận dụng khả năng hấp thụ hương thơm của lá trà và khả năng tỏa hương của hoa, không chỉ giữ được hương thơm nguyên bản của lá trà mà còn cho phép lá trà hấp thụ hương thơm của hoa. Những loại trà đạt được cả chất lượng và hương thơm hoa được coi là loại trà thượng phẩm.
Trong "Trà kinh" của Lục Vũ (733 - 804), được tôn xưng là Trà thần, đã có ghi chép về việc thêm hành lá, gừng, vỏ cam hoặc bạc hà vào trà khi pha. Đời Tống Huy Tông, niên hiệu Tuyên Hòa vào thế kỷ 12, có ghi chép về việc "thảo dược quý" được thêm vào trà để tăng hương thơm, được xếp vào "trà cống" là loại trà chỉ được dâng lên triều đình thời Trung Quốc cổ đại để các hoàng đế và quan lại cấp cao thưởng thức, có thể coi là khởi đầu của việc chế biến trà thơm. Vào đầu thời Minh thế kỷ 14, tục lệ uống trà lan rộng khắp cả nước, và hoa thơm được thêm vào trà lá rời, chính thức bắt đầu sản xuất trà thơm. Vào thời kỳ Hàm Phong nhà Thanh, Phúc Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến đã là trung tâm sản xuất trà thơm, với thị trường tiêu thụ lớn nhất miền Bắc Trung Quốc lúc bấy giờ. Các vùng sản xuất hoa thơm dùng cho trà chính là Đài Loan và các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tô, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Hồ Nam và An Huy, trong đó Phúc Kiến có sản lượng cao nhất và nhiều loại nhất. Năm 1929 (năm thứ 18 của nền Cộng hòa Trung Hoa, năm thứ 4 thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng), trà thơm chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường của người Hoa ở Đông Nam Á, với sản lượng hàng năm khoảng 1 triệu kg hoa thơm, đủ để tạo hương cho khoảng 3 triệu kg trà xuất khẩu mỗi năm.
Có rất nhiều loại cây thơm có thể được sử dụng để tạo hương cho trà, như hoa nhài, hoa mộc (Trung Quốc gọi là quế hoa, mộc tê), hoa hàm tiếu, hoa lan, hoa mộc lan, hoa cúc, hoa kim ngân, hoa dành dành, hoa hồng, hoa bưởi, hoa ngâu, nguyệt quý, cùng nhiều loại khác.
Một loại trà thảo mộc nổi tiếng của Trung Quốc là Phổ Nhĩ quýt Vân Nam (Tiểu thanh cam), loại trà đặc biệt được chế biến lại từ trà Phổ Nhĩ Vân Nam và vỏ quýt vùng Tân Hội, Quảng Đông, kết hợp hương thơm tinh khiết của vỏ quýt với vị ngọt thanh của trà Phổ Nhĩ Vân Nam. Trà có đặc điểm là càng để lâu càng thơm, đồng thời cũng có những lợi ích sức khỏe của vỏ quýt (trần bì) và trà Phổ Nhĩ.
Xem phim, hay đọc sách truyện, vẫn gặp những đoạn mô tả sáng sớm chèo thuyền ra hứng nước sương đọng trên lá sen giữa hồ, hay thu lấy sương đọng trên hoa trong vườn ngự uyển để mang về pha trà. Hồng lâu mộng, hồi 41, ni cô Diệu Ngọc khi pha trà mời mấy vị cô nương, đã dùng thứ nước từ tuyết trên hoa mai.
Trong bài Vị mính tiểu kệ (Kệ thưởng trà), cụ Cao Bá Quát lại quả quyết "đừng ướp hoa khi thưởng thức trà, vì hương hoa che khuất tinh túy của trà" và "hương thơm quý ở sự thanh khiết, chân thật, không cần tô điểm bên ngoài", mặc dù người bạn cùng thưởng trà, Phan Nhạ, thường hay lấy trà bỏ vào trong nụ sen, để cách đêm rồi lấy pha uống, cho là có mùi hương thích thú. Ngoài lề, Phan Nhạ và Cao Bá Quát, năm 1841, khi làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên, chấm bài thi thấy một số bài văn hay nhưng phạm húy, không muốn vì lỗi nhỏ mà đánh trượt người có tài, hai người ngầm lấy muội đèn làm mực chữa 24 bài. Việc bại lộ, cả 2 bị xử tội tử hình, sau giảm thành giảo giam hậu, rồi tạm tha, phát phối đi đày.