[Funland] B-17 và P-51 từng bị Mỹ ghẻ lạnh trong Thế chiến 2

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực

Không quân Mỹ đã ném 1,5 triệu tấn bom xuống nước Đức trong Thế chiến 2, trong số đó B-17 ném 640.000 tấn chiếm 42% số bom này. Phần còn lại là của B-24 Liberator (Mỹ) và Lancaster (Anh) chiếm gần 30% cho mỗi loại
Từ loại máy bay bị loại bỏ khi đấu thầu từ 1935, sau 7 năm, B-17 lại được hồi sinh và được sản xuất với tốc độ 10 chiếc ngày với số lượng trên 12.600 chiếc và gần 5.000 chiếc đã rơi trong quá trình ném bom
Sau Thế chiến 2, những máy bay B-17 nhường chỗ cho B-29 ném bom chiến lược, mạnh hơn, nhanh hơn .
Những máy bay B-17 đã được rã vụn thành nguyên liệu, số còn tốt được hoán cải thành những máy bay làm nhiệm vụ khác
Mỹ 1946_4 (1).jpg

Máy bay không người lái QB-17 Flying Fortress bay lượn trên bầu trời New Mexico, tháng 4 năm 1946.
Máy bay không người lái QB-17 Flying Fortress thuộc Nhóm Tên lửa dẫn đường thử nghiệm số 1 bay trên bầu trời New Mexico, tháng 4 năm 1946. Máy bay có lớp sơn nhôm tự nhiên với thân và đuôi màu đỏ. Ảnh được chụp từ máy bay điều khiển không người lái DB-17G đi kèm. Các máy bay không người lái được xác định là: Douglas/Long Beach B-17G-85-DL Fortress 44-83553, Douglas/Long Beach B-17G-90-DL Fortress 44-83603, Douglas/Long Beach B-17G-90-DL Fortress 44-83588, Lockheed/Vega B-17G-110-VE Fortress 44-85819
Mỹ 1964_1 (1).jpg

Trong khuôn khổ dự án Cadillac II , radar AN/APS-20 đã được trang bị cho máy bay B-17G, biến PB-1W trở thành một trong những máy bay cảnh báo sớm trên không đầu tiên .
Một chiếc Boeing PB-1W Fortress (BuNo 77138) của Hải quân Hoa Kỳ thuộc phi đội cảnh báo sớm VW-1 đang bay gần Hawaii (Hoa Kỳ) vào tháng 1 năm 1954. Theo một chương trình được gọi là Cadillac II , Hải quân Hoa Kỳ đã trang bị hệ thống radar APS-20 cho máy bay B-17G, và đặt cho nó tên gọi PB-1W.
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Em nói thêm ngoài một ty
Trong chiến tranh phá hoại chống Bắc Việt Nam, Mỹ thường sử dụng những máy bay ném bom A-4, A-7 (những máy bay cận âm) và F-4, F-105 siêu âm (đến 1969 loại bỏ F-105 vì không hiệu quả, chuyển thành máy bay F-105G hai ghế ngồi để trấn áp MiG và tên lửa SAM-2)
A-7B Corsair II là máy bay ném lượng bom xuống Bắc Việt Nam chỉ thua số bom B-52 ném xuống dải chứ S, và số bom A-7 Corsair II ném nhiều hơn những máy bay còn lại

A-7 Corsair II (5).jpg
A-7 Corsair II (6).jpg
A-7 Corsair II (10).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Hình dạng A-7 Corsair II trông khá xấu, vì thế phi công Mỹ gọi nó là "thằng xấu xí". Tuy xấu xí nhưng A-7 Corsair lại làm máy bay ném bom chính xác nhất, hơn cả máy bay F-4 và F-105
A-7 là máy bay có tốc độ gần âm thanh, chậm hơn F-4, nhưng bay trong mọi thời tiết và XÁC ĐỊNH CHÍNH XÁC ĐƯỢC VỊ TRÍ MỤC TIÊU VÀO BAN ĐÊM, độ chính xác của bom khá nể, có lúc bán kính trúng mục tiêu chỉ 20 mét. (hơn hẳn F-105, ném bom ban ngày mà bán kính trúng mục tiêu là 150 mét
A-7 xuất phát từ tàu sân bay cách mục tiêu Bắc Việt Nam chừng 300-400 km, không cần tiếp dầu, một ngày bay được hai lần và đặc biệt là ném bom chính xác về đêm, cho nên chi phí rẻ hơn F-105 và F-4 (bay cách mục tiêu Bắc Việt Nam chừng 1000-1200 km với hai lần tiếp dầu trên không). A-7 là là máy bay ít rơi nhất trên tỷ lệ xuất kích, và cũng ít ai biết rằng nó là máy bay ném số lượng bom về đêm nhiều nhất ở Bắc Việt Nam. Đó là nghịch lý về những máy bay tốc độ thấp ném bom hiệu quả hơn những máy bay tốc độ cao.
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Nó là máy bay Hoa Kỳ đầu tiên được trang bị hệ thống hiển thị thông tin trước mặt hiện đại (HEAD UP DISPLAY, gọi tắt là HUD), đến nay đã là thiết bị tiêu chuẩn, vốn hiển thị các thông tin như góc bổ nhào, tốc độ, độ cao, tiêu điểm ngắm. Hệ thống dẫn đường tích hợp còn cho phép một đổi mới khác, hệ thống hiển thị bản đồ chiếu (PMDS), trình bày chính xác vị trí của máy bay trên hai bản đồ thang độ khác nhau.
Mang được 3,5 tấn bom, bay 2 lần/ ngày, chi phí bảo dướng rẻ, hiệu suất nhiên liệụ cao
 

cà rốt xanh

Xe buýt
Biển số
OF-75417
Ngày cấp bằng
14/10/10
Số km
526
Động cơ
-58,728 Mã lực
Đang mạch truyện về B17 và P51 mà cụ 🥰. Cụ tiếp về P51 đi. Cảm ơn cụ và kính chúc cụ luôn mạnh khoẻ ạ
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
2. Máy bay tiêm kích P-51 Mustang
Trước hết phải nói đến P-40 Warhawk
Vào năm 1938, Không quân Mỹ đặt hàng hãng Curtiss chế tạo chiếc tiêm kích P-40 Warhawk.
Thoạt đầu máy bay có một động cơ piston V12 làm mát bằng chất lỏng tên là Allison V-1710-39, công suất 1000 mã lực (750 kW), tốc độ 308 dặm/giờ (496km/h)
P-40 có nhược điểm không chỉ hoạt động tốt ở tầm thấp dưới 4.000 m, trên mức này thì động cơ yếu do chỉ có một tầng tăng áp

P-40 (8).jpg

1939 – P-40B, X-804 (số hiệu 39-184) đang bay. Chiếc máy bay này từng phục vụ trong một đơn vị huấn luyện nâng cao tại Luke Field , Arizona.
P-40 (10).jpg

P-40K 42–10256 với phù hiệu "Hổ" Aleutian.
P-40 (14).jpg

Một chiếc Curtiss P-40K-10-CU của Không quân Hoa Kỳ, số hiệu 42-9985, khoảng năm  1943.
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Khi Thế chiến 2 nổ ra, cọ xát với máy bay Đức thì P-40 tỏ ra yếu, do vậy Không quân Mỹ không đưa P-40 vào sử dụng ở Tây Âu. Thay vào đó Mỹ phải chế tạo chiếc P-47 với động cơ tăng áp để có thể chiến với máy bay Đức (như đã nói ở trên)
P-40 được sử dụng chủ yếu ở Bắc Phi, Trung Quốc và Mặt trận Thái Bình Dương. Phi đoàn Phi Hổ của Tướng Chennault, ở Trung Quốc gồm những phi công tình nguyện, được trang bị P-40, tuy rằng thua kém máy bay Zero của Nhật Bản
P-40 (1).jpg

P-40N '44-2104590' có tên "Lulu Belle", do Trung úy Philip R. Adair điều khiển, thuộc Phi đội tiêm kích 89, Nhóm tiêm kích 80, Không quân số 10, đóng tại Mặt trận Trung Quốc-Miến Điện-Ấn Độ
P-40 (9).jpg

Một chiếc Kittyhawk Mk III thuộc Phi đội 112 RAF đang lăn bánh trên đường băng tại Medenine , Tunisia , năm 1943. Nhân viên kỹ thuật mặt đất trên cánh đang hướng dẫn phi công, nhưng tầm nhìn phía trước của phi công bị hạn chế bởi mũi máy bay.
 
Chỉnh sửa cuối:

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Khi Thế chiến II nổ ra năm 1939, tháng 4/1940 chính phủ Anh đặt hàng lượng lớn tiêm kích của hãng North American để bổ sung cho Không lực Hoàng gia Anh, sau khi không thể mua máy bay Curtiss P-40 Warhawk.
Hãng North America đưa ra đề nghị là không sản xuất P-40 vì phải xin phép và dây chuyền sản xuất cũng mất thời gian. Hãng này đề nghị với người Anh rằng, họ sẽ chế tạo một mẫu máy bay hoàn toàn mới
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Dựa trên động cơ Allison V-1710 làm mát bằng chất lỏng của P-40, các kĩ sư North American do Kỹ sư trưởng J.H. (“Dutch”) Kindelberger lãnh đạo đã chế tạo tiêm kích P-51 Mustang chỉ trong vòng 117 ngày do nhu cầu cấp bách của Anh.
Các máy bay chiến đấu khác sử dụng động cơ Allison không tăng áp, đáng chú ý là P-40 và P-39, đã cho thấy hiệu suất tầm thường, và Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ chỉ dành việc sản xuất động cơ tăng áp cho máy bay ném bom bốn động cơ (P-38 Lightning là ngoại lệ duy nhất vào thời điểm đó).
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Nhóm của Kindelberger đã đạt được một bước tiến vượt bậc về hiệu suất. Thiết kế của họ, được người Anh đặt tên là Mustang, có cánh khí động học dòng chảy tầng giảm lực cản và hệ thống làm mát động cơ giảm lực cản hiệu quả, mang lại tốc độ và tầm bay vượt trội. Nó có tốc độ tối đa khoảng 630 km/giờ và tầm bay chiến đấu khoảng 1.200 km. Việc sử dụng thùng nhiên liệu phụ gắn ngoài đã giúp tăng gần gấp đôi tầm hoạt động lên 1.375 dặm (2.200 km).
Nhược điểm duy nhất là động cơ Allison thiếu bộ siêu tăng áp hiệu quả ở độ cao lớn, điều này hạn chế máy bay chỉ hoạt động ở độ cao thấp dưới 15.000 feet (4.600 mét).
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Khi nguyên mẫu hình thành, người Anh đặt tên là Mustang (lúc đó chưa có P-51 đằng trước), vì đó là máy bay của Anh mua
Mustang – “Ngựa hoang”, một giống ngựa ở miền trung Hoa Kỳ. Giống ngựa này được người Tây Ban Nha mang sang Hoa Kỳ khi phát hiện ra châu Mỹ, rồi thả rông nên trở thành ngựa hoang dù gốc gác ban đầu là ngựa được thuần hoá
Mỹ 1992 (2).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Chiếc Mustang bay thử lần đầu vào tháng 10 năm 1940, bắt đầu sản xuất vào tháng 5 năm 1941 và bắt đầu tham chiến trong Không quân Hoàng gia Anh (RAF) vào tháng 4 năm 1942.
Khoảng 1.579 chiếc Mustang sử dụng động cơ Allison đã được sản xuất. Chúng thường được trang bị hai súng máy cỡ nòng .50 (12,7 mm) gắn ở mũi và bốn súng máy cỡ nòng .30 (7,62 mm) gắn ở cánh, mặc dù một mẫu có bốn khẩu pháo 20 mm và một mẫu khác (A-36A) là máy bay ném bom bổ nhào cho Không quân Hoa Kỳ (USAAF). Chúng phục vụ như máy bay chiến đấu tầm thấp và máy bay trinh sát ảnh tầm xa với tên gọi F-6, chủ yếu là trong Không lực Anh
Phi công Đức rất coi thường F-6 Mustang gọi là “đồ đồng nát” vì nhỏ, vỏ mỏng, vọt cao kém. Đó là năm 1942. Hai năm sau, năm 1944, người Đức đã phải hối hận vì điều này
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Khi nhận hàng, người Anh bàn giao cho Không lực Mỹ (tức Không quân Lục quân Hoa Kỳ) hai chiếc để thử nghiệm. Hai chiếc này người Mỹ đặt tên là XP-51 (không có chữ Mustang)


29/12/1941 – XP-51 #41-039 là một trong hai máy bay Mustang Mk I được bàn giao cho Không quân Lục quân Hoa Kỳ (USAAC) để thử nghiệm.
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Mustang nhanh nhẹn ở độ cao thấp, tốc độ cũng nhanh hơn P-40, nhưng cũng mắc tật như P-40 là khi bay ở độ cao trên 4600 mét thì động cơ yếu hẳn do không có tăng áp.
Chiếc tiêm kích Spitffire của Anh có động cơ tăng áp, thế là người Anh “độ” chiếc Mustang với động cơ của Spitffire.
Bay thử thấy quá tốt, người Anh thiết kế động cơ mới cho Mustang và đưa sang Mỹ sản xuất động cơ này để gắn cho chiếc Mustang
Chiếc động cơ mới mang tên Packard V-1650-7 công suất 1490 mã lực, sản xuất tại Mỹ nhưng bản quyền của Anh, khi gắn vào Mustang thì thật kỳ diệu đạt tốc độ 700 km/h tầm hoạt động tầm hoạt động 2.655 km.
P-51 được trang bị 6 súng máy 12,7 mm, hai quả bom nặng 907 kg hoặc 10 rocket 127 mm và trở thành máy bay tiêm kích tốt nhất thế giới vào tháng 10/1943 với mẫu cuối cùng P-51D Mustang
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Kết quả thử nghiệm tốt đến tai Không quân Mỹ, thế là họ đặt hàng sản xuất 1000 chiếc với hai phiên bản P-51A, P-51B
Hãng North America đã phải cắt gọt cho máy bay nhẹ bớt 500 kg, thân được kéo dài ra và thử đi thử lại mãi tới tháng 10/1943 mới tạo ta mẫu P-51D hoàn chỉnh, và chỉ mẫu này mới là máy bay tiêm kích tốt nhất thế giới vào thời điểm đó
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Mỹ 1941_12_31 (1).jpg

31/12/1941 – Máy bay chiến đấu P-51 'Mustang' đang bay trên không, Inglewood, California. Chiếc 'Mustang', do North American Aviation, Incorporated chế tạo, được Không quân Hoàng gia Anh sử dụng năm 1942. (
Mỹ 1942_10 (x0).jpg

P-51 trang bị động cơ Allison đời đầu, tháng 10 năm 1942.
10/1942 – Một chiếc máy bay chiến đấu Mustang Mk I của Mỹ trong chuyến bay thử nghiệm trên bầu trời California năm 1942 trước khi được bàn giao cho Không quân Hoàng gia Anh (máy bay này được cung cấp cho Anh theo chương trình Lend-Lease). Ảnh: Mark Sherwood
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Mỹ 1943 (17).jpg
Mỹ 1942_10 (x4a).jpg

P-51 trang bị động cơ Allison đời đầu, tháng 10 năm 1942.
10/1942 – Một chiếc máy bay chiến đấu Mustang Mk I của Mỹ trong chuyến bay thử nghiệm trên bầu trời California năm 1942 trước khi được bàn giao cho Không quân Hoàng gia Anh (máy bay này được cung cấp cho Anh theo chương trình Lend-Lease). Ảnh: Mark Sherwood


Một chiếc máy bay chiến đấu North American P-51B Mustang (số hiệu 42-106950) thuộc Tập đoàn Không quân số 8 Hoa Kỳ đang bay trên bầu trời nước Anh. Chiếc máy bay này mang phù hiệu của mười máy bay Luftwaffe bị bắn hạ.
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Công việc chế tạo đã tiến hành gấp rút, từ tháng 10/1943 đến tháng 5/1945, gần 8.000 chiếc được sản xuất (trong vòng 18 tháng, gần 20 chiếc/ngày)
P-51D được tung vào hộ tống B-17 và B-24 ném bom sâu hậu phương Đức từ tháng 2/1944. Chỉ trong vòng 15 tháng, P-51D đã hạ 4.996 máy bay Đức, bằng 1/2 tổng số máy bay Đức bị tiêu diệt kể từ đầu Thế chiến 2
Mỹ 1944 (x1).jpg

Đội hình máy bay chiến đấu P-51 Mustang thuộc Phi đội tiêm kích 375, Nhóm tiêm kích 361 của Mỹ, đóng tại Anh.Từ trên xuống dưới: P-51D với tên gọi chính thức "Lou IV" (số hiệu 44-13410); P-51D (số hiệu 44-13926); P-51D với tên gọi chính thức "Sky Bouncer" (số hiệu 44-13568); P-51B với tên gọi chính thức "SUZY-C" (số hiệu 42-106811).
Mỹ 1944 (x2).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
Mỹ 1944_6 (1).jpg

6/1944 – Máy bay P-51D Mustang của Phi đội tiêm kích 375, Tập đoàn Không quân số 8 Hoa Kỳ

Mỹ 1944_6 (2a).jpg

6/1944 – Trung úy Vernon L. Richards, đang lái chiếc máy bay chiến đấu North Americann P-51D Mustang, có biệt danh là 'Tika IV', thuộc Phi đội tiêm kích 361, với thùng dầu phụ dưới cánh, trên bầu trời nước Anh
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,719
Động cơ
1,232,473 Mã lực
P-51D đã hộ tống những máy bay ném bom B-29 đi ném bom đại lục Nhật Bản, so với máy bay Zero của Nhật Bản thì P-51D có phần nhỉnh hơn
Nhật 1945_4 (x1).jpg

1945 – Một máy bay ném bom B-29 Superfortress và các máy bay chiến đấu P-51D Mustang hộ tống đang trên đường đến Nhật Bản. Bắt đầu từ tháng 4 năm 1945, các máy bay chiến đấu P-51, cất cánh từ Iwo Jima, đã yểm trợ cho các máy bay Superfortress trong các cuộc không kích vào các mục tiêu ở Nhật Bản.
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top