GÓC KHUẤT CHIẾN TRANH
Thớt 66:
TƯỚNG PHÙNG CHÍ KIÊN HY SINH NHƯ THẾ NÀO
I/ Dẫn chuyện:
Sự hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên được đồng chí Hà Khai Lạc kể lại.
Đ/c Hà Khai Lạc là một trong 4 đảng viên đầu tiên của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Ông tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn, là đội viên đội du kích Bắc Sơn do đ.c Trần Đăng Ninh thành lập ngày 16/10/1940. Khi Cứu quốc quân Bắc Sơn thành lập (23/2/1941) ông cũng là một trong những đội viên đầu tiên của đội.
Đ/c Hà Khai Lạc là thành viên trong đoàn của tướng Phùng Chí Kiên, khi tướng Kiên hy sinh.
Ông có nhiều năm hoạt động cùng đ.c Lương Văn Tri, Chu Văn Tấn...
Những điều ông chứng kiến, kể lại về sự hy sinh của tướng Kiên, có tính chất tư liệu và đã được đưa vào nhiều cuốn sách lịch sử. Cụ thể là cuốn sách “Những ngày sôi nổi”, đây là tập hồi ký cách mạng do Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Bắc Thái tập hợp, xuất bản năm 1977.
Ảnh của cụ Hà Khai Lạc ở trong hình minh hoạ bên dưới, cụ đứng bên trái ảnh.
II/ Câu chuyện Hy sinh của tướng Kiên:
1/ Sau hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941), đồng chí Chu Văn Tấn đưa một đoàn cán bộ từ Pác bó (Cao Bằng) về Bắc Sơn để chuẩn bị về xuôi. Trong đoàn cán bộ có các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt…và còn một đồng chí có khuôn mặt hơi tròn, rất giống người Trung Quốc. Anh Tấn giới thiệu đó là đồng chí Phùng mà sau này tôi mới biết đồng chí Phùng là Phùng Chí Kiên, người đã từng được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta năm 1935, nay là ủy viên Trung ương, được Đảng cử về phụ trách khu du kích Bắc Sơn, Võ Nhai. Anh rất giỏi về quân sự, đã tốt nghiệp trường Hoàng – Phố và làm cán bộ giảng dạy quân sự ở trường võ bị Hải Lục - Phong ở Quảng Đông, Trung Quốc và cũng đã từng sát cánh với Hồng quân Trung - Hoa, đánh Nhật ở Sán - Đầu (Trung Quốc).
2/ Cần nói thêm là đoàn cán bộ ta từ Pác Bó về Bắc Sơn đã bị lộ tung tích, bọn địch truy lùng ráo riết, quyết bắt cho kỳ được những cán bộ quan trọng của Đảng ta. Địch khủng bố Bắc Sơn và khủng bố cả Võ Nhai nữa. Đến đâu, bọn Pháp cũng giở những thủ đoạn rất tàn ác như: đốt nhà, dồn làng, giết dân vô tội. Đội du kích chúng tôi hoạt động hết sức khó khăn và thường là phải thay đổi chỗ ở. Các lớp huấn luyện về quân sự do anh Phùng Chí Kiên mở, có khi vừa tập trung đã phải phân tán. Từng đoàn lính lê – dương liên tiếp càn rừng. Bọn mật thám thì giả dạng làm thường dân, thường đi sâu vào trong rừng để dò xét vết tích cán bộ hoạt động cách mạng. Tất cả các ngả đường rừng đều bị quân địch canh gác nghiêm ngặt; chúng rắc tro, buộc cỏ để phát hiện dấu vết du kích. Trước tình hình hoạt động ngày càng khó khăn nguy hiểm, hai anh Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri (anh Tri là Xứ ủy viên, cũng ở trong Ban chỉ huy đội du kích Bắc Sơn, Võ Nhai), quyết định rút quân ra khỏi vòng vây địch để bảo tồn lực lượng. Các đồng chí chia lực lượng ra làm hai nhóm, đi làm hai đường về vùng biên giới, với ý định sẽ củng cố lại đội ngũ, rèn luyện 4 thêm cho đội viên về chính trị, quân sự và xây dựng cho mọi người một ý chí sắt đá, chờ dịp trở về đánh địch những đòn quyết liệt.
3/ Một toán 7 người, gồm các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Mã Thành Kính, Bế Sơn Cương, Lâm, Thành và tôi, đi về phía Cao Bằng. Sau mấy ngày len lỏi trong rừng, phải tránh các đường cái lớn, lội dọc theo nhiều con suối để không để lại các dấu vết trên đường mòn, ngày 14-8- 1941, chúng tôi đến Yên Hùng thuộc châu Bình Gia, Lạng Sơn, rồi đi qua Nà Ban, Sắc Sái thuộc Cư Lễ, châu Na Rì. Đến đây, chúng tôi phát hiện ra có một tên mật thám cứ lẵng nhẵng theo sau. Thấy rằng tung tích có thể bị lộ vì tên chó săn đó, chúng tôi buộc lòng phải thanh toán nó. Chúng tôi lại phải đi ngoằn ngoèo vào rừng rậm, leo qua những đoạn đường rất hiểm trở để đánh lạc hướng đánh hơi của bọn tay sai Pháp. Ngày 16 và 17-8-1941, chúng tôi đến được Pò Kép, xã Văn học thuộc châu Na Rì. Đây là vùng khá quen thuộc vì tôi đã làm gạch, ngói mấy năm ở xã này. Hồi đó tôi lấy tên là Tảo. Xã này có tên chánh tổng *********, cần phải đề phòng. Riêng tôi thì hồi đó còn rất ngây thơ và kém cảnh giác về chính trị nên cho rằng hồi còn làm thợ đóng gạch ở đây, tôi đã làm không công cho bọn chúng hàng vạn gạch ngói, chắc chúng cũng phải nghĩ đến ơn xưa mà giành cho chúng tôi mọi sự dễ dàng. Tôi đã tính lầm!
4/ Đến trạm gác Pò Kép thì chúng tôi chạm trán chánh tổng Lương Thượng và 5 tuần đinh. Tên chánh ngăn chúng tôi lại, đòi xét hỏi giấy tờ. Lúc đầu nói dối là bọn tôi đi buôn lậu ở biên giới, đề nghị nó cho đi rồi sau này sẽ hậu tạ. Chánh tổng, mặt đỏ gay, nó vung ba -toong một vòng rồi quắc mắt quát: “Chúng mày có biết Chánh này làm gì ở đây không?” Tôi gãi tai, vờ nói nịnh cho qua chuyện: “Dạ, đất này ai mà không biết tiếng cụ Chánh!” Tên chánh tổng sừng sộ, nó hà cả hơi rượu vào mặt tôi: “Ở đâu cũng vậy “đất có thổ công, sông có hà bá”, sao chúng mày không đến trình tao trước? Tất cả phải đứng yên cho tao khám thẻ và khám người xem có đồ quốc cấm không đã”. Chúng tôi ôn tồn nói chuyện và khuyên chúng nên để chúng tôi đi.
5/ Chánh tổng không nghe. Nó chỉ ba – toong vào mặt tôi, giọng lè nhè: “Thằng Tảo kia, mày cũng đi với lũ ăn mày này à? Ông thì bắt trói cả lũ xem chúng mày có phải là buôn lậu không?” Nói xong, nó hô tuần đinh khám xét chúng tôi. Đứng trước tình thế đó, anh Lâm đưa mắt dò hỏi anh Phùng Chí Kiên, còn tay thì luồn vào áo, rút ra khẩu súng ngắn. Anh Kiên sẽ gật đầu. thế là anh Lâm chĩa súng vào mặt chánh tổng và bóp cò. Tiếc thay, đạn không nổ! Tên chánh tổng hốt hoảng nhảy lùi về phía sau hai bước, nó quát tuần đinh: “Cứ xông vào, súng giả đấy!”.
6/ Ngay lúc đó, đồng chí Sơn Cương đã lia khẩu pạc – hooc khiến chánh Thượng ngã khuỵu xuống. Bọn tuần đinh chạy rẽ ra hai bên. Anh Kiên hạ lệnh: “Chúng ta đi thôi!”. Chúng tôi chạy vào rừng, sút sang lối Pò Mát. Tên chánh tổng tuy bị thương nhưng vẫn cay cú, hô tuần đinh đuổi theo chúng tôi. Bọn tuần đinh trù trù trừ không quyết tâm, nhưng có hai tên xách súng kíp, xông lên. Hai đứa bám rất sát chúng tôi. Cực chẳng đã, chúng tôi đành nổ súng trừng trị bọn chúng. Tên trương tuần Nông Văn T bị thương ở cánh tay, còn tên tuần đinh Bế Văn L đã bị viên đạn của anh Mã Thành Kính kết liễu cuộc đời. Thế là bọn chúng đành bỏ dở cuộc săn đuổi.
7/ Chúng tôi tạm ngừng chân để hội ý. Đầu tiên, có một ý kiến nêu lên là rẽ qua đường Khuổi Lếch, Khuổi Cạn lên Nặm Chẳng (Lạng Sơn) rồi đi Pác Bó (Cao Bằng), nhưng lại có vài ý kiến đề nghị anh Kiên cho đi lối Ngân Sơn. Anh em có một ý định hết sức táo bạo là phục kích ngang đường, chặn bắt một ô tô địch, phóng thẳng lên lối Cao Bằng. Đây là một việc làm mà kẻ địch không thể ngờ tới được. Ngồi ô tô vừa đỡ mệt vừa đánh lạc được hướng theo dõi của địch. Bọn tuần đinh, lính canh sẽ không dám ngăn bắt một ô tô đương chạy vì không thể nào chúng đoán được ô tô đó có chúng tôi và người lái lại là anh Bế Sơn Cương. Lúc đầu, anh Phùng Chí Kiên, trù trừ, cho kế ấy phiêu lưu, nhưng rồi chúng tôi mỗi người nói một câu, phân tích thêm là ta chỉ cần vượt mấy chặng nguy hiểm rồi lao xe xuống vực, chúng ta lại đi bộ. Sau này khi bọn địch phát hiện ra thì chúng ta đã cao chạy, xa bay rồi. Cuối cùng, anh Kiên miễn cưỡng tán thành.
8/ Thế là chúng tôi đi về phía Ngân Sơn, định men theo đường cái lớn để chặn bắt ô – tô. Buổi chiều 20-8, chúng tôi đến nhà một người Dao ở hẻo lánh trong rừng thuộc xóm Khâu Long, châu Ngân Sơn, định nấu cơm ăn rồi lại tiếp tục đi. Chúng tôi không ngờ tên chủ nhà đã đi báo cho chánh mục Bằng, chánh mục Bằng báo tên châu úy Bảo. Cơm chưa chín đã có tin quân địch bao vây. Ai nấy vội vã luồn rừng đi về Khau Pàn, định vượt đường số 3 phụ.
9/ Lúc này khoảng bốn giờ chiều, xung quanh chúng tôi là quân lính của bọn khét tiếng gian ác vùng này như: châu úy Bảo, châu đoàn Phát, quản Lợi và đội Quân. Bọn chúng đi dàn hàng ngang để lùng tìm. Khi phát hiện ra chúng tôi, bọn địch nổ súng liền. Chúng tôi nằm rạp xuống cỏ, tìm mô đất hay gốc cây để nổ súng bắn trả. Hai anh Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri đều đã bị thương. Chúng tôi vừa bắn vừa lùi nhưng quân địch đã lố nhố ở khắp nơi: ở trên đỉnh núi cao và ở ngay dưới khe suối.
10/ Mặt anh Kiên đầy máu me. Anh bị một vết thương khá nặng ở đầu. Đôi lúc anh như không còn bò đi được nữa. Tuy vậy, chúng tôi vẫn nghe được tiếng anh Kiên hạ lệnh: “Tập trung súng bắn một loạt rồi mở đường máu chạy đi”. Tôi ôm lấy vai anh Kiên, cố dìu anh đi, nhưng anh gạt tay ra và dặn nhỏ: “Phải chạy ngay, thoát một người là có lợi cho cách mạng, dùng dằng ở đây thì chết hết. Về Cao Bằng nhớ báo cáo lại với cấp trên, tôi ở lại bắn bọn chúng để các đồng chí chạy”.
11/ Thì giờ lúc này cấp bách quá! Làn đạn của địch cứ chiu chíu ở phía trên đầu, có viên cắm phập vào bụi cỏ ở trước mặt chúng tôi. Tôi xông lại cứ kéo anh Kiên đi. Một toán lính rời chỗ nấp, khom lưng lao đến định bắt sống chúng tôi. Anh Kiên quát lên: “Các đồng chí phải rút ngay!”. Nói xong, anh quay phắt người về phía bọn lính đương chạy tới và nổ súng. Tôi vừa chạy vừa ngoái lại, còn thấy tay anh Kiên vẫn chĩa súng về phía địch nhưng đầu anh đã ngả sang một bên.
12/ Nhờ loạt đạn anh Kiên, chúng tôi thoát vòng vây giặc. Lúc này còn cái may nữa là trời đã xế chiều, lại có cơn mưa lớn ập tới, khiến bọn địch mất phương hướng lùng tìm. Thấy rằng đã thoát khỏi vòng vây, chúng tôi lặng lẽ đi tìm nhau và rất hoảng sợ vì ngoài anh Phùng Chí Kiên, còn anh Lương Văn Tri cũng không thấy đâu nữa. Về sau này chúng tôi mới được đồng bào trong vùng kể lại là đồng chí Tri bị thương ở cánh tay, máu ra nhiều quá, anh đuối sức và ngã xuống ở một hố làm vàng rồi không leo lên được anh bị bắt và bị chết ở nhà giam Cao Bằng.
13/ Về anh Phùng Chí Kiên thì sau khi đã bắn đến viên đạn cuối cùng, anh bị quân địch bắt được. Bọn địch reo hò là bắt được giặc cỏ Cộng sản. Anh Kiên đã tập trung tất cả sức lực còn lại để nói với binh lính (đây là lời quần chúng nói lại), đại ý: “Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp đuổi Nhật chứ không phải là giặc cướp. Chúng ta là người Việt Nam, cần đoàn kết nhau lại, chống quân thù…”. Bọn Bảo, Phát rất sợ những lời chính nghĩa đó ảnh hưởng đến bọn tay chân, chúng đánh chết anh Kiên và sau đó, theo lệnh quan thầy Pháp, chúng cho chặt đầu anh, đem bêu ở đầu cầu Ngân Sơn, hòng uy hiếp tinh thần quần chúng. Làm cách mạng là không thể tránh khỏi sự gian khổ, hy sinh, tổn thất để đi đến thắng lợi cuối cùng. Sự hy sinh của các anh Lương Văn Tri, Phùng Chí Kiên là một tổn thất của Đảng ta. Nhưng qua sự hy sinh ấy, nhân dân Ngân Sơn đã tận mắt thấy rõ tội ác của giặc, thấy được ý chí sắt đá của con người Cộng sản. Chính cái chết đó đã góp phần không nhỏ, thức tỉnh tinh thần giác ngộ của nhân dân. Vì vậy, chỉ một năm, sau khi các anh Tri và Kiên chết, cán bộ của Đảng đã gieo được hạt giống cách mạng vào đất Ngân Sơn, nơi có phong trào sớm nhất của tỉnh Bắc Cạn cũ.
III/ Hình ảnh minh hoạ:
1/ Cụ Hà Khai Lạc ở trong hình minh hoạ, cụ đứng bên trái ảnh.
2/ Bìa cuốn sách trích dẫn: