[CCCĐ] Hành trình vòng quanh thế giới: Đến với Patagonia, vùng đất cực nam của Châu Mỹ

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
PXL_20251221_150854043 by Hieu Tran, on Flickr

Do cả ngày hôm trước di chuyển phải ăn đồ ăn vớ vẩn nên cả nhà rất thèm cơm. Lấy ddienj thoại ra tra thấy quán này gần ngay trung tâm mà có bán cơm nên cả nhf liền ghé luôn. Việc đầu tiên hỏi là có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng ko? Câu trả lời là có, OK cả nhà ngồi vào gọi đồ

PXL_20251221_152316133.MP by Hieu Tran, on Flickr

PXL_20251221_153438226.MP by Hieu Tran, on Flickr

PXL_20251221_153458555 by Hieu Tran, on Flickr

Cốc nước cam to đùng đến nỗi con bé con cũng phải há hốc mồm ngạc nhiên. Giá cũng khá rẻ chỉ 8 soles

PXL_20251221_153526070.PORTRAIT by Hieu Tran, on Flickr

Một điểm cộng khác khi đi Peru đó là rất nhiều hoa quả nhiệt đới và rất ngon. Xoài siwwu ngọt và thơm. Khác hẳn lần nhà em đi cộng hòa Dominica, cũng nghĩ là vùng nhiệt đới nên sẵn rau và hoa quả nhưng té ra là nhầm, ăn cơm chẳng có rau gì, hoa quả cũng không nốt
 

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Nạp năng lượng xong nhà em đi bộ ra phía quảng trường trung tâm,

_DSF5431 by Hieu Tran, on Flickr

Sắp dịp lễ giáng sinh nên ông già noel xuất hiện khắp nơi

_DSF5433 by Hieu Tran, on Flickr

Những người dân tộc Quechua rất dễ nhận biết bởi hình dáng thấp, tròn và trang phục của họ

_DSF5434 by Hieu Tran, on Flickr
 

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Đang đi bộ thì tự nhiên trống kèn nổi lên rộn ràng, ầm ĩ cả một góc phố. Cả nhà tò mò chạy lại xem thì mới biết hóa ra là cuộc diễu hành của bà con Công giáo bản địa.
Nói thật là chẳng hiểu hôm ấy là lễ gì, nhưng nhìn cái không khí là thấy vui ngay: người đông nghịt, màu sắc thì sặc sỡ, trống kèn đánh rộn ràng, đúng kiểu vui từ đầu phố đến cuối phố.
Đặc biệt là mấy bà đi đầu đoàn, đúng chất “linh hồn của cuộc vui”. Thấy mình giơ máy lên quay với chụp là vẫy tay gọi rối rít, ra hiệu nhảy vào chụp ảnh chung cho vui. Thế là đang đứng xem bỗng dưng thành… người trong đoàn lúc nào không biết :)) . Thật sự rất dễ thương, kiểu thân thiện rất tự nhiên.

PXL_20251221_162237638 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5435 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5437 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5439 by Hieu Tran, on Flickr

 
Chỉnh sửa cuối:

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Được hòa mình vào các cuộc diễu hành đường phố này thực sự là món quà rất bất ngờ với nhà mình, vì khi tìm hiểu thông tin đi chơi ở Lima thì chỉ biết đến những điểm thăm quan chính chứ ít thấy ai đề cập đến những lễ hội này. Nhà mình may mắn đi đúng dịp giáng sinh và năm mới nên được trải nghiệm rất nhiều lễ hộ ở Peru

_DSF5442 by Hieu Tran, on Flickr

Kitô giáo ở Peru không chỉ là di sản của thực dân Tây Ban Nha, mà đã trở thành một phần cấu trúc văn hóa – xã hội của đất nước. Qua nhiều thế kỷ, người Peru đã biến Công giáo thành tôn giáo của chính họ, hòa trộn giữa thánh giá và núi Andes, giữa Kinh Thánh và Pachamama.
Kitô giáo ở Peru là cách người dân nơi đây thích nghi, phản kháng mềm và sáng tạo văn hóa trước lịch sử chinh phục.
Được đưa vào Peru từ thế kỷ XVI, cùng với cuộc chinh phục của người Tây Ban Nha, sau khi đế chế Inca sụp đổ (1533), công giáo trở thành công cụ quan trọng để người Tây Ban Nha kiểm soát xã hội.
  • Nhà thờ được xây ngay trên nền đền thờ Inca (cái này đến đoạn đi Cusco em sẽ nói rõ hơn)
  • Linh mục song hành cùng quan chức thuộc địa
  • Người bản địa bị ép rửa tội, học giáo lý, bỏ nghi lễ cổ truyền
Tuy nhiên, việc cải đạo không diễn ra hoàn toàn theo một chiều. Người Andes tiếp nhận Kitô giáo theo cách của mình, giữ lại thế giới quan bản địa dưới lớp vỏ Công giáo.

Một đặc trưng nổi bật của Kitô giáo ở Peru là tính dung hợp:
  • Pachamama (Mẹ Đất) không biến mất, mà được “che chở” dưới hình ảnh Đức Mẹ Maria
  • Các thánh Công giáo được gán vai trò giống thần bảo hộ núi non (Apus)
  • Nghi lễ Công giáo kết hợp rượu, lá coca, âm nhạc bản địa
Người Peru có thể đi lễ nhà thờ vào Chủ nhật, nhưng vẫn cúng Pachamama trước khi gieo trồng – hai điều này không mâu thuẫn trong tâm thức của họ.

Những người tham gia diễu hành rất hiếu khách, nhà mình xin chụp ảnh cùng ai cũng vui vẻ nhận lời

_DSF5446 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5447 by Hieu Tran, on Flickr
 

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Em gái này chủ động ra bắt quenvowis mình, em ấy hỏi tao thấy mày vừa nãy chụp ảnh, mày có thể gửi vào FB cho tao ko? Rồi em ấy cho mình FB của em ấy. Mãi đến hôm nay mình mới gửi ảnh cho em ấy (vì phải đợi về đến nhà lấy ảnh và chỉnh sửa). Đang hỏi em ấy ý nghĩa của các cuộc diễu hành này, nếu em ấy trả lời, em sẽ update sau :D

_DSF5453 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5448 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5452 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5455 by Hieu Tran, on Flickr
 

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Cả nhà đi bộ ra quảng trường trung tâm (Plaza de Armas), gặp dúng lúc đội kỵ binh hoàng gia đang diễu hành

_DSF5474 by Hieu Tran, on Flickr

Nghĩ cũng buồn cười, trước kia đế chế Inca bị mất vào tay người Tây Ban Nha cũng bởi tính tò mò của hoàng đế Inca lúc bấy giờ Atahualpa bị lừa và đế chế Inca bị mất vào tay người Tây Ban Nha. Hoàng đế muốn được tận mắt xem con lạc đá không bướu to (Llama), đây là từ mà các cận vệ của hoàng đế gọi con ngựa lúc bấy giờ (lúc đó cả Nam Mỹ không hề có ngựa) nên ông và một nhóm cận về không hề chuẩn bị nên bị lừa ở trận chiến Cajamarca, dẫn tới ông bị người Tây Ban Nha bắt và sau đó bị hành quyết, còn đế chế Inca bị sụp đổ.

Giờ thì hậu duệ của ông cưỡi con "Llama to" để diễu hành :D

_DSF5475 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5476 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5477 by Hieu Tran, on Flickr
 
Chỉnh sửa cuối:

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
_DSF5489 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5491 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5492 by Hieu Tran, on Flickr

Plaza de Armas de Lima, còn được gọi là Plaza Mayor, là quảng trường trung tâm và có ý nghĩa lịch sử quan trọng bậc nhất của thủ đô Lima nói riêng và Peru nói chung. Đây là nơi đánh dấu sự ra đời của Lima vào năm 1535, khi Francisco Pizarro (người đóng vai trò chính trong việc chinh phục Peru bằng cách bắt sống và sau đó xử tử hoàng đế Inca) chọn địa điểm này để xây dựng thủ phủ của Phó vương quốc Peru.

Theo mô hình quy hoạch đô thị của Tây Ban Nha tại châu Mỹ, Plaza de Armas được đặt ở vị trí trung tâm, từ đó phát triển các thiết chế quyền lực về chính trị, tôn giáo và hành chính. Cách tổ chức không gian này phản ánh rõ nét tư duy cai trị của chính quyền thực dân thời kỳ đầu.

_DSF5495 by Hieu Tran, on Flickr

Con bé nhà em thấy có chim bồ câu nên rất muốn mua mấy cái túi hạt để cho chim ăn, khổ nỗi em lại ko có tiền soles. Mấy người bán hạt này cũng rất "linh hoat", một túi giá là 1 sole, nhưng mua bằng đô Mỹ cũng 1 đô (trong khi 1 đô quy đổi là 3 soles). Vợ em thấy tiếc tiền (và trước sau cũng phải đổi tiền) nên chạy đi đổi, còn 3 bố con loanh quanh ở quảng trường chơi
 

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Bao quanh Plaza de Armas là những công trình quan trọng nhất của nhà nước và Giáo hội:
  • Nhà thờ chính tòa Lima (Catedral de Lima) – biểu tượng của Công giáo thuộc địa và là trung tâm tôn giáo lớn nhất Peru thời kỳ Tây Ban Nha
  • Dinh Tổng thống (Palacio de Gobierno) – trụ sở quyền lực hành pháp, đặt trên nền dinh thự cũ của Pizarro
  • Tòa thị chính Lima và các công trình thuộc địa với ban công gỗ chạm khắc đặc trưng
Trong thời kỳ thuộc địa, quảng trường này không chỉ là nơi tổ chức các nghi lễ tôn giáo và sự kiện chính trị, mà còn là không gian công cộng nơi chính quyền công bố sắc lệnh, xét xử và thực thi quyền lực.

Đây là dinh tổng thống, nơi chỉ 1 lát nữa nhà em được chứng kiến màn biểu diễn đội kỵ binh

_DSF5496 by Hieu Tran, on Flickr

Còn đây là nhà thờ chính tòa

_DSF5497 by Hieu Tran, on Flickr

Ba bố con đang chơi ở quảng trường thì nghe tiếng kèn hoạt náo, chạy lại xem thì mới biết chuẩn bị có màn trình diễn của đội kỵ binh hoàng gia ngay phía trước phủ tổng thống

_DSF5500 by Hieu Tran, on Flickr

Âm nhạc hào hùng vang lên từ đội kèn của kỵ binh hoàng gia, hòa cùng tiếng vó ngựa gõ đều trên mặt đường, tạo nên một bầu không khí trang nghiêm và đầy khí thế. Tiếc là họ chỉ cho đứng bên kia đường để xem mà ko được lại gần

_DSF5502 by Hieu Tran, on Flickr
 

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Chỉnh sửa cuối:

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Chỉnh sửa cuối:

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
_DSF5550 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5552 by Hieu Tran, on Flickr

Bưu điện trung tâm

_DSF5553 by Hieu Tran, on Flickr

Còn đây là tượng của Franciso Pizzaro,kẻ đã đánh bại và đặt dấu chấm hết cho đế chế Inca, một trong những nền văn minh hùng mạnh và phát triển nhất châu Mỹ tiền Colombo. Cuộc chinh phục của ông vừa mang tính phiêu lưu cá nhân, vừa phản ánh bản chất bạo lực và tham vọng của làn sóng thực dân Tây Ban Nha thế kỷ XVI.

_DSF5554 by Hieu Tran, on Flickr
 
Chỉnh sửa cuối:

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Nhân đây lại nói thêm về sự khác nhau giữa người Anh di cư sang Bắc Mỹ và người Tây Ban Nha sang Mỹ Latin trong thời kỳ đầu (thế kỷ 16–18). Chính sự khác nhau này đã để lại hậu quả lâu dài cho cách phát triển của hai khu vực, điều này nếu cụ/mợ nào đã đọc cuốn vì sao quốc gia thất bại (Why nations fail) thì đề cập rất rõ.

Xuất phát điểm của hai cuộc di cư người Anh và Tây Ban Nha cũng khác nhau. Tây Ban Nha bắt đầu chinh phục châu Mỹ sớm (từ 1492), khi còn là cường quốc quân chủ–Công giáo hùng mạnh. Còn người Anh di cư sang Bắc Mỹ muộn hơn (đầu thế kỷ XVII), trong bối cảnh đã trải qua cải cách tôn giáo, thương mại hóa và hạn chế quyền lực quân chủ.

Người Anh di cư sang Bắc Mỹ phần lớn xuất phát từ nhu cầu định cư lâu dài. Trong bối cảnh nước Anh thế kỷ XVII đối mặt với bất ổn tôn giáo và xã hội, nhiều nhóm Tin Lành như Puritans hay Quakers bị đàn áp và khao khát tìm kiếm một vùng đất mới để tự do thực hành đức tin. Bên cạnh đó, sự khan hiếm đất đai và cơ hội kinh tế tại Anh đã thúc đẩy nông dân, thợ thủ công, người nghèo và thậm chí cả tầng lớp trung lưu (những người có quan điểm tôn giáo khác biệt với hoàng gia lúc bấy giờ) ra đi với hy vọng sở hữu đất, làm ăn và xây dựng một cuộc sống ổn định, được tự do thực thi đức tin của mình. Họ mang theo gia đình, con cái, và coi Bắc Mỹ là nơi gắn bó cả đời, chứ không phải một điểm dừng tạm thời.

Ngược lại, người Tây Ban Nha đến châu Mỹ trong vai trò chinh phục và khai thác. Ngay từ những chuyến đi đầu tiên, động lực chính của họ là vàng bạc, của cải và danh vọng. Phần lớn những người sang Mỹ Latin là binh lính, quý tộc nhỏ hoặc quan chức, những người ít cơ hội thăng tiến ở quê nhà. Họ coi Tân Thế Giới như một nơi để lập công, tích lũy tài sản rồi quay về, hoặc để giành lấy quyền lực trong bộ máy thuộc địa. Bên cạnh đó, việc truyền bá Công giáo cũng gắn chặt với mục tiêu mở rộng đế chế của hoàng gia Tây Ban Nha, khiến quá trình chinh phục mang màu sắc tôn giáo và chính trị sâu đậm.

Francisco Pizarro là điển hình của việc ra đi tìm kiếm của cải và danh vọng. Ông vốn xuất thân trong một gia đình nghèo, là con ngoài giá thú của một sĩ quan bộ binh. Ông mù chữ, không được giáo dục bài bản, tuổi trẻ gắn với chăn lợn và lao động tay chân. Nói tóm lại là thành phần du thủ du thực vì vậy chẳng có cơ hội mà phát triển ở mẫu quốc :D. Nhưng cũng vì du thủ du thực nên ông có máu lạnh từ bé, có lẽ điều này sau này giúp ông rất nhiều trong việc cai trị hà khắc và tàn bạo đối với người thổ dân, giúp ông chinh phục được đế chế Inca hùng mạnh.

Giống nhiều người nghèo Tây Ban Nha thời đó, Pizarro tìm cơ hội đổi đời ở châu Mỹ, tới Caribe rồi Panama, tham gia các đoàn thám hiểm tìm vàng và đất mới.

_DSF5555 by Hieu Tran, on Flickr

_DSF5557 by Hieu Tran, on Flickr
 
Chỉnh sửa cuối:

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Năm 1513, Pizarro lẽo đẽo theo Balboa băng qua eo đất Panama, trèo đèo lội suối để rồi trở thành một trong những người châu Âu đầu tiên nhìn thấy Thái Bình Dương. Nghe thì oai, nhưng thực ra lúc ấy ông này vẫn chỉ là một thằng lính quèn, chưa có gì trong tay ngoài mộng đổi đời.

Sang năm 1514, thời thế xoay chiều, Pedro Arias Dávila được bổ nhiệm làm thống đốc mới, Balboa – sếp cũ – lập tức thành cái gai trong mắt cấp trên. Pizarro thì đánh hơi rất nhanh, thấy bên nào có lợi là theo bên đó. Trong mấy năm tiếp theo, ông ta trở thành tay chân thân tín của Dávila, được chia đất, chia thổ dân, chia gia súc, nói chung là bắt đầu phất lên chút đỉnh.

Đến khi Dávila quyết định xử Balboa, ông ta gọi Pizarro đi bắt. Với tham vọng của mình, Pizarro không chần chừ, đích thân đi bắt Balboa. Balboa bị chặt đầu, còn Pizarro thì được thưởng công, ngồi ghế thị trưởng kiêm thẩm phán Panama từ năm 1519 đến 1523.

Trong quãng thời gian làm quan này, Pizarro bắt đầu nghe phong thanh ở phía Nam có một đế chế giàu có, vàng bạc nhiều (đế chế Inca). Lại thêm ông anh họ Hernán Cortés vừa ở Mexico đập tan đế chế Aztec, một bước thành danh. Thế là Pizarro bắt đầu mất ngủ, trong đầu chỉ có một ý nghĩ: thằng kia làm được, tao cũng làm được.

Pizarro bắt tay với Diego de Almagro, người lo tiền, lính, thuyền, và Hernando de Luque, người lo giấy tờ pháp lý. Almagro sau này mâu thuẫn sau sắc với Pizarror và cả hai đều là nạn nhân của vòng xoáy thù hận. Almagro bị 2 người em của Pizarror sát hại trong trận chiến ở Cusco, còn bản thân Pizarror thì lại bị chính con của Almagro giết hại ngay lại Lima để báo thù cho cha. Nhưng đó là chuyện về sau, lúc này cả bọn vẫn còn anh anh em em, hăm hở kéo nhau đi săn đế chế.

Lần 1: Tháng 11 năm 1524, Pizarro dẫn theo 80 người và 4 con ngựa lên đường lần đầu. Đi chưa ấm chỗ đã gặp thời tiết xấu, đói khát, thổ dân thì không hiền như mơ. Đoàn mò mẫm dọc bờ Thái Bình Dương, chỉ tới được Colombia là tơi tả. Đỉnh điểm là Almagro ăn một mũi tên mù luôn một mắt, thế là cả bọn cắm đầu quay về Panama, tay trắng hoàn tay trắng.

Lần 2: Không bỏ cuộc, tháng 3 năm 1526, Pizarro lại kéo thêm người, thêm thuyền, làm chuyến thứ hai. Lần này đi xa hơn, chia quân làm hai: Pizarro ở lại lục lọi vùng bờ biển đầm lầy nguy hiểm, còn Almagro quay về Panama xin thêm quân. Trong lúc ấy, thuyền trưởng Bartolomé Ruiz vượt xích đạo, bắt gặp một chiếc bè của người bản địa từ Tumbes. Trên bè có vải vóc, đồ gốm và cả vàng bạc, ngọc lục bảo, làm cả đám mắt sáng như đèn pha. Lần đầu tiên, tin đồn về một đế chế giàu có có bằng chứng hẳn hoi, không phải chuyện chém gió.

Cả đoàn hưng phấn kéo xuống Atacames (Ecuador), nơi đã thuộc quyền Inca. Nhưng vừa tới nơi là tỉnh ngay: người Inca đông, kỷ luật, không dễ bắt nạt. Thấy mùi không ổn, người Tây Ban Nha quyết định không tiến sâu, Almagro lại quay về Panama xin tiếp viện, còn Pizarro thì kẹt lại.

Mười ba người nổi tiếng

Lúc này, thống đốc mới Panama là Pedro de los Ríos thấy thất bại liên miên nên ra lệnh cho tàu tới đón Pizarro về nước, coi như dẹp mẹ cuộc thám hiểm. Nhưng Pizarro thì không chịu. Đến đảo Gallo, ông ta vạch một đường trên cát và nói: "Bên này là Panama và nghèo đói, bên kia là Peru và vàng bạc; ai là đàn ông Castile thì tự chọn". Kết quả là chỉ có 13 người dám ở lại. Họ về sau được gọi là “Mười ba người nổi tiếng”, còn lại thì lặng lẽ quay về Panama.

500px-Los_13_de_la_Isla_del_Gallo.jpg


Mười ba người đó phải đóng thuyền thô sơ, trôi dạt lên đảo Gorgona, chịu đói chịu khổ suốt bảy tháng trời. Sau nhiều lần Luque năn nỉ, Panama miễn cưỡng cho thêm một con tàu. Almagro và Luque quay lại Gorgona, hội quân với Pizarro rồi tiếp tục đi thẳng về phía Nam, lần này quyết không quay đầu nữa.

Tháng 4 năm 1528, họ đặt chân tới Tumbes, vùng đất khiến người Tây Ban Nha mở cờ trong bụng. Dân bản địa đón tiếp tử tế, có lương thực, có nhà cửa, có trật tự đàng hoàng. Lần đầu tiên Pizarro nhìn thấy llama, ông ta gọi luôn là “lạc đà cỡ nhỏ”. Quan trọng hơn, ông nghe kể về một vị vua cực kỳ quyền lực và một đế chế rộng lớn phía sau. Lúc này thì Pizarro biết chắc: mỏ vàng thật sự ở ngay trước mặt.

Cả đoàn quay về Panama để chuẩn bị cho cú đánh cuối cùng. Trên đường về, Pizarro khôn ngoan để lại hai người học phong tục và ngôn ngữ bản địa, đồng thời mang theo hai cậu bé Peru sang Panama học tiếng Tây Ban Nha. Những chi tiết tưởng nhỏ này về sau lại trở thành vũ khí cực mạnh, giúp ông ta chinh phục Inca thành công.

Chuyến đi thứ hai tuy chưa chiếm được đế chế nào, nhưng nó đã chứng minh một điều không thể chối cãi: ở phía Nam thật sự tồn tại một đế chế giàu có, tổ chức chặt chẽ và đủ hấp dẫn để Pizarro sẵn sàng đánh đổi tất cả – kể cả bạn bè, máu và mạng sống.

_DSF5560 by Hieu Tran, on Flickr
 
Chỉnh sửa cuối:

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Hiệp ước Toledo

Khi thống đốc mới của Panama, Pedro de los Ríos, từ chối cấp phép cho cuộc thám hiểm lần thứ ba về phía nam, các cộng sự của Francisco Pizarro nhận ra rằng con đường duy nhất còn lại là quay về Tây Ban Nha để trực tiếp thỉnh cầu triều đình. Mùa xuân năm 1528, Pizarro rời Panama, vượt Đại Tây Dương cùng một số người bản địa, lạc đà không bướu, và các mẫu vải, vàng bạc thu được trong những chuyến thám hiểm trước – những bằng chứng cụ thể cho thấy vùng đất mà ông nhắc tới không chỉ tồn tại trong lời kể.

Tại Toledo, vua Charles I tiếp Pizarro và lắng nghe câu chuyện về những vùng đất giàu tài nguyên ở Nam Mỹ mà ông đã thăm dò “vì lợi ích của vương quyền Castile”. Ấn tượng trước các báo cáo và hiện vật mang về, triều đình Tây Ban Nha đã thông qua Hiệp ước Toledo, được Nữ hoàng Isabel ký ngày 6 tháng 7 năm 1529, cho phép Pizarro tiến hành cuộc chinh phục Peru.

Theo hiệp ước này, Pizarro được bổ nhiệm làm Thống đốc kiêm Tổng tư lệnh vùng Nueva Castilla, quản lý khoảng 200 dặm dọc theo bờ biển phía tây của vùng đất mới phát hiện, với toàn quyền hành chính và quân sự. Trái lại, các cộng sự từng sát cánh cùng ông – đặc biệt là Diego de Almagro – chỉ được trao những vai trò thứ yếu. Sự phân chia quyền lực không cân xứng này về sau trở thành nguồn gốc của những mâu thuẫn nghiêm trọng giữa các nhà chinh phục.

Ở thời điểm đó, triều đình Tây Ban Nha gần như chưa nắm rõ hình dạng thực tế của lục địa Nam Mỹ. Việc phân chia lãnh thổ vì thế chủ yếu dựa trên các vĩ tuyến được xác định một cách tương đối. Pizarro được trao quyền kiểm soát vùng đất từ khoảng vĩ tuyến 1° Bắc đến 14° Nam – phần lớn lãnh thổ của đế chế Inca giàu có. Vùng đất dành cho Almagro nằm từ vĩ tuyến 14° Nam đến 26° Nam, bao gồm khu vực nam Peru, Bolivia và bắc Chile ngày nay, rộng lớn nhưng khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt và ít tài nguyên quý.

Về mặt địa lý, Cusco – kinh đô của đế chế Inca – nằm ở khoảng 13°31′ vĩ Nam, rất gần ranh giới phía nam của Nueva Castilla. Trên văn bản, thành phố này vẫn thuộc phạm vi quản lý của Pizarro. Tuy nhiên, trong điều kiện thế kỷ XVI, việc xác định ranh giới trên thực địa vô cùng khó khăn: đo đạc vĩ độ giữa vùng núi Andes chỉ mang tính ước lượng, bản đồ còn sơ sài, đơn vị đo không thống nhất và hoàn toàn không có mốc giới rõ ràng. Cusco vì thế trở thành một vùng tranh chấp tiềm tàng, nơi mỗi bên đều có thể viện dẫn lập luận của mình. Đây cũng là cái cớ để xảy ra nội chiến giữa quân của Pizarror và Almagro sau này

Nhìn bản đồ này các cụ có thể thấy Cusco nằm rất gần biên giới của 2 vùng do Pizarror và Almagro (sau này tiếp quản)

Gobernaciones_españolas_en_América_del_Sur_(1529).svg.png
 

hieutcnd

Xe lăn
Người OF
Biển số
OF-304539
Ngày cấp bằng
10/1/14
Số km
10,320
Động cơ
587,069 Mã lực
Em kể tiếp chuyện cuộc chinh phục lần thứ 3 của Pizarror dẫn tới việc chấm dứt đế chế Inca.

Thiên thời mang tên nội chiến:

Cuộc chinh phục lần thứ 3 của Pizarror thành công không kể không nhắc đến yếu tố thiên thời với bối cảnh đế chế Inca lúc bấy giờ.

Ngay trước khi người Tây Ban Nha xuất hiện, vua cuar đế chế Inca Huayna Capac qua đời vì dịch đậu mùa, căn bệnh mà châu Âu mang tới Nam Mỹ. Người thừa kế do ông chỉ định cũng chết ngau sau đó, tạo ra một khoảng trống quyền lực sâu sắc. Đại dịch không chỉ làm suy yếu quân đội và sản xuất nông nghiệp, mà còn gây hoang mang và chia rẽ trong các tầng lớp cai trị.

Khoảng trống quyền lực này nhanh chóng dẫn tới cuộc nội chiến giữa hai người con trai của Huayna Capac, Huáscar ở Cusco và Atahualpa ở Quito. Nội chiến kéo dài nhiều năm, hàng chục nghìn binh lính thiệt mạng, và những dân tộc từng bị Inca chinh phục trước đây bắt đầu tìm cơ hội phản kháng. Các tuyến đường thương mại bị gián đoạn, kho dự trữ lương thực căng thẳng, và sự ổn định lâu đời của đế chế bắt đầu lung lay.

Khi Atahualpa thắng thế trong cuộc nội chiến, bắt giữ Huáscar, đế chế Inca về lý thuyết vẫn còn rộng lớn và giàu có, nhưng về thực chất đã kiệt quệ về chính trị, quân sự và tinh thần. Đây chính là bối cảnh mà người Tây Ban Nha – với lực lượng nhỏ nhưng trang bị hiện đại – xuất hiện. Khoảnh khắc Inca đang rạn nứt từ bên trong chính là cơ hội khiến việc chinh phục trở nên tương đối dễ dàng, bất chấp sự giàu có và hạ tầng phát triển của đế chế.

Trận chiến Cajamarca

Lần thứ 3:
Pizarror và đoàn tùy tùng trên đường tiến sâu vào Peru, họ ít gặp sự phản kháng vì INca vừa trải qua nội chiến. Lúc này Atahualpa vừa đánh bại anh trai mình trong cuộc nội chiến và đang nghỉ dưỡng ở Cajamarca.

Tại Cajamarca vào ngày 15 tháng 11 năm 1532, Pizarro chỉ có một lực lượng gồm 110 lính bộ binh, 67 kỵ binh, ba khẩu súng hỏa mai và hai khẩu pháo nhỏ. Đến nơi thì hoàng đế dường như đã chuẩn bị sẵn để gặp ông bằng cách đóng quân trên đồi cao với 50.000 quân bảo vệ, đường phố vắng vẻ.

Trong khi đó đội quân của Pizarror rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, bất kỳ cuộc tấn công nào vào quân đội Inca đang đóng quân trên thung lũng đều sẽ là tự sát. Rút lui cũng không phải là một lựa chọn, bởi vì bất kỳ dấu hiệu yếu kém nào cũng có thể làm suy yếu hình ảnh bất khả chiến bại của họ, và sẽ dẫn đến việc bị truy đuổi và chặn đường ở các đèo núi

Ông cử sứ giả đến ngỏ lời muốn diện kiến hoàng đế Atahualpa tại trại của ông ta. Atahualpa đồng ý gặp Pizarro tại pháo đài ở quảng trường Cajamarca vào ngày hôm sau.

Sở dĩ hoàng đế đồng ý gặp với ít nghi ngờ vì ông vốn tự mãn sau chiến thắng cuộc nội chiến với người anh trai. Atahualpa đã tiếp đón những kẻ xâm lược từ vị thế vô cùng mạnh mẽ. Đóng quân trên những ngọn đồi cao của Cajamarca với một lực lượng lớn gần 80.000 quân lính dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, vừa giành chiến thắng trong cuộc nội chiến. Người Inca cảm thấy họ không có gì phải sợ hãi trước đội quân nhỏ bé của Pizarro, bất kể trang phục và vũ khí của họ có kỳ lạ đến đâu

Có một chi tiết khá khôi hài đó là một trong những lý do Hoàng đế đồng ý gặp đội quân của Pizarror đó là ông tò mò muốn xem tận mắt con Llama to (lạc đà không bướu, đây là cách mà người Inca gọi con ngựa lúc đó, ở thời điểm đó Nam Mỹ hoàn toàn không có ngựa).

Cũng cần phải lưu ý rằng vào thời điểm đó, người Inca còn chưa biết sử dụng các dụng cụ bằng sắt, bởi vạy vũ khí của họ rất thô sơ với giáo, mác, thương, cung tên bằng gỗ và đá. Và tất nhiên chưa hề biết mặt mũi khẩu súng như thế nào, pháo thì càng không biết :((
 
Chỉnh sửa cuối:
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top