[TT Hữu ích] Góc Khuất Của Chiến Tranh

lúa mỳ

Xe máy
Biển số
OF-871476
Ngày cấp bằng
14/11/24
Số km
94
Động cơ
1,659 Mã lực
Tuổi
58
thớt hay vậy..hôm nay em mới lần mò ra..thank cụ thớt nhiều
 

Ngo Rung

Xe cút kít
Biển số
OF-73049
Ngày cấp bằng
16/9/10
Số km
16,985
Động cơ
477,069 Mã lực
Nên mới có câu "Ông bà gánh còng lưng" là thế đó cụ. Mỹ xây dựng mô hình chính xác 1:1, diễn tập thực địa cả chục lần nhưng mà vẫn tèo vụ Sơn Tây (nguồn chính thống).
Sẵn đây làm em nhớ tới cầu Hàm Rồng, Mỹ cũng xây dựng mô hình và huấn luyện các kiểu con đà điểu, mà phi công ném bom vẫn cứ trật =)) , mãi sau này mới có bom laser dẫn đường mới ăn thua, đúng là nể các bộ óc nghiên cứu khoa học của Mỹ, nhưng Mỹ ăn mừng đúng một hôm thì phát hiện quân ta làm mấy chục cái cầu bắc qua sông ẩn dưới nước hồi nào không hay, nên dù cầu Hàm Rồng có huỷ thì chả làm sao, các cụ nhà ta tính hết rồi.
Cầu HR thì thực tế với luyện tập khác nhau. Lúc tập không bố trí được lưới phòng không dày đặc như thực tế. Khi ném bom thực tế, các chú phi công chả vãi tòe ra quần với lưới phòng không của mình bắn lên, vì vậy chỉ quăng bom cho nhanh rồi té thôi.
Bên mình cũng hy sinh rất nhiều quanh trận địa bảo vệ cầu HR chứ không ít đâu. Ngày bé em ở cùng các cụ nhà em - thi công kho xăng dầu Đình Hương - ở ngay chân đồi Chiến Thắng. Mỗi lần mưa là nước chảy từ trên đồi xuống cuốn theo nhiều hài cốt lắm. Rồi chuyện vong bộ đội, thanh niên xung phong ở đấy nhập vào những người ở cơ quan các cụ nhà em như cơm bữa. Họ vào xin ăn, xin uống rồi nói ở đơn vị này, đơn vị kia chính xác luôn. Em được chứng kiến tận mắt 2 lần - tất nhiêu hồi đấy bé tí nên chỉ nhớ láng máng thôi, còn nhiều vụ em không chứng kiến nhưng các cụ kể lại.
Bây giờ các cụ nhà em mỗi lần tụ họp vẫn kể lại những kỷ niệm ấy.
 

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,694
Động cơ
665,114 Mã lực
CUỘC CHUYỂN QUÂN THẦN TỐC NĂM 1979
THÁO GHẾ BOEING 707 VÀ ĐƯỜNG BĂNG THẮP ĐÈN DẦU
Thành Đô
Ông Huỳnh Minh Bon nhớ lại
“Trong lịch sử hàng không dân dụng thế giới, tôi chưa đọc thấy một tài liệu nào nói dùng máy bay dân dụng để chở quân và cả vũ khí. Vậy mà thời điểm đó, chiếc Boeing 707 không chỉ chở quân mà còn chở cả súng ống, đạn dược”.
"Tôi bay nhanh lắm. Bay liên tục chỉ gần một tuần là xong nhiệm vụ. Lúc đó chuyển quân gấp mà. Tôi nói bay được là bay, dù mệt cũng bay"
Ông Huỳnh Minh Bon (cựu cơ trưởng - phi công của Đoàn bay 919, thuộc Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam) kể lại việc tháo ghế Boeing 707
Boeing 707 thuộc dòng máy bay phản lực chở khách đầu tiên được sản xuất tại Mỹ, là máy bay chở khách lớn nhất lúc bấy giờ với sức chứa 181 hành khách, tốc độ 966km/h.
Năm 1979, Việt Nam chỉ có duy nhất một máy bay Boeing. Và người có thể lái Boeing lúc đó chỉ có duy nhất phi công Huỳnh Minh Bon. Trước năm 1975, ông Huỳnh Minh Bon là phi công của Công ty Hàng không Việt Nam (Air Vietnam) VNCH.
“Mấy anh lãnh đạo gặp tôi và nói:
Tình hình bây giờ nếu chỉ chở quân bằng An-12, C-119, C-130... thì không kịp. Boeing là máy bay chở được nhiều khách nhất lúc đó. Họ hỏi tôi có thể dùng Boeing chở quân không?.
Tôi nói được.
Lúc đó thiếu tướng Trần Mạnh, đang là phó tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam, hỏi tôi:
Anh có thể chở được cả vũ khí không vì tới nơi là chúng tôi phải chiến đấu ngay chứ không thể chờ 2-3 ngày, một tuần lễ sau mới có vũ khí chiến đấu.
Khi tôi học ở nước ngoài, vũ khí và chất nổ nghiêm cấm đưa lên máy bay dân dụng. Tôi biết nhiệm vụ này rất nguy hiểm nhưng đất nước đang cần.
Tôi trả lời: Tôi làm được!
Trước khi về, anh Trần Mạnh dặn tôi:
Đây là nhiệm vụ tuyệt mật, không nói cho người thứ hai, kể cả vợ con” - ông Bon kể.
Bình thường Boeing 707 có sức chở gần 200 người.
“Tôi nghĩ phải làm sao chở được thật nhiều quân nhưng vẫn đảm bảo an toàn. Tôi đề xuất dỡ bỏ một lượng ghế trên máy bay. Tôi phải trực tiếp chỉ đạo cách tháo ghế. Chỉ tháo ở những vị trí được phép để đảm bảo độ cân bằng cho máy bay” - ông Bon nói.
Khoảng 50 ghế ở phần phía trước, khoang giữa và sau đuôi máy bay được tháo rời. Toàn bộ số ghế tháo rời được mang ra khỏi máy bay.
Những khoảng trống không có ghế được đan bởi những sợi dây. Bộ đội ngồi bệt dưới nền, đấu lưng vào nhau. Còn cột dây là để khi máy bay đi vào vùng thời tiết xấu, bị rung xóc, nghiêng ngả, bộ đội bám vào dây không bị dịch chuyển gây mất an toàn.
Nhờ sáng kiến này của phi công Huỳnh Minh Bon, mỗi chuyến chiếc Boeing 707 đã chở được 300 người của Quân đoàn 2.
Phần nguy hiểm nhất là số lượng vũ khí mang lên máy bay. Đạn dược, súng ống đựng trong những thùng rất lớn. Nhân viên mặt đất phải cột dây lại cho thùng dính với ghế để không bị dịch chuyển.
“Các thùng vũ khí không để tập trung một chỗ mà rải rác khắp máy bay, hạn chế va chạm khi rung xóc vì có nguy cơ cháy nổ và thương vong rất cao” - cựu cơ trưởng chuyến bay đặc biệt cho biết. Ông kể:
“Bộ đội mang theo súng đạn, balô xếp thành từng phân đội, lên máy bay trong vài chục phút là tôi cất cánh được ngay”.
Lúc đó, Boeing 707 chỉ có duy nhất một tổ bay. Và cơ trưởng luôn luôn là ông.
Một ngày, trung bình phi công Huỳnh Minh Bon cất cánh hai chuyến từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội.
Thắp đèn dầu ở đường băng
Nếu như các máy bay An-12 của Liên Xô hay C-119, C-130... bay ban ngày thì Boeing 707 lại chủ yếu bay ban đêm.
Sau chuyến bay ngày đầu tiên Huỳnh Minh Bon đề xuất bay đêm. Ông giải thích:
“Tôi thấy ban ngày máy bay mình bay nhiều, cường độ bay rất lớn. Trong khi ban đêm lại không có chuyến nào.
Nếu tận dụng khoảng trống ban đêm để chuyển quân thì sẽ nhanh hơn, bí mật hơn nhưng cái khó là sân bay của ta không sẵn sàng để bay đêm vì đường băng ở Tân Sơn Nhất và Nội Bài lúc đó không có đèn chạy dọc đường băng như bây giờ.
Tôi đề nghị đốt đèn dầu dọc đường băng, đường lăn và bến đậu nhưng đèn phải đảm bảo được độ sáng. Đèn không to quá cũng không nhỏ quá. Kiểu đèn tôi đề xuất phải chứa được 3 lít dầu chứ không cháy nhanh, mau hết dầu. Mà loại đèn đó thì không sản xuất sẵn, phải làm riêng.
Chỉ trong thời gian rất ngắn, các anh bên QP đã đáp ứng được loại đèn dầu như yêu cầu. Khi nào thấy còn 15 phút nữa cất cánh, tôi báo “tôi sắp cất cánh” thì ở dưới đường băng mấy ảnh mới thắp đèn dầu.
Đèn để hạ cánh thì khác một chút. Lúc đó có một số xe tải của Liên Xô đèn rất sáng. Tôi đề nghị cần 10 xe tải Liên Xô. Khi chuẩn bị hạ cánh, ôtô phải bật đèn ngay đầu đường băng”.
Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 cất cánh lúc 9h tối. Phi hành đoàn có 1-2 lái phụ đi cùng, trong đó có một người là phi công quân sự hàm đại tá.
Lúc đó Boeing 707 chỉ hạ cánh ở sân bay Nội Bài vì có đường băng dài hơn 3.000m. Sân bay Gia Lâm quá nhỏ, đường băng không đủ dài để Boeing cất hạ cánh.
Ông Bon nhớ lại:
“Chuyến bay đêm đầu tiên mọi người rất lo lắng, nhất là anh Trần Mạnh. Anh ấy nói:
Tôi ủng hộ anh bay đêm nhưng nếu anh bay không thành công tôi sẽ gặp khó khăn lớn”.
Trên thực tế, một số cựu phi công quân sự tham gia bay chở quân thời điểm cuối tháng 2, đầu tháng 3-1979 cho biết lúc đó mới tiếp thu máy bay nên trình độ của phi công chưa thể bay đêm.
Chuyến bay đêm đầu tiên của Boeing 707 hạ cánh thành công ở sân bay Nội Bài, xóa tan những lo lắng và hoài nghi của nhiều người về khả năng của phi công Huỳnh Minh Bon.
“Tôi bay nhanh lắm. Bay liên tục chỉ gần một tuần là xong nhiệm vụ. Lúc đó chuyển quân gấp mà. Tôi nói bay được là bay, dù mệt cũng bay” - ông Bon kể.
Lái máy bay từ thời Pháp và tới năm 1975 ông Bon có 25 năm kinh nghiệm lái máy bay dân dụng. Khi đất nước thống nhất, ông được mời tiếp tục làm việc, vừa bay vừa đào tạo phi công cho nền hàng không non trẻ CHXHCN VN
Ông Bon kể: “Ngày 30-4-1975, tôi đang lái Boeing 707 chở khách chặng Sài Gòn - Hong Kong - Tokyo. Lúc dừng ở Hong Kong thì nghe tin Sài Gòn giải phóng. Lúc đó có nhiều hãng nước ngoài mời tôi ở lại bay cho họ nhưng tôi từ chối. Tôi muốn về nước. Gia đình, vợ con tôi ở Việt Nam. Đó là quê hương tôi. Tôi không đi vì tôi yêu Việt Nam”.
Ngoài Boeing 707, một số máy bay dân dụng khác cũng được huy động cho cuộc chuyển quân khẩn cấp bằng đường hàng không. Ông Huỳnh Minh Phương, 70 tuổi, hiện sống ở Hà Nội, là người đã lái máy bay TU-134 chở bộ đội từ sân bay Phnom Penh về sân bay Tân Sơn Nhất. TU-134 cũng được tháo ghế để có thể chở 100 quân thay vì 80 người như bình thường
1. Ông Huỳnh Minh Bon bây giờ
2. Bộ đội xếp hàng chờ lên máy bay dân dụng ra Bắc chi viện cho chiến trường biên giới năm 1979 - Ảnh tư liệu
3. Bộ đội Quân đoàn 2 chờ lên máy bay để chi viện gấp cho chiến trường miền Bắc -
Ảnh tư liệu.
1771330854777.png

1771330862390.png

1771330871458.png
 

sắt con

Tháo bánh
Biển số
OF-203221
Ngày cấp bằng
23/7/13
Số km
4,705
Động cơ
752,282 Mã lực
Năm nay rất nhiều page nhắc lại câu chuyện năm 79 với thằng mắt híp. Âu cũng là điều tốt để mãi ko quên lũ cầm quyền bành trướng, ko quên những vị liệt sỹ đã bỏ mình nơi biên giới phía Bắc. Việt Nam vất vả quá 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳


Ngày này 47 năm trước

5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân xâm lược Trung Quốc bắt đầu nổ súng tấn công vào lãnh thổ nước ta. Pháo binh Trung Quốc đã bắn dồn dập gần 10.000 đạn pháo vào pháo đài Đồng Đăng và nhiều điểm trọng yếu khác của ta.

Suốt một đêm trước đó, người Trung Quốc và những toán binh sĩ đã trà trộn vào lãnh thổ Việt Nam, cắt đường dây liên lạc, âm mưu phá hoại nhằm mở đường cho bộ binh Trung Quốc tấn công. Quân Trung Quốc nhanh chóng tràn ngập cao điểm 386 (sâu 1,5 km trong biên giới Việt Nam), hơn 100 bộ đội Việt Nam đã hy sinh tại cao điểm này.

Mặc dù chiến sự vẫn diễn ra ác liệt tại Cửa khẩu Hữu Nghị và nhiều nơi ở Đồng Đăng, nhưng phần lớn lực lượng phòng thủ của Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức tại 3 cụm cứ điểm: cụm chốt Thâm Mô, cao điểm 339 và pháo đài Đồng Đăng, tạo thành phòng tuyến hình tam giác vững chãi, có khả năng yểm trợ hỏa lực tốt cho nhau.

Sau khi chiếm cao điểm 386, quân Trung Quốc lên kế hoạch chiếm Đồng Đăng, cụm cứ điểm Thâm Mô và các cao điểm 339, 423 và 505. Cuộc tấn công được hỗ trợ bởi nhiều toán nhỏ xe tăng trên quốc lộ 4A. Tuy nhiên, quân Trung Quốc đã gặp thiệt hại lớn khi sư đoàn 163 của chúng đã mất phân nửa số xe tăng đi theo yểm trợ.

Để đối phó, quân Trung Quốc mở hai mũi công phá vào sườn đồi của cụm cứ điểm Thâm Mô, một mũi tiến công về hướng đông, trong làng Thâm Lũng, mũi còn lại tiến về Cồn Khoang, phía sau cao điểm 339.

Ý đồ di chuyển về Cồn Khoang của quân Trung Quốc đã bị ta phát hiện và phục kích bởi đại đội 63 lúc 9 giờ sáng. Một đại đội khác của ta cũng có mặt hỗ trợ kịp thời nhằm chặn đường rút quân của quân Trung Quốc, dẫn đến một tiểu đoàn quân Trung Quốc bị tiêu diệt.

Tại Thâm Lũng, quân Trung Quốc mở nhiều cuộc tấn công lên các cao điểm xung quanh, nhưng trước sự kháng cự quyết liệt của quân dân ta, quân Trung Quốc không thể tiến xa.

Một ngày sau, Trung đoàn 2 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tổ chức phản công, đẩy lùi các đơn vị quân Trung Quốc về cao điểm 409, 611, và 675. Tình hình giao tranh vẫn diễn ra hết sức căng thẳng sau đó.

Đến ngày 23 tháng 2, quân Trung Quốc chia làm sáu đợt tấn công dữ đội vào Phai Môn, một cứ điểm nằm ở phía đông của Thâm Lũng, tuy nhiên chiến thuật không mấy hiệu quả. Cuối cùng, quân Trung Quốc phải mở thêm mười hai đợt tấn công nữa, kéo dài suốt cả ngày mới xuyên thủng được Thâm Lũng.

Còn ở Thâm Mô, quân Trung Quốc liên tục bị đẩy lùi và chịu thương vong lớn. Nhận thấy tình hình không khả quan, tướng lĩnh Trung Quốc quyết định thay đổi chiến thuật, sử dụng nhiều đơn vị nhỏ, cơ động, móc vào những vị trí hiểm yếu của ta.

Sáng ngày 19 tháng 2, quân Trung Quốc mở nhiều đợt tấn công vào phòng tuyến Thâm Mô, giao một đại đội tấn công pháo đài Đồng Đăng, hai tiểu đoàn, một tấn công Thâm Mô và một tấn công cao điểm 339.

Ngày 21 tháng 2, sau khi củng cố lực lượng, quân Trung Quốc tiếp tục tấn công pháo đài Đồng Đăng, và chúng đã chiếm được phần lớn pháo đài, bắc loa kêu gọi quân dân ta đang cố thủ ở các tầng sâu hơn của pháo đài đầu hàng.

Dù đã cạn đạn dược, thực phẩm, thuốc men, rất nhiều người chê't và bị thương, nhưng quân dân ta trong pháo đài Đồng Đăng vẫn quyết tử thủ với lựu đạn, lưỡi lê, không một ai ra hàng.

Tức tối, quân Trung Quốc dùng bộc phá giật sập cửa hầm, dùng lựu đạn cay thả xuống các lỗ thông hơi, sau đó đổ xăng xuống hầm rồi phóng hỏa, hơn 800 quân và dân ta đã hi sinh anh dũng.”
 

lúa mỳ

Xe máy
Biển số
OF-871476
Ngày cấp bằng
14/11/24
Số km
94
Động cơ
1,659 Mã lực
Tuổi
58
Ở chiến trường K, không có khái niệm tù binh chiến tranh. Bên ta thì có nhưng ít, còn bên địch thì không. Trong mỗi trận đánh khi bị dồn vào thế thập tử nhất sinh thì lính ta thường sẽ sẵn sàng đổi mạng đến phút cuối cùng để đừng rơi vào tay Polpot.
cụ nói chuẩn . sau 2 năm còm của cụ em mới xem được
em có ông anh đi lính năm 1977 khi đó bác ấy có 16t thôi. được huấn luyện về đội trinh sát đặc công . thuộc dạng khét tiếng của lục quân ta khi đó. vì toàn bộ đội đặc công này đều do các đặc nhiệm LIÊN XÔ giảng dậy và huấn luyện cũng như cung cấp mọi vũ khí quân tư trang cũng như hệ thống sinh tồn đặc biệt . ( anh của em đã được 20 lần đăng cơ tiễn biệt sống trước khi thi hành các nhiệm vụ đặc biệt ) thậm chí đội đặc công này khi hoạt động tại CAMPUCHIA 1978 họ khi làm nhiệm vụ . ngoài lễ truy điệu sống ( giấy báo tử ghi sẵn . chỉ cần nếu họ kg quay về là giấy báo tử đưa ngay và luôn. ) họ còn được phát mỗi người 1 viên thuốc độc...phòng trường hợp nếu bị bắt thì tự xử
 

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,694
Động cơ
665,114 Mã lực
Trong binh chủng Tăng thiết giáp từ ngày xửa xưa đã lưu truyền câu: “Ăn pháo thủ, ngủ pháo hai, lài nhài xe trưởng, vất vưởng lái xe”- Đó là câu thành ngữ vui vui mô tả về 4 thành viên chính của một kíp xe tăng trong hành quân chiến đấu thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cho đến giờ vẫn không biết ai là tác giả song nó cũng phần nào phản ánh được những nét rất đặc trưng của từng thành viên chứ không phải chỉ là “thuận miệng” cho vần.
Biên chế kíp chiến đấu của xe tăng có từ 3 đến 5 người. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó là sự phân công công việc để thực hiện 4 chức năng chính là: chỉ huy, điều khiển xe, ngắm bắn, nạp đạn cho pháo và súng máy. Đối với loại xe chủ yếu của bộ đội xe tăng Việt Nam thời đó là T54, T59 thì 4 chức năng này phân công cho 4 thành viên: chỉ huy là của trưởng xe, điều khiển xe tất nhiên là do lái xe đảm nhiệm, ngắm bắn là việc của pháo thủ và nạp đạn là chức trách của pháo thủ số hai (pháo hai).
Đối với xe PT76 kíp xe chỉ có 3 người thì trưởng xe phải đảm nhiệm cả 2 công việc là chỉ huy và ngắm bắn. Còn kíp xe T34 có 5 người thì nhiệm vụ điều khiển xe sẽ do 2 người lái chính và lái phụ chia nhau.
Mỗi vị trí có chức trách nhiệm vụ khác nhau, nội dung công việc khác nhau nên dẫn đến thói quen sinh hoạt, tác phong tính cách... cũng có những điểm khác nhau. Và những đặc điểm đó đã được một tác giả khuyết danh nào đó tổng kết trong cái thành ngữ vui trên.
Tại sao lại là “Ăn pháo thủ”?
Thực ra, mới nghe thì câu này hơi vô lý bởi trong quân đội, tiêu chuẩn ăn của các thành viên xe tăng là như nhau. Muốn ăn nhiều hơn cũng chẳng được vì “lính tráng có suất”. Riêng pháo thủ trong tiêu chuẩn đi chiến đấu thường được nhiều hơn các thành viên khác mấy lọ dầu cá để cho tinh mắt hơn mà ngắm bắn thật đấy nhưng như thế cũng chưa phải là nhất về ăn. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ về công việc, sinh hoạt của bộ đội xe tăng trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lại thấy hoàn toàn hợp lý.
Số là, trong hành quân chiến đấu thì nhiệm vụ của pháo thủ thường là nhẹ nhàng nhất. Nếu như trưởng xe phải thức chỉ huy xe, lại phải tham gia họp hành, hội ý sau mỗi chặng hành quân; lái xe thì vất vả nhất rồi, ngoài việc điều khiển xe còn phải chăm lo công tác kỹ thuật; pháo hai ngoài việc trực bắn 12, 7 ly thì xe dừng nghỉ phải lo công tác hậu cần, ăn uống cho kíp xe thì pháo thủ có vẻ như nhàn hạ nhất, ít mệt mỏi nhất- nếu không có sự cố gì cần huy động thì chàng ta chỉ có ngủ mà thôi. Vì vậy, nếu các anh chàng kia có quá mệt mỏi, kém ăn đi một chút thì còn lại bao nhiêu pháo thủ ta sẽ “gánh” tất. Chính vì vậy, theo kinh nghiệm của anh em chiến sĩ xe tăng thì sau mỗi đợt hành quân, trong khi các thành viên khác rạc cả người đi thì pháo thủ thường là lại lên cân. Thế thì chả là “Ăn pháo thủ” thì còn là gì nữa!
Vì sao mà “Ngủ pháo hai”?
Có lẽ câu này xuất phát từ đặc điểm pháo hai có chỗ ngủ rộng rãi nhất, thoải mái nhất trong xe (!).
Như chúng ta đều biết, để thu hẹp diện tích mục tiêu, các xe tăng thường tận dụng đến mức tối đa không gian trong xe. Vì vậy, vị trí nào cũng hẹp vanh vanh, đụng đâu cũng là thép. Trong khi đó, riêng không gian hoạt động của pháo hai thì lại rộng rãi nhất vì đó là vị trí của nạp đạn. Khi chiến đấu, pháo hai phải lấy đạn từ các giá ra rồi đưa lên nạp vào buồng đạn. Với xe T54, T59 thì mỗi quả đạn dài gần 1 mét, có khối lượng 30- 32 kg nên cần phải có một không gian đủ rộng mới thực hiện được các thao tác đó. Chính vì vậy, buồng pháo hai khá rộng và mỗi khi dừng nghỉ thì vị trí đó trở thành một chỗ ngủ lý tưởng, có thể nằm duỗi chân duỗi tay thoải mái, dưới lưng là tấm đệm cao su dày rất êm. Trong thực tế, khi hành quân xe tăng thường có thêm các thành phần khác đi cùng như: thành viên dự bị hoặc y tá, thợ sửa chữa đi cùng. Vị trí pháo hai lúc đó có thể ngủ được 3 người: 2 người nằm dưới sàn và 1 người mắc võng lơ lửng ở trên.
Trong khi đó, lái xe thì còn ngả lưng ghế ra mà nằm chứ trưởng xe với pháo thủ chỉ có ngủ ngồi mà thôi. Có lẽ vì đặc điểm đó mà tác giả đã tổng kết “ngủ pháo hai” chăng?
“Lài nhài xe trưởng” là nghĩa làm sao?
Chức trách chủ yếu của trưởng xe là chỉ huy xe. Vì vậy, theo quy định khi hành quân đêm các thành phần khác- tất nhiên là trừ lái xe- được đi ngủ, còn trưởng xe phải thức cùng lái xe để chỉ huy xe. Đứng trên vị trí cao nhất ở cửa trưởng xe, có điều kiện quan sát tốt cả dưới mặt đất lẫn trên không cũng như các ký tín hiệu chỉ huy... trưởng xe có trách nhiệm chỉ huy lái xe điều khiển xe đi đúng đường và bảo đảm an toàn cao nhất. Vì vậy, anh ta thường xuyên phải nhắc nhở lái xe: sang phải, sang trái, tăng tốc độ, giảm tốc độ... Thực tình, có lái xe bị nhắc nhở nhiều quá đâm chán tai nên đã lén rút “phích” cắm mũ công tác khỏi “công tắc ngực”. Thấy lái xe không theo lệnh của mình các đồng chí trưởng xe càng “lài nhài” nhiều. Thế là được định danh luôn!
Không chỉ thế! Để giữ bí mật ý định cũng như hành động của quân ta thì trong chiến đấu khi liên lạc qua vô tuyến điện không được nói rõ mà phải dùng “mật ngữ chỉ huy” và “chữ đúc nghiệp vụ”. Bảng mật ngữ chỉ huy có khoảng 100 nhóm số mật, còn bảng chữ đúc nghiệp vụ cũng khoảng hơn 40 nhóm. Để đảm bảo tốc độ liên lạc các trưởng xe phải thuộc như cháo chảy 2 cái bảng này. Vì thế, cứ rỗi rãi một chút là các đồng chí trưởng xe lại lẩm nhẩm học thuộc lòng. Nghe đồn rằng có đồng chí lúc ngủ nằm mơ vẫn lài nhài: “01 triển khai, 02 cửa mở, 03 xung phong...”. Vậy thì đích thị “Lài nhài xe trưởng” rồi chứ còn gì nữa!
Thế còn “Vất vưởng lái xe”?
Có lẽ trong các tổng kết trên thì câu này là đúng nhất, chính xác nhất về mọi khía cạnh. Trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lái xe là người vất vả nhất, bận bịu nhất, bẩn thỉu nhất và mệt mỏi nhất đến mức... vất vưởng!
Để đối phó với không quân Mỹ thời đó bộ đội ta thường phải hành quân đêm. Trong khi pháo thủ, pháo hai được ngủ, trưởng xe thì tiếng là phải thức song cũng có quyền gà gật thì lái xe phải căng mắt ra quan sát đường dưới ánh sáng của đèn “hạn chế ánh sáng”, hai tay thì liên tục giật cần lái với lực kéo 35- 40 KG, chân phải thì phải giữ ga, chân trái thì phụ trách bàn đạp ly hợp mỗi khi sang số. Vị trí ngồi thì thấp nhất, lá chắn bùn thường thường sau vài chặng hành quân đường rừng núi đều rách te tua hoặc bay mất nên bao nhiêu bụi đất từ băng xích cứ hắt cả lên mặt như mưa rào. Mỗi khi nghỉ giải lao lại phải tranh thủ kiểm tra kỹ thuật, điều chỉnh đai hãm, bổ sung dầu mỡ nước v.v... cho đúng tiêu chuẩn mới có thể tiếp tục hành quân được.
Cuộc hành xác cứ thế kéo dài có khi hết đêm. Ấy thế mà ban ngày lại phải lo chuẩn bị kỹ thuật cho chặng hành quân trong đêm tiếp theo. Xe mới thì còn đỡ chứ xe đã cũ nát thì hỏng vặt xảy ra như cơm bữa. Thế là hì hà, hì hục suốt mấy tiếng đồng hồ ngoài buồng truyền động. Mặt mũi, quần áo, chân tay... lúc nào cũng đen sì, cáu bẩn dầu mỡ và bụi bậm. Mà cái giống dầu mỡ xe tăng nó bắt bụi kinh khủng lắm. Bộ quần áo công tác cùng phát một đợt như nhau nhưng chỉ qua vài ngày hành quân nhìn của lái xe ai cũng nhận ra ngay bởi nó đã thành một bộ “giáp trụ” dày bịch, nặng trịch và hôi mù. Các thành viên khác trong xe thường cũng rất thương, rất qúy lái xe song họ cũng chỉ giúp được những công việc đơn giản như điều xích, bổ sung dầu mỡ nước... chứ đụng đến kiểm tra kỹ thuật hoặc sửa chữa họ có muốn giúp cũng chịu.
Quá tải như vậy cho nên lúc nào cánh lái xe cũng vật và, vật vờ. Hở ra một cái là bạ đâu cũng lăn ra ngủ được. Và có lẽ không còn từ nào khái quát hơn khi nói về cánh lái xe tăng trong hành quân chiến đấu ngoài hai từ: “Vất vưởng”!
Nhắc lại câu chuyện vui vui ngõ hầu các thế hệ sau này hiểu hơn về một thời gian khổ hy sinh nhưng lãng mạn, trong sáng và hết mình vì lý tưởng. Và cũng hy vọng rằng truyền thống đó sẽ được tiếp nối, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hôm nay.
1772295557950.png
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,029
Động cơ
391,688 Mã lực
Trong binh chủng Tăng thiết giáp từ ngày xửa xưa đã lưu truyền câu: “Ăn pháo thủ, ngủ pháo hai, lài nhài xe trưởng, vất vưởng lái xe”- Đó là câu thành ngữ vui vui mô tả về 4 thành viên chính của một kíp xe tăng trong hành quân chiến đấu thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cho đến giờ vẫn không biết ai là tác giả song nó cũng phần nào phản ánh được những nét rất đặc trưng của từng thành viên chứ không phải chỉ là “thuận miệng” cho vần.
Biên chế kíp chiến đấu của xe tăng có từ 3 đến 5 người. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó là sự phân công công việc để thực hiện 4 chức năng chính là: chỉ huy, điều khiển xe, ngắm bắn, nạp đạn cho pháo và súng máy. Đối với loại xe chủ yếu của bộ đội xe tăng Việt Nam thời đó là T54, T59 thì 4 chức năng này phân công cho 4 thành viên: chỉ huy là của trưởng xe, điều khiển xe tất nhiên là do lái xe đảm nhiệm, ngắm bắn là việc của pháo thủ và nạp đạn là chức trách của pháo thủ số hai (pháo hai).
Đối với xe PT76 kíp xe chỉ có 3 người thì trưởng xe phải đảm nhiệm cả 2 công việc là chỉ huy và ngắm bắn. Còn kíp xe T34 có 5 người thì nhiệm vụ điều khiển xe sẽ do 2 người lái chính và lái phụ chia nhau.
Mỗi vị trí có chức trách nhiệm vụ khác nhau, nội dung công việc khác nhau nên dẫn đến thói quen sinh hoạt, tác phong tính cách... cũng có những điểm khác nhau. Và những đặc điểm đó đã được một tác giả khuyết danh nào đó tổng kết trong cái thành ngữ vui trên.
Tại sao lại là “Ăn pháo thủ”?
Thực ra, mới nghe thì câu này hơi vô lý bởi trong quân đội, tiêu chuẩn ăn của các thành viên xe tăng là như nhau. Muốn ăn nhiều hơn cũng chẳng được vì “lính tráng có suất”. Riêng pháo thủ trong tiêu chuẩn đi chiến đấu thường được nhiều hơn các thành viên khác mấy lọ dầu cá để cho tinh mắt hơn mà ngắm bắn thật đấy nhưng như thế cũng chưa phải là nhất về ăn. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ về công việc, sinh hoạt của bộ đội xe tăng trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lại thấy hoàn toàn hợp lý.
Số là, trong hành quân chiến đấu thì nhiệm vụ của pháo thủ thường là nhẹ nhàng nhất. Nếu như trưởng xe phải thức chỉ huy xe, lại phải tham gia họp hành, hội ý sau mỗi chặng hành quân; lái xe thì vất vả nhất rồi, ngoài việc điều khiển xe còn phải chăm lo công tác kỹ thuật; pháo hai ngoài việc trực bắn 12, 7 ly thì xe dừng nghỉ phải lo công tác hậu cần, ăn uống cho kíp xe thì pháo thủ có vẻ như nhàn hạ nhất, ít mệt mỏi nhất- nếu không có sự cố gì cần huy động thì chàng ta chỉ có ngủ mà thôi. Vì vậy, nếu các anh chàng kia có quá mệt mỏi, kém ăn đi một chút thì còn lại bao nhiêu pháo thủ ta sẽ “gánh” tất. Chính vì vậy, theo kinh nghiệm của anh em chiến sĩ xe tăng thì sau mỗi đợt hành quân, trong khi các thành viên khác rạc cả người đi thì pháo thủ thường là lại lên cân. Thế thì chả là “Ăn pháo thủ” thì còn là gì nữa!
Vì sao mà “Ngủ pháo hai”?
Có lẽ câu này xuất phát từ đặc điểm pháo hai có chỗ ngủ rộng rãi nhất, thoải mái nhất trong xe (!).
Như chúng ta đều biết, để thu hẹp diện tích mục tiêu, các xe tăng thường tận dụng đến mức tối đa không gian trong xe. Vì vậy, vị trí nào cũng hẹp vanh vanh, đụng đâu cũng là thép. Trong khi đó, riêng không gian hoạt động của pháo hai thì lại rộng rãi nhất vì đó là vị trí của nạp đạn. Khi chiến đấu, pháo hai phải lấy đạn từ các giá ra rồi đưa lên nạp vào buồng đạn. Với xe T54, T59 thì mỗi quả đạn dài gần 1 mét, có khối lượng 30- 32 kg nên cần phải có một không gian đủ rộng mới thực hiện được các thao tác đó. Chính vì vậy, buồng pháo hai khá rộng và mỗi khi dừng nghỉ thì vị trí đó trở thành một chỗ ngủ lý tưởng, có thể nằm duỗi chân duỗi tay thoải mái, dưới lưng là tấm đệm cao su dày rất êm. Trong thực tế, khi hành quân xe tăng thường có thêm các thành phần khác đi cùng như: thành viên dự bị hoặc y tá, thợ sửa chữa đi cùng. Vị trí pháo hai lúc đó có thể ngủ được 3 người: 2 người nằm dưới sàn và 1 người mắc võng lơ lửng ở trên.
Trong khi đó, lái xe thì còn ngả lưng ghế ra mà nằm chứ trưởng xe với pháo thủ chỉ có ngủ ngồi mà thôi. Có lẽ vì đặc điểm đó mà tác giả đã tổng kết “ngủ pháo hai” chăng?
“Lài nhài xe trưởng” là nghĩa làm sao?
Chức trách chủ yếu của trưởng xe là chỉ huy xe. Vì vậy, theo quy định khi hành quân đêm các thành phần khác- tất nhiên là trừ lái xe- được đi ngủ, còn trưởng xe phải thức cùng lái xe để chỉ huy xe. Đứng trên vị trí cao nhất ở cửa trưởng xe, có điều kiện quan sát tốt cả dưới mặt đất lẫn trên không cũng như các ký tín hiệu chỉ huy... trưởng xe có trách nhiệm chỉ huy lái xe điều khiển xe đi đúng đường và bảo đảm an toàn cao nhất. Vì vậy, anh ta thường xuyên phải nhắc nhở lái xe: sang phải, sang trái, tăng tốc độ, giảm tốc độ... Thực tình, có lái xe bị nhắc nhở nhiều quá đâm chán tai nên đã lén rút “phích” cắm mũ công tác khỏi “công tắc ngực”. Thấy lái xe không theo lệnh của mình các đồng chí trưởng xe càng “lài nhài” nhiều. Thế là được định danh luôn!
Không chỉ thế! Để giữ bí mật ý định cũng như hành động của quân ta thì trong chiến đấu khi liên lạc qua vô tuyến điện không được nói rõ mà phải dùng “mật ngữ chỉ huy” và “chữ đúc nghiệp vụ”. Bảng mật ngữ chỉ huy có khoảng 100 nhóm số mật, còn bảng chữ đúc nghiệp vụ cũng khoảng hơn 40 nhóm. Để đảm bảo tốc độ liên lạc các trưởng xe phải thuộc như cháo chảy 2 cái bảng này. Vì thế, cứ rỗi rãi một chút là các đồng chí trưởng xe lại lẩm nhẩm học thuộc lòng. Nghe đồn rằng có đồng chí lúc ngủ nằm mơ vẫn lài nhài: “01 triển khai, 02 cửa mở, 03 xung phong...”. Vậy thì đích thị “Lài nhài xe trưởng” rồi chứ còn gì nữa!
Thế còn “Vất vưởng lái xe”?
Có lẽ trong các tổng kết trên thì câu này là đúng nhất, chính xác nhất về mọi khía cạnh. Trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lái xe là người vất vả nhất, bận bịu nhất, bẩn thỉu nhất và mệt mỏi nhất đến mức... vất vưởng!
Để đối phó với không quân Mỹ thời đó bộ đội ta thường phải hành quân đêm. Trong khi pháo thủ, pháo hai được ngủ, trưởng xe thì tiếng là phải thức song cũng có quyền gà gật thì lái xe phải căng mắt ra quan sát đường dưới ánh sáng của đèn “hạn chế ánh sáng”, hai tay thì liên tục giật cần lái với lực kéo 35- 40 KG, chân phải thì phải giữ ga, chân trái thì phụ trách bàn đạp ly hợp mỗi khi sang số. Vị trí ngồi thì thấp nhất, lá chắn bùn thường thường sau vài chặng hành quân đường rừng núi đều rách te tua hoặc bay mất nên bao nhiêu bụi đất từ băng xích cứ hắt cả lên mặt như mưa rào. Mỗi khi nghỉ giải lao lại phải tranh thủ kiểm tra kỹ thuật, điều chỉnh đai hãm, bổ sung dầu mỡ nước v.v... cho đúng tiêu chuẩn mới có thể tiếp tục hành quân được.
Cuộc hành xác cứ thế kéo dài có khi hết đêm. Ấy thế mà ban ngày lại phải lo chuẩn bị kỹ thuật cho chặng hành quân trong đêm tiếp theo. Xe mới thì còn đỡ chứ xe đã cũ nát thì hỏng vặt xảy ra như cơm bữa. Thế là hì hà, hì hục suốt mấy tiếng đồng hồ ngoài buồng truyền động. Mặt mũi, quần áo, chân tay... lúc nào cũng đen sì, cáu bẩn dầu mỡ và bụi bậm. Mà cái giống dầu mỡ xe tăng nó bắt bụi kinh khủng lắm. Bộ quần áo công tác cùng phát một đợt như nhau nhưng chỉ qua vài ngày hành quân nhìn của lái xe ai cũng nhận ra ngay bởi nó đã thành một bộ “giáp trụ” dày bịch, nặng trịch và hôi mù. Các thành viên khác trong xe thường cũng rất thương, rất qúy lái xe song họ cũng chỉ giúp được những công việc đơn giản như điều xích, bổ sung dầu mỡ nước... chứ đụng đến kiểm tra kỹ thuật hoặc sửa chữa họ có muốn giúp cũng chịu.
Quá tải như vậy cho nên lúc nào cánh lái xe cũng vật và, vật vờ. Hở ra một cái là bạ đâu cũng lăn ra ngủ được. Và có lẽ không còn từ nào khái quát hơn khi nói về cánh lái xe tăng trong hành quân chiến đấu ngoài hai từ: “Vất vưởng”!
Nhắc lại câu chuyện vui vui ngõ hầu các thế hệ sau này hiểu hơn về một thời gian khổ hy sinh nhưng lãng mạn, trong sáng và hết mình vì lý tưởng. Và cũng hy vọng rằng truyền thống đó sẽ được tiếp nối, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hôm nay.
View attachment 9505674
Phong cách viết này, tôi thấy 'giông giống' giọng văn của cụ Nguyễn Khắc Nguyệt :D . Cụ Nguyệt là Đại tá - nguyên là lái xe tăng T59 số hiệu 380, đâm vào Dinh Độc lập trưa ngày 30/04/1975 - Sau xe 384 và 390 của cụ Thận và cụ Toàn.
 

Cún em

Xe tăng
Biển số
OF-573979
Ngày cấp bằng
14/6/18
Số km
1,291
Động cơ
-135,640 Mã lực
Tuổi
46
Trong binh chủng Tăng thiết giáp từ ngày xửa xưa đã lưu truyền câu: “Ăn pháo thủ, ngủ pháo hai, lài nhài xe trưởng, vất vưởng lái xe”- Đó là câu thành ngữ vui vui mô tả về 4 thành viên chính của một kíp xe tăng trong hành quân chiến đấu thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cho đến giờ vẫn không biết ai là tác giả song nó cũng phần nào phản ánh được những nét rất đặc trưng của từng thành viên chứ không phải chỉ là “thuận miệng” cho vần.
Biên chế kíp chiến đấu của xe tăng có từ 3 đến 5 người. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó là sự phân công công việc để thực hiện 4 chức năng chính là: chỉ huy, điều khiển xe, ngắm bắn, nạp đạn cho pháo và súng máy. Đối với loại xe chủ yếu của bộ đội xe tăng Việt Nam thời đó là T54, T59 thì 4 chức năng này phân công cho 4 thành viên: chỉ huy là của trưởng xe, điều khiển xe tất nhiên là do lái xe đảm nhiệm, ngắm bắn là việc của pháo thủ và nạp đạn là chức trách của pháo thủ số hai (pháo hai).
Đối với xe PT76 kíp xe chỉ có 3 người thì trưởng xe phải đảm nhiệm cả 2 công việc là chỉ huy và ngắm bắn. Còn kíp xe T34 có 5 người thì nhiệm vụ điều khiển xe sẽ do 2 người lái chính và lái phụ chia nhau.
Mỗi vị trí có chức trách nhiệm vụ khác nhau, nội dung công việc khác nhau nên dẫn đến thói quen sinh hoạt, tác phong tính cách... cũng có những điểm khác nhau. Và những đặc điểm đó đã được một tác giả khuyết danh nào đó tổng kết trong cái thành ngữ vui trên.
Tại sao lại là “Ăn pháo thủ”?
Thực ra, mới nghe thì câu này hơi vô lý bởi trong quân đội, tiêu chuẩn ăn của các thành viên xe tăng là như nhau. Muốn ăn nhiều hơn cũng chẳng được vì “lính tráng có suất”. Riêng pháo thủ trong tiêu chuẩn đi chiến đấu thường được nhiều hơn các thành viên khác mấy lọ dầu cá để cho tinh mắt hơn mà ngắm bắn thật đấy nhưng như thế cũng chưa phải là nhất về ăn. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ về công việc, sinh hoạt của bộ đội xe tăng trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lại thấy hoàn toàn hợp lý.
Số là, trong hành quân chiến đấu thì nhiệm vụ của pháo thủ thường là nhẹ nhàng nhất. Nếu như trưởng xe phải thức chỉ huy xe, lại phải tham gia họp hành, hội ý sau mỗi chặng hành quân; lái xe thì vất vả nhất rồi, ngoài việc điều khiển xe còn phải chăm lo công tác kỹ thuật; pháo hai ngoài việc trực bắn 12, 7 ly thì xe dừng nghỉ phải lo công tác hậu cần, ăn uống cho kíp xe thì pháo thủ có vẻ như nhàn hạ nhất, ít mệt mỏi nhất- nếu không có sự cố gì cần huy động thì chàng ta chỉ có ngủ mà thôi. Vì vậy, nếu các anh chàng kia có quá mệt mỏi, kém ăn đi một chút thì còn lại bao nhiêu pháo thủ ta sẽ “gánh” tất. Chính vì vậy, theo kinh nghiệm của anh em chiến sĩ xe tăng thì sau mỗi đợt hành quân, trong khi các thành viên khác rạc cả người đi thì pháo thủ thường là lại lên cân. Thế thì chả là “Ăn pháo thủ” thì còn là gì nữa!
Vì sao mà “Ngủ pháo hai”?
Có lẽ câu này xuất phát từ đặc điểm pháo hai có chỗ ngủ rộng rãi nhất, thoải mái nhất trong xe (!).
Như chúng ta đều biết, để thu hẹp diện tích mục tiêu, các xe tăng thường tận dụng đến mức tối đa không gian trong xe. Vì vậy, vị trí nào cũng hẹp vanh vanh, đụng đâu cũng là thép. Trong khi đó, riêng không gian hoạt động của pháo hai thì lại rộng rãi nhất vì đó là vị trí của nạp đạn. Khi chiến đấu, pháo hai phải lấy đạn từ các giá ra rồi đưa lên nạp vào buồng đạn. Với xe T54, T59 thì mỗi quả đạn dài gần 1 mét, có khối lượng 30- 32 kg nên cần phải có một không gian đủ rộng mới thực hiện được các thao tác đó. Chính vì vậy, buồng pháo hai khá rộng và mỗi khi dừng nghỉ thì vị trí đó trở thành một chỗ ngủ lý tưởng, có thể nằm duỗi chân duỗi tay thoải mái, dưới lưng là tấm đệm cao su dày rất êm. Trong thực tế, khi hành quân xe tăng thường có thêm các thành phần khác đi cùng như: thành viên dự bị hoặc y tá, thợ sửa chữa đi cùng. Vị trí pháo hai lúc đó có thể ngủ được 3 người: 2 người nằm dưới sàn và 1 người mắc võng lơ lửng ở trên.
Trong khi đó, lái xe thì còn ngả lưng ghế ra mà nằm chứ trưởng xe với pháo thủ chỉ có ngủ ngồi mà thôi. Có lẽ vì đặc điểm đó mà tác giả đã tổng kết “ngủ pháo hai” chăng?
“Lài nhài xe trưởng” là nghĩa làm sao?
Chức trách chủ yếu của trưởng xe là chỉ huy xe. Vì vậy, theo quy định khi hành quân đêm các thành phần khác- tất nhiên là trừ lái xe- được đi ngủ, còn trưởng xe phải thức cùng lái xe để chỉ huy xe. Đứng trên vị trí cao nhất ở cửa trưởng xe, có điều kiện quan sát tốt cả dưới mặt đất lẫn trên không cũng như các ký tín hiệu chỉ huy... trưởng xe có trách nhiệm chỉ huy lái xe điều khiển xe đi đúng đường và bảo đảm an toàn cao nhất. Vì vậy, anh ta thường xuyên phải nhắc nhở lái xe: sang phải, sang trái, tăng tốc độ, giảm tốc độ... Thực tình, có lái xe bị nhắc nhở nhiều quá đâm chán tai nên đã lén rút “phích” cắm mũ công tác khỏi “công tắc ngực”. Thấy lái xe không theo lệnh của mình các đồng chí trưởng xe càng “lài nhài” nhiều. Thế là được định danh luôn!
Không chỉ thế! Để giữ bí mật ý định cũng như hành động của quân ta thì trong chiến đấu khi liên lạc qua vô tuyến điện không được nói rõ mà phải dùng “mật ngữ chỉ huy” và “chữ đúc nghiệp vụ”. Bảng mật ngữ chỉ huy có khoảng 100 nhóm số mật, còn bảng chữ đúc nghiệp vụ cũng khoảng hơn 40 nhóm. Để đảm bảo tốc độ liên lạc các trưởng xe phải thuộc như cháo chảy 2 cái bảng này. Vì thế, cứ rỗi rãi một chút là các đồng chí trưởng xe lại lẩm nhẩm học thuộc lòng. Nghe đồn rằng có đồng chí lúc ngủ nằm mơ vẫn lài nhài: “01 triển khai, 02 cửa mở, 03 xung phong...”. Vậy thì đích thị “Lài nhài xe trưởng” rồi chứ còn gì nữa!
Thế còn “Vất vưởng lái xe”?
Có lẽ trong các tổng kết trên thì câu này là đúng nhất, chính xác nhất về mọi khía cạnh. Trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lái xe là người vất vả nhất, bận bịu nhất, bẩn thỉu nhất và mệt mỏi nhất đến mức... vất vưởng!
Để đối phó với không quân Mỹ thời đó bộ đội ta thường phải hành quân đêm. Trong khi pháo thủ, pháo hai được ngủ, trưởng xe thì tiếng là phải thức song cũng có quyền gà gật thì lái xe phải căng mắt ra quan sát đường dưới ánh sáng của đèn “hạn chế ánh sáng”, hai tay thì liên tục giật cần lái với lực kéo 35- 40 KG, chân phải thì phải giữ ga, chân trái thì phụ trách bàn đạp ly hợp mỗi khi sang số. Vị trí ngồi thì thấp nhất, lá chắn bùn thường thường sau vài chặng hành quân đường rừng núi đều rách te tua hoặc bay mất nên bao nhiêu bụi đất từ băng xích cứ hắt cả lên mặt như mưa rào. Mỗi khi nghỉ giải lao lại phải tranh thủ kiểm tra kỹ thuật, điều chỉnh đai hãm, bổ sung dầu mỡ nước v.v... cho đúng tiêu chuẩn mới có thể tiếp tục hành quân được.
Cuộc hành xác cứ thế kéo dài có khi hết đêm. Ấy thế mà ban ngày lại phải lo chuẩn bị kỹ thuật cho chặng hành quân trong đêm tiếp theo. Xe mới thì còn đỡ chứ xe đã cũ nát thì hỏng vặt xảy ra như cơm bữa. Thế là hì hà, hì hục suốt mấy tiếng đồng hồ ngoài buồng truyền động. Mặt mũi, quần áo, chân tay... lúc nào cũng đen sì, cáu bẩn dầu mỡ và bụi bậm. Mà cái giống dầu mỡ xe tăng nó bắt bụi kinh khủng lắm. Bộ quần áo công tác cùng phát một đợt như nhau nhưng chỉ qua vài ngày hành quân nhìn của lái xe ai cũng nhận ra ngay bởi nó đã thành một bộ “giáp trụ” dày bịch, nặng trịch và hôi mù. Các thành viên khác trong xe thường cũng rất thương, rất qúy lái xe song họ cũng chỉ giúp được những công việc đơn giản như điều xích, bổ sung dầu mỡ nước... chứ đụng đến kiểm tra kỹ thuật hoặc sửa chữa họ có muốn giúp cũng chịu.
Quá tải như vậy cho nên lúc nào cánh lái xe cũng vật và, vật vờ. Hở ra một cái là bạ đâu cũng lăn ra ngủ được. Và có lẽ không còn từ nào khái quát hơn khi nói về cánh lái xe tăng trong hành quân chiến đấu ngoài hai từ: “Vất vưởng”!
Nhắc lại câu chuyện vui vui ngõ hầu các thế hệ sau này hiểu hơn về một thời gian khổ hy sinh nhưng lãng mạn, trong sáng và hết mình vì lý tưởng. Và cũng hy vọng rằng truyền thống đó sẽ được tiếp nối, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hôm nay.
View attachment 9505674
Copy thì nên ghi rõ nguồn cụ chủ ạ.
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,029
Động cơ
391,688 Mã lực
Trong binh chủng Tăng thiết giáp từ ngày xửa xưa đã lưu truyền câu: “Ăn pháo thủ, ngủ pháo hai, lài nhài xe trưởng, vất vưởng lái xe”- Đó là câu thành ngữ vui vui mô tả về 4 thành viên chính của một kíp xe tăng trong hành quân chiến đấu thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cho đến giờ vẫn không biết ai là tác giả song nó cũng phần nào phản ánh được những nét rất đặc trưng của từng thành viên chứ không phải chỉ là “thuận miệng” cho vần.
Biên chế kíp chiến đấu của xe tăng có từ 3 đến 5 người. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó là sự phân công công việc để thực hiện 4 chức năng chính là: chỉ huy, điều khiển xe, ngắm bắn, nạp đạn cho pháo và súng máy. Đối với loại xe chủ yếu của bộ đội xe tăng Việt Nam thời đó là T54, T59 thì 4 chức năng này phân công cho 4 thành viên: chỉ huy là của trưởng xe, điều khiển xe tất nhiên là do lái xe đảm nhiệm, ngắm bắn là việc của pháo thủ và nạp đạn là chức trách của pháo thủ số hai (pháo hai).
.......
View attachment 9505674
Hi hị.
Đây đúng là bài viết của cụ Nguyệt thật :D :D:D
Link đây ạ:
 

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,694
Động cơ
665,114 Mã lực
KHÔNG ĐÁNH TRẬN NÀO VẪN ĐƯỢC TẶNG HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG
Đó là chuyện của bạn tôi- CCB Vũ Công Hoan, quê quán Thuyền Định, Trà Giang, Kiến Xương, Thái Bình- nguyên lái xe tăng Trung đoàn XT 273/QĐ3, nguyên học viên K2 SQTTG, nguyên giáo viên Khoa Vũ Khí, Trường sĩ quan TTG, nguyên giáo viên Trường TC Vũ khí- Đạn.. Chuyện xảy ra vào những ngày này 51 năm về trước (cuối tháng 3/1975).
Tháng 5/1971, Hoan nhập ngũ và được đi học lái xe tăng. Mặc dù là lái mới song anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa một chiếc xe tăng T54 vượt hàng nghìn km dưới mưa bom bão đạn của không quân Mỹ vào Mặt trận B3. Một thời gian sau, khi Trung đoàn xe tăng 273 được thành lập (tháng 2.1973) thì với bản tính cần cù, chịu khó, cẩn thận lại viết chữ đẹp, Hoan được kéo lên tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1 để làm nhân viên Văn thư- Quân lực. Các thủ trưởng thấy Hoan làm được việc nên giao đủ thứ việc, có những công việc không thuộc chức trách một nhân viên quân lực song anh vẫn vui vẻ nhận và hoàn thành. Trong đó, có một nhiệm vụ hết sức đặc biệt mà chưa bao giờ anh tưởng tượng ra.
Đó là dạo cuối tháng 3/1975, Tiểu đoàn 1 của Hoan tạm dừng ở gần thị xã Cheo Reo. Sau hơn chục ngày chiến đấu liên tục từ quan đến lính đều mệt rũ cả ra. Hoan cũng mệt song vẫn phải giở sổ ra ghi chép tình hình thương vong của đơn vị để chuẩn bị báo cáo lên trên. Chiều muộn, đang lúi húi làm việc thì tiểu đoàn trưởng Chu Khánh Tồn cho người gọi anh lên nhận nhiệm vụ. Hoan gấp sổ chạy vội lên chỗ tiểu đoàn trưởng thì thấy anh Tồn đang đứng trước một đám người lố nhố. Nhìn sơ qua trang phục, đầu tóc Hoan thấy hơi lạ: lính chẳng ra lính, dân chẳng ra dân, lại có cả phụ nữ và trẻ con nữa, không biết là thể loại gì? Phía sau Tồn là một chiếc xe GMC và một chiếc xe DODGE che bạt kín mít, lấm đỏ bui đường. Vừa thấy Hoan, tiểu đoàn trưởng đã vẫy lại:
- Hoan đấy phải không?- Anh chỉ vào đám người lộn xộn kia rồi hạ giọng- Đây là các hàng binh đã được trung đoàn huy động để giúp chúng ta khôi phục và huấn luyện sử dụng các loại tăng thiết giáp mà địch bỏ lại. Từ giờ phút này, đồng chí có nhiệm vụ trực tiếp quản lý họ về mọi mặt và tổ chức cho họ thực hiện nhiệm vụ- Hoan chưa kịp định thần thì anh đã dõng dạc- Giới thiệu với các anh các chị, đây là đồng chí Vũ Công Hoan. Từ giờ phút này, đồng chí Hoan sẽ là người chỉ huy trực tiếp của các anh, các chị. Từ nay, nhất cử nhất động các anh các chị phải xin phép, anh Hoan cho phép mới được làm. Các anh, các chị rõ cả chưa? Còn bây giờ, anh Hoan chỉ cho họ chỗ nghỉ, chuẩn bị cơm nước, ngày mai bắt đầu làm nhiệm vụ! Mấy ngày hôm nay họ cũng mệt rồi.
Thật sự lúc đó Hoan hơi bị choáng! Bản thân anh chỉ là một lái xe, vào đây lại làm nhân viên nên chưa bao giờ được làm chỉ huy. Thế mà bây giờ lại phải chỉ huy một đám người xa lạ mới hôm qua còn bắn nhau chí tử với mình ai mà bảo cũng bình thường thôi thì chỉ có nói phét. Nhưng thủ trưởng đã giao nhiệm vụ thì phải làm thôi. Hoan trấn tĩnh lại rồi chỉ khoảng rừng khá bằng phẳng cạnh con suối gần đấy, nhỏ nhẹ:
- Vị trí trú quân của chúng ta ở đây. Bây giờ mọi người đưa đồ xuống, dọn dẹp chỗ nghỉ rồi triển khai nấu cơm chiều. Mọi vấn đề khác tối tôi sẽ phổ biến thêm. Bắt đầu đi!
Sau khẩu lệnh của Hoan mọi người không thực hiện ngay mà vẫn đứng ì ra đấy. Thấy Hoan nhướng mắt ngạc nhiên, một anh có vẻ lớn tuổi nhất ngập ngừng:
- Thưa... ông giải phóng, chúng tôi không có gạo mà cũng không có nồi niêu gì cả!
Thì ra là vậy! Hoan chỉ hai người có vẻ nhanh nhẹn, khoẻ mạnh:
- Hai anh này đi với tôi. Còn lại làm mấy việc như tôi vừa nói!
Lúc này họ mới í ới gọi nhau chuyển đồ từ 2 chiếc xe xuống. Hoan dẫn hai người lính đó tới chỗ đồng chí trợ lý hậu cần. Anh ta cấp cho cả nhóm một bao gạo, một thùng lương khô, mấy chục hộp thịt cùng một mớ xoong nồi. Dọc đường về, thấy đám rau tàu bay Hoan ngắt luôn một ôm. Có nồi, có gạo, mọi người xúm vào nấu cơm, cả ba cô phụ nữ cũng rất hăng hái. Tranh thủ lúc đó, Hoan chạy lên gặp tiểu đoàn trưởng. Vừa nhìn thấy Hoan, anh Tồn đã đon đả:
- Định thắc mắc hả? Thôi, bây giờ ai cũng bận cả nên cậu phải gánh vậy. Cứ coi như đó là Trung đội Kỹ thuật trực thuộc tiểu đoàn đi. Cậu chỉ quản lý thôi, còn sử dụng thế nào sẽ do Đại đội 9. Hàng ngày, cậu đưa họ đến bàn giao cho anh Hưởng (sau là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 4), chiều đến đón về là xong.
Thấy Hoan vẫn ngần ngừ, tiểu đoàn trưởng đưa cho anh một tờ danh sách rồi giải thích thêm một hồi. Cuối cùng Hoan cũng hiểu, đại khái là: Sau gần một tháng chiến đấu liên tục từ Đức Lập- Buôn Mê Thuột đến Nông Trại - Phước An rồi Cheo Reo - Phú Bổn, một số khá lớn xe tăng của chúng tôi bị tổn thất, hư hỏng. Trong khi đó, sau cuộc “rút lui chiến lược”, Quân đoàn 2 Việt Nam cộng hòa (VNCH) đã bỏ lại một khối lượng phương tiện chiến tranh rất lớn, trong đó có hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp các loại.
Trước tình hình đó, Phòng Tăng Thiết giáp B3 báo cáo lên Bộ Tư lệnh Mặt trận xin phép được tận dụng số xe tăng này đưa vào biên chế, nhằm tăng sức mạnh chiến đấu cho đơn vị. Được sự đồng ý của trên, ngày 21/3/1975 Trung đoàn XT 273 lệnh cho Đại đội XT 9 thuộc Tiểu đoàn 3 bàn giao số xe T54 còn lại cho các đơn vị khác để tổ chức thu gom xe chiến lợi phẩm, huấn luyện chuyển loại để đưa số xe này vào chiến đấu. Thời gian trung đoàn đặt ra cho Đại đội 9 là 10 ngày phải tham gia chiến đấu được!
Sau 2 ngày làm việc tích cực, đơn vị đã gom được hơn 40 xe tăng M48 và M41 về một địa điểm phía đông thị xã Cheo Reo. Tuy nhiên, số xe này chưa thể chiến đấu được vì nhiều chi tiết quan trọng như khóa nòng pháo, kính ngắm v.v... đã bị lính thiết kỵ VNCH tháo đi hoặc phá hỏng. Trước tình hình đó, đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng đề nghị lên cấp trên giúp đỡ. Thấu hiểu những khó khăn của cấp dưới, trung đoàn đã cử cán bộ tới địa điểm tập trung tù, hàng binh Việt Nam cộng hòa (VNCH) tại thị xã Cheo Reo tuyển chọn một số người vốn là lính xe tăng để có thể sử dụng chuyên môn của họ giúp cho nhiệm vụ thu gom, khôi phục xe được thuận lợi hơn.
Sau khi trực tiếp phỏng vấn và thẩm tra, đoàn đã tuyển được 12 hàng binh bao gồm đủ các chuyên môn trưởng xe, lái xe, xạ thủ và thợ sửa chữa của 2 loại xe M48, M41. Ngặt một nỗi có 3 hàng binh là xạ thủ nhưng lại đang di tản cùng gia đình nhưng vì không tuyển được ai khác nên ta vẫn phải nhận. Chính số anh em này được đưa về và giao cho Hoan quản lý.
Tiểu đoàn trưởng đã nói vậy rồi, lại nhìn toàn cảnh đơn vị ai cũng bận cả nên các thủ trưởng giao cho mình cũng là hợp lý. Hoan đành hứa với tiểu đoàn trưởng sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành. Bên cạnh đó anh cũng đề nghị tiểu đoàn tăng cường giúp đỡ một số nội dung công việc, đặc biệt là chuyện canh gác ban đêm. Tiểu đoàn phó kỹ thuật Đinh Oanh Nùng nhận sẽ hỗ trợ công việc đó bằng cách các buổi tối anh sẽ đánh chiếc xe thiết giáp V100 đến vị trí trú quân của nhóm và ngủ luôn tại đó.
Trên đường về vị trí trú quân, Hoan nhẩm nhanh một số công việc cần làm. Trước hết là phải có một quy chế hết sức cụ thể, chặt chẽ để quản lý họ. Thứ hai, phải từng bước tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư và chí hướng của từng người để có giải pháp thích hợp. Thứ ba, phải tạo được sự tin cậy cả từ hai phía.
Gần tối, cơm canh đã nấu xong. Thấy Hoan vác bát xuống ăn cùng họ rất ngạc nhiên, tưởng cán bộ có tiêu chuẩn khác. Hoan cười: “Giờ anh chị em đã đi với chúng tôi thì ăn tiêu chuẩn như chúng tôi, không có gì khác cả”. Dường như điều đó đã kéo họ lại gần hơn. Họ đã tự nhiên hơn và bữa cơm trôi qua trong vui vẻ. Có vẻ như họ đã bị đói mấy ngày rồi nay được bữa ăn ngon nên phấn khởi lắm.
Cơm xong, Hoan bảo họ đun một xoong nước rồi bỏ ra một gói trà Blao và một bao thuốc Ruby Quân tiếp vụ. Cả hội ngồi uống trà, hút thuốc, chuyện vãn. Tranh thủ lúc đó anh hỏi thăm tên tuổi, quê quán, hoàn cảnh gia đình... từng người. Thấy hầu hết họ đều hơn tuổi nên anh yêu cầu họ không gọi bằng ông, cứ anh Hoan hoặc anh giải phóng và xưng tôi là được. Tiếp đó, Hoan phổ biến những điều quy định mà mình vừa đặt ra. Đại khái: Tôi là người chỉ huy trực tiếp ở đây, cần đi đâu, làm gì, gặp ai... đều phải báo cáo tôi, được tôi cho phép mới thực hiện; Ngoài giờ làm nhiệm vụ chỉ được đi lại, sinh hoạt trong phạm vi này, tuyệt đối không ra ngoài nhất là ban đêm; nếu đi ra ngoài bị bộ đội bắn chết thì tự chịu trách nhiệm (anh nói với họ là xung quanh có rất nhiều đơn vị bộ đội); Về chỗ ăn ở cũng phải củng cố thêm, phải làm nhà bếp, làm nhà tắm cho phụ nữ, nhà xí dã ngoại,... Hoan cũng phân công chỗ ngủ: ưu tiên phụ nữ, trẻ em được ngủ trên thùng xe, còn lại mắc võng hoặc trải bạt nằm xung quanh xe. Hàng ngày sẽ phân công trực nhật: mỗi ngày hai người, có nhiệm vụ nấu ăn sáng. Bữa cơm chiều thì cả nhóm xúm tay vào, người kiếm rau, người kiếm củi, còn mấy chị phụ nữ sẽ đảm nhiệm nấu nướng... Gần 9 giờ buổi “họp” kết thúc, anh cho tất cả về chuẩn bị chỗ ngủ rồi đi ngủ sớm để ngày mai còn đi làm việc.
Đêm hôm đó là một đêm thật sự căng thẳng với Hoan. Mặc dù có thêm cái xe V100 và tiểu đoàn phó Nùng ở cùng song anh xác định phải cảnh giác cao độ. Dù họ đã tỏ ra tự nguyện đi giúp đỡ bộ đội hòng “lập công chuộc tội” nhưng ai mà biết trong bụng họ thực sự nghĩ gì? Vì vậy, đêm hôm đó nằm trên võng đấy song Hoan hầu như không ngủ, trên bụng là khẩu AK với hai băng đạn tráo đầu đuôi, thêm một khẩu K54 giắt ở cạp quần. Thật may mắn là đêm đó đã không có chuyện gì xảy ra.
Hôm sau, cơm sáng xong, Hoan bảo số hàng binh lên chiếc xe GMC và chỉ đường cho họ chạy đến khu vực tập kết xe chiến lợi phẩm của Đại đội 9 và bàn giao cho anh Hưởng. Bất chấp cái nắng cuối mùa khô cao nguyên hừng hực như muốn thiêu đốt mọi thứ, họ lăn xả vào sửa chữa, hiệu chỉnh... không nề hà việc gì. Chiều về, không biết họ kiếm đâu ra một tấm lưới, hai người xin phép Hoan cho đi kiếm cá. Anh đồng ý song chỉ cho phép đi ở khoảng cách gần. Thế mà họ cũng kiếm được lưng xô cá. Số còn lại ở nhà chia ra người nấu cơm, người dựng nhà tắm nữ, người làm nhà vệ sinh công cộng rất tự giác. Hôm đó, bữa cơm có canh cá ngon, cả nhóm vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ, mấy đứa trẻ đã hồi sức vừa ăn vừa chí chóe trêu nhau, không khí trong nhóm được cải thiện rất nhiều. Tối hôm đó, bên bi- đông trà họ lại ngồi trò chuyện, Hoan kể cho họ nghe về miền Bắc, về Quân Giải phóng, về việc đưa xe tăng vào miền Nam, việc đối phó với không quân, thám báo Mỹ... Nghe xong họ rất phục và kể chuyện về cuộc sống của họ. Câu chuyện trong nhóm càng ngày càng tự nhiên. Có vẻ như họ đã rất tin vào bộ đội ta và thực sự muốn lập công chuộc tội.
Thêm một ngày làm việc cật lực nữa, nhóm đã khôi phục được 10 xe M41 và 6 xe M48 đủ điều kiện tham gia chiến đấu. Thủ trưởng trung đoàn xuống kiểm tra đã biểu dương chung cả nhóm và quyết định chuyển ngay sang “giai đoạn 2”- tức là huấn luyện sử dụng xe M41, M48. Về phía Hoan, sau hai ngày cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với nhau anh đã thật sự tin tưởng họ. Đêm hôm đó anh đã có một giấc ngủ rất ngon.
Từ ngày thứ ba, Đại đội 9 bắt đầu huấn luyện. Các bài học đầu tiên là giới thiệu về cấu tạo xe máy, vũ khí, điện đài. Tiếp đó là thực hành sử dụng, lái và bắn trên M41, M48. Xe tăng Mỹ có khá nhiều khác biệt so với xe tăng Liên Xô. Rất may là các thành viên kíp xe hàng binh có chuyên môn khá vững, lại rất nhiệt tình trong khi cán bộ, chiến sĩ Đại đội XT 9 đang rất hào hứng học tập nên nhiệm vụ huấn luyện rất suôn sẻ. Với phương pháp học tại xe, học lý thuyết xong thực hành ngay nên chỉ sau 3 ngày huấn luyện cán bộ, chiến sĩ Đại đội XT 9 đã sử dụng tương đối thành thạo cả hai loại xe M48 và M41. Nhìn các chiến sĩ xe tăng ta thực hành lái xe qua địa hình phức tạp và bắn đạn thật cả lúc dừng lẫn hành tiến mà các hàng binh cứ tròn mắt thán phục. Họ không thể hình dung được tại sao mới chỉ huấn luyện có 3 ngày mà bộ đội giải phóng lại làm được như vậy! Hoan chỉ có thể giải thích là trước đây bộ đội đã được huấn luyện rất kỹ lưỡng nên giờ tiếp thu cái mới cũng thuận lợi. Với lại, động cơ học tập là để chiến đấu, không nhanh, không giỏi... là chết nên không thể lơ là.
Và kết quả đó đã được kiểm nghiệm trong thực tế. Mấy hôm sau, Tiểu đoàn XT 1 của Hoan cùng Đại đội XT 9 trang bị 8 xe M41 nhận nhiệm vụ tăng cường cho Sư đoàn BB 320 tiến công thị xã Tuy Hòa. Trung đội Kỹ thuật của anh có nhiệm vụ hộ tống Đại đội XT 9 hành quân và chiến đấu.
Ngày 1/4/1975, trận tiến công thị xã Tuy Hòa bắt đầu. Các phân đội xe tăng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, các xe M41 đã phát huy lợi thế trọng lượng nhẹ, tốc độ cao, hỏa lực mạnh, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao, đóng góp rất lớn vào thắng lợi của trận đánh. Anh em trung đội Kỹ thuật bám sát trận đánh, sẵn sàng chi viện kịp thời cho các kíp xe khi gặp sự cố nên đảm bảo 100% xe M41 tham gia chiến đấu từ đầu đến cuối.
Kết thúc trận đánh, chấp hành chủ trương của trên, Trung đoàn 273 tổ chức phóng thích cho số hàng binh này sau khi cấp cho họ một “Giấy chứng nhận đã có công giúp đỡ Quân giải phóng”, một “Giấy đi đường” và một số gạo, thực phẩm. Tuy nhiên, có 4 hàng binh quê ở miền Tây tình nguyện tiếp tục đi cùng Đại đội XT 9 vào phía Nam để giải phóng quê nhà.
Mặc dù chỉ mới cùng ăn ở, cùng làm việc với nhau trong vòng chục ngày song phút chia tay giữa những người anh em vốn ở hai bờ chiến tuyến đối địch nhau vẫn vô cùng bịn rịn. Thay mặt thủ trưởng đơn vị, Hoan cảm ơn họ đã giúp đỡ cách mạng, chúc họ chân cứng đá mềm để trở về quê quán, chấp hành nghiêm các quy định của chính quyền cách mạng, chịu khó làm ăn, xây dựng gia đình hạnh phúc. Họ cũng cảm ơn anh vì đã tin tưởng họ, đã cho họ có cái nhìn đúng đắn về Quân Giải phóng, về cách mạng. Họ hứa sẽ thực hiện đúng lời dặn dò của anh. Ba chị phụ nữ thì rơm rớm nước mắt làm mấy đứa trẻ cứ tròn xoe mắt ngạc nhiên.
Với thành tích này, mặc dù không trực tiếp tham gia chiến đấu trận nào, Vũ Công Hoan đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng 3. Kể ra thì cũng hoàn toàn xứng đáng đấy chứ!
Sau 30.4.1975, Vũ Công Hoan ra học Khoá 2 SQTTG. Với những phẩm chất vốn có của mình, Hoan được phân công làm Lớp trưởng kiêm chức lớp 2DH3, tham gia cấp uỷ của đại đội. Tháng 3.1979, ra trường, Hoan là 1/13 học viên được phong quân hàm Trung uý và được phân công về làm giáo viên Khoa Vũ khí của nhà trường, sau đó được điều về Trường Trung cấp Vũ khí- Đạn. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình, Hoan phải rời quân ngũ khá sớm- khi mới mang quân hàm Thiếu tá. Đó quả thật là một thiệt thòi cho cả cá nhân anh và tổ chức.
Mặc dù vậy, khi về quê nhà, Hoan vẫn phát huy được bản chất “bộ đội Cụ Hồ” và phẩm chất người chiến sĩ xe tăng, giành được sự tin yêu, mến phục của bà con dân xóm. Anh là nhân tố chính tổ chức vận động bà con giáo dân đóng góp tiền của, công sức đồng thời quản lý sử dụng chặt chẽ để xây dựng nên ngôi nhà thờ rất hoành tráng của giáo xứ Thuyền Định quê hương. Thật tình, không mấy ai làm được những việc như thế!
Nguồn cụ Nguyệt: https://www.facebook.com/nguyen.khac.nguyet.132673/posts/pfbid0338pRWt8aSCWhjUBVV9Nxp8YKSidUvU1ETmTSr4pySJRq9z8XJ6LHj3D23BmK9ibVl
 

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,694
Động cơ
665,114 Mã lực
Trong cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc, máy bay Mỹ rơi nhiều nên phi công Mỹ nhảy dù nhiều. Ta bắt được nhốt đầy "khách sạn Hilton", nhưng phía Mỹ cũng kịp giải cứu thành công không ít bằng các nhóm trực thăng cứu hộ. Ta có các máy bay tiêm kích có thể tấn công những chiếc trực thăng bay chậm hơn, nhưng thực tế thì muốn bắn hạ bọn này cũng không dễ vì các trực thăng cứu hộ đều được các phi đội tiêm kích Mỹ yểm trợ. Mig vào thế bắn chúng thì cũng rất dễ bị tiêm kích Mỹ tấn công trước. Nên bắt phi công Mỹ chủ yếu là nhờ lực lượng dưới đất truy tìm. Mình chủ yếu chạy bộ với xe thô sơ, nó đi trực thăng nên nhiều lúc Mỹ kịp giải cứu trước khi ta tìm thấy. Phòng không miền Bắc tuy được tiếng là dày đặc, nhưng cũng chỉ đủ bố trí các trận địa bảo vệ các mục tiêu trọng yếu chứ chẳng phải là bao phủ toàn miền Bắc thành một lưới phòng không trên diện tích hơn 150.000km2, nên trực thăng Mỹ vẫn bay ra bay vào được để giải cứu phi công nhảy dù.
Iran rộng gấp 10 lần miền Bắc Việt Nam nên cơ hội cho phi công bị bắn rơi ẩn núp cũng cao hơn. Ngược lại vì Iran rộng nên đội trực thăng cứu hộ cũng phải có trò tiếp dầu trên không thế này thì mới đủ khả năng vào sâu trong Iran để tìm trẻ lạc. Nếu 2 phi công chiếc F-15 nhảy dù kịp thì mình nghĩ cơ hội Mỹ cứu thoát cũng cao đấy
🤔

Nói thêm là trong Chiến tranh Việt Nam, có chiến dịch giải cứu của Mỹ cũng bi kịch. Có trận Mỹ huy động tổng lực đi giải cứu một phi công lá máy bay tác chiến điện tử EB-66 bị bắn rơi năm 1972. Phi công này nắm nhiều thông tin mật cấp chiến lược nên Mỹ quyết cứu bằng được. Cuối cùng cũng giải cứu xong, mà tại thằng nhảy dù rơi đúng khu vực tác chiến của bộ đội ta, chọc đúng vào tổ ong nên bọn đi giải cứu lại rụng thêm 5 cái máy bay, cả chết cả bị bắt là hơn chục chú nữa
😂

1775407026124.png

Nguồn: https://www.facebook.com/hoangtronghieu/posts/pfbid0jxifePmaHVTYpuN7nREmryqgMaDJAdCxytEfo91XhMuLRgVeQPhCUo5b4NtqQpP8l?__cft__[0]=AZapbu_CEKQVzzowucP3rmciBiZhOZ1vzJ88ZtMFLGJIXBR7uMYd4QiedyocbQeBKV3rMhZ1wGKhyNXFpqCLTUZDehUzIBkTNuY4TV8J8vmB82AXq73Ed6MgnL3hVlN3UVpzKRzeUIcXyKQXqrDQQ8ed7DXttgEDQ8fMl_QkDcYSiNZ5wklD9gu20Dh18F4W7c0&__tn__=,O,P-R
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top