[Funland] Các ngân hàng cam kết giảm lãi suất

Quê bầm

Xe container
Biển số
OF-740060
Ngày cấp bằng
20/8/20
Số km
9,684
Động cơ
128,703 Mã lực
Vâng, nó cứ đi ngang mà ls 9% thì cũng làm chn giấy cụ ạ :D
Thích mà, cầm nó nằng nặng lôi ra đếm ra cất vào thích phết mà, mấy năm trước em qua cầm thử cục 1 kg của chợ vàng Dubai mà mê mẩn mãi, nó bé xíu mà nặng chĩu, rơi vào chân là què ngay, kakaka
 

piston

Xe container
Biển số
OF-12752
Ngày cấp bằng
18/1/08
Số km
8,235
Động cơ
565,135 Mã lực
Tất cả tiền $ chính thống đều phải qua dự trữ ngoại hối của NN mà nguồn đó còn rất ít. Tiền VNĐ thì NN đầy. Mua về bán chênh cũng chỉ thu được VNĐ, chả để làm gì.
Vâng, nếu ko cho nhập xng dầu thì dân họ cũng dt xe sang Cam đổ.
 

datto70

Xe container
Biển số
OF-204900
Ngày cấp bằng
5/8/13
Số km
6,212
Động cơ
388,600 Mã lực
Ở bên Mỹ em nghe nói có chủ tịch Fed tên là Powell, ko nghe lời Trump nên suốt ngày bị cáo buộc đủ thứ, nhưng đến h Trump vẫn chưa hạ dc. Nếu hạ dc ông này mà đưa dc người nghe lời Trump lên là ls hạ ngay :)) :)) :)). Đấy là em bàn chuyện bên Mỹ ạ!

View attachment 9554953
Bộ máy bên Mỹ khác ta, Ped hoạt động không phụ thuộc vào CP mỹ , cụ 100 đôi khí cứ lạm quyền :-o:-o:-o
 

cadan

Xe lăn
Biển số
OF-151495
Ngày cấp bằng
3/8/12
Số km
13,372
Động cơ
501,936 Mã lực
Lãi suất cao là do bank thiếu tiền.

Còn đây là em copy của HoQuocTuan:

Vấn đề lãi suất cao của Việt Nam đang đối mặt không phải vấn đề "thanh khoản" chung chung, mà là "thanh khoản vốn" (funding liquidity). Và nên gỡ rối ra sao?
Mình thấy có một số thảo luận về vấn đề lãi suất và cho rằng nó là về thanh khoản, thứ mà NHTW có thể can thiệp điều chỉnh qua OMO chẳng hạn. Nhưng thật ra, việc một số kỳ hạn dài cũng tăng cho thấy nó là vấn đề thanh khoản vốn.
Vậy thanh khoản vốn là gì và nó khác với thanh khoản khác ra sao?
=======
Vấn đề này không mới nhưng chỉ khoảng 10 năm trở lại đây thì mới thu hút quan tâm nhiều khi mà ông US build hệ thống bank phụ thuộc vào funding liquidity là chính. Cụ Thakor có một bài viết trên JFS 2024 chỉ ra vấn đề như sau.
QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG
Quan điểm truyền thống cho rằng các ngân hàng thực hiện điều này bằng cách "biến đổi" các tài sản kém thanh khoản thành các khoản nợ có tính thanh khoản cao (ví dụ: Bryant 1980; Diamond và Dybvig 1983; Berger và Bouwman 2009; Luck và Schempp 2023) - một quá trình được gọi là "biến đổi tài sản về mặt định tính" (ví dụ: Greenbaum, Thakor và Boot 2019).
Quan điểm này dựa trên tiền đề gán cho tiền gửi ngân hàng một vai trò trung tâm: các ngân hàng được xem là bên thu gom tiền gửi từ những người tiết kiệm, giữ lại một phần làm dự trữ (hệ thống ngân hàng dự trữ phân đoạn) và cho những người muốn tài trợ cho các dự án kém thanh khoản vay phần còn lại.
Mặc dù các dự án này có tính thanh khoản thấp, nhưng tiền gửi ngân hàng lại là những quyền đòi nợ có tính thanh khoản đối với ngân hàng, vì người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu. Do đó, NGUỒN CUNG TIỀN GỬI là yếu tố quyết định chính đến hoạt động cho vay của ngân hàng.
QUAN ĐIỂM NGÂN HÀNG "TẠO RA" TIỀN GỬI (Funding liquidity perspective)
Có một quan điểm khác về việc tạo thanh khoản ngân hàng cho rằng: thay vì bị hạn chế cho vay bởi lượng tiền gửi sẵn có, ngân hàng "tạo" ra tiền gửi thông qua hoạt động cho vay của mình (ví dụ: Wicksell 1906; Schumpeter 1912; Keynes 1930).
Cơ chế của quá trình này như sau: khi một ngân hàng thực hiện một khoản vay trị giá $x$, họ ghi nhận khoản vay đó là một tài sản trị giá $x$ và thực hiện một bút toán đối ứng ghi tăng tiền gửi trị giá $x$ trên bảng cân đối kế toán của mình.
Như vậy, một khoản tiền gửi đã được tạo ra ngay cả khi không có ai nộp $x$ tiền mặt vào ngân hàng. Người đi vay nhận được một chứng từ tiền gửi từ ngân hàng để thanh toán cho các bên khác nhằm đầu tư vào dự án.
Như Schumpeter (1954) đã viết: "Việc nói rằng các ngân hàng... tạo ra tiền gửi trong chính hành động cho vay sẽ thực tế hơn nhiều so với việc nói rằng họ cho vay số tiền gửi đã được ủy thác cho họ."
Trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, tài sản (khoản vay) và nợ phải trả (tiền gửi) sẽ cùng tăng một lượng tương ứng khi ngân hàng cho vay "tiền", và cùng giảm một lượng tương ứng khi ngân hàng nhận được tiền thanh toán nợ.
Như Donaldson và các cộng sự (2018) đã chỉ ra, quan điểm này không chỉ giải thích cách các ngân hàng hiện đại tiến hóa từ các kho chứa hàng hóa cổ xưa, mà còn cung cấp một lý thuyết đương đại về việc ngân hàng tạo ra tiền tư nhân.
Từ đó, họ tạo ra thanh khoản nguồn vốn (FUNDING LIQUIDITY), cho phép nền kinh tế đầu tư vào các dự án thực tế nhiều hơn so với toàn bộ nguồn vốn (tiền định danh) sẵn có tại thời điểm đó.
Như vậy, việc tạo thanh khoản nguồn vốn chính là phần chênh lệch mà CHO VAY NGÂN HÀNG (hoặc tổng tiền gửi) VƯỢT QUÁ số tiền gửi bằng tiền mặt hiện có. Tiền tư nhân của ngân hàng đóng vai trò là vốn lưu động cho người đi vay để trả lương cho công nhân.
Sản lượng đầu ra cuối cùng đủ cao, thông qua các ràng buộc tương thích về động cơ đối với lượng thanh khoản nguồn vốn mà ngân hàng tạo ra, để đảm bảo rằng các quyền đòi tiền gửi của công nhân đối với ngân hàng có thể được đáp ứng.
Trong quan điểm này, ngân hàng không còn chỉ là trung gian dẫn vốn thanh khoản từ người tiết kiệm sang người đi vay. Thay vào đó, ngân hàng tự tạo ra thanh khoản nguồn vốn này, và sự hạn chế đối với việc cho vay đến từ NHU CẦU VAY VỐN NỘI TẠI cùng các yếu tố nội tại của ngân hàng như VỐN TỰ CÓ, chứ không chỉ riêng tiền gửi.
Cho nên cái chart các bạn share về cho vay vượt quá huy động chính là funding liquidity. Cho nên cái mà chúng ta đang nhìn thấy không chỉ đơn giản là thiếu thanh khoản theo nghĩa cũ, mà thanh khoản funding liquidity theo nghĩa mới cũng thiếu hụt luôn, nghĩa là khoản vay KHÔNG THỂ TẠO RA THÊM vượt quá mặt bằng huy động hiện nay nhiều nữa MÀ KHÔNG TẠO RA LÃI SUẤT CAO HƠN để huy động thêm tiền gửi cash deposit.
Như bài viết cụ Thakor chỉ ra, nó là vấn đề nội tại của bank luôn, cụ thể là vốn tự có, chất lượng tài sản và risk premium charge lên, cũng như cơ chế tính rủi ro và an toàn hệ thống, chứ không chỉ là vấn đề tiền gửi tiết kiệm thấp hơn cho vay.
VẬY GỠ LÀM SAO?
Trước tiên ta nhìn ông Mỹ giai đoạn 2001-2020, funding liquidity có khả năng gánh hệ thống, nghĩa là cho vay lớn hơn nhiều so với base huy động.
Ở Mỹ giai đoạn 2001-2020 đây là nền tảng chính của việc funding liquidity gánh chính phần tạo thanh khoản tiền vốn cho hệ thống, không phụ thuộc vào cash deposit.
"During the 2001–2020 period, 92 percent of bank deposits were due to funding liquidity creation, and during 2011–2020 funding liquidity creation averaged $10.7 trillion per year, or 57 percent of GDP."
"Private money creation by banks enables lending to not be constrained by the supply of cash deposits."
Vấn đề là phải làm tốt 2 khâu: Chất lượng bank capital và chất lượng dự án cho vay
1. Vốn tự có (Bank Capital)
Trong tình huống huy động tiền gửi thấp, các nghiên cứu về Funding Liquidity chỉ ra rằng khả năng tạo thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào vốn tự có chứ không phải tiền gửi sẵn có.
-> Giải pháp: Để giải quyết tình trạng cho vay vượt huy động mà vẫn đảm bảo ổn định, cần tập trung nâng cao năng lực an toàn vốn (hệ số CAR) của các ngân hàng.
Các ngân hàng có mức vốn hóa tốt có khả năng tạo ra nhiều "thanh khoản nguồn vốn" hơn và cho vay nhiều hơn ngay cả khi dòng tiền gửi mặt đang sụt giảm hoặc đứng yên.
Nhưng đây phải là vốn hóa tốt thật sự chứ không phải bùa mà ra. Nếu chất lượng vốn tự có đủ, và thật, thì central bank có thể nới lỏng các chỉ tiêu về huy động/cho vay để gỡ yếu tố kỹ thuật của funding liquidity.
Đối với Việt Nam làm tốt việc này sẽ giúp củng cố bộ đệm vốn, giúp các ngân hàng giảm bớt sự phụ thuộc vào các cuộc đua lãi suất huy động vốn để tài trợ cho các khoản vay mới.
2. Phải tập trung cho vay các dự án có hiệu quả kinh tế thực (Real-Economy Projects)
Nghiên cứu của cụ Thakor nhấn mạnh rằng thanh khoản do ngân hàng tự tạo ra (private money) đóng vai trò là vốn lưu động giúp nền kinh tế đầu tư nhiều hơn mức tiền mặt hiện có.
Cơ chế cho điều này là nếu các khoản cho vay được đổ vào các DỰ ÁN THỰC CHẤT, tạo ra đầu ra, tạo ra dòng tiền thật thì nó work.
Còn nếu dự án không thật, thì tiền cho vay nó sẽ mất chức năng tạo lại tiền deposit mới trong ngân hàng mà nó rơi mất vào hố sâu nào đó.
Nói cách khác, thay vì quá lo lắng về con số huy động-cho vay và kiểm soát bằng các công cụ hành chính và lý thuyết cũ về thanh khoản, các cơ quan quản lý và cả ngành ngân hàng phải tập trung kiểm soát chất lượng khoản vay. Khi dòng vốn tạo ra giá trị thực và dòng tiền thực, nó sẽ tự "nuôi" hệ thống tiền gửi và tạo thanh khoản vốn trong tương lai.
Vấn đề là số 1 và số 2 phụ thuộc:
1. Số báo cáo an toàn vốn của bank mạnh khỏe và thật
2. Dự án cho vay tạo ra dòng tiền thật
Nếu 1 trong 2 gãy, thì cái chart thể hiện việc huy động thấp hơn cho vay hiện nay không phải nguyên nhân mà là hệ quả của 1 trong 2 yếu tố trên gãy. Trong bối cảnh đó, ép các chỉ tiêu kỹ thuật là cần thiết cho an toàn vốn, ví dụ trần LDR, nhưng đồng thời cũng đồng nghĩa là đua lãi suất là khó tránh, và cách xử lý là phải ngồi chờ một đợt viện binh đổ tiền thật vào top up bank capital hoặc tiền thật đổ vào top up cái bình chứa cash deposit.
Nhưng cách tiếp cận mới hơn về mặt khuôn khổ điều hành này với quan điểm về funding liquidity cho phép một pha di chuyển không bóng về chính sách: nếu xác định được một số bank đủ khỏe và mạnh, cho vay thật thì có thể nới lỏng một số qui định cho phép họ vượt qua một số chỉ số về huy động và cho vay.
Vấn đề quan trọng cho giải pháp đề xuất ở trên là giả định SBV biết ông nào ngon thật và làm thật.
Một chuyện bên lề là nếu SBV rảnh rỗi thì có thể quay lại hỏi "mấy ông bank đã làm gì trong mấy năm qua mà để khả năng tạo tiền qua funding liquidity nó rớt xuống?" Theo mình bây giờ lật lại chuyện cũ cũng không ích gì. Xử lý cái trước mắt đã và mấy cái nào đã biết vấn đề rồi thì "thôi, không làm vậy nữa".
 

cadan

Xe lăn
Biển số
OF-151495
Ngày cấp bằng
3/8/12
Số km
13,372
Động cơ
501,936 Mã lực
Lãi suất cao là do bank thiếu tiền.

Còn đây là em copy của HoQuocTuan:

Vấn đề lãi suất cao của Việt Nam đang đối mặt không phải vấn đề "thanh khoản" chung chung, mà là "thanh khoản vốn" (funding liquidity). Và nên gỡ rối ra sao?
Mình thấy có một số thảo luận về vấn đề lãi suất và cho rằng nó là về thanh khoản, thứ mà NHTW có thể can thiệp điều chỉnh qua OMO chẳng hạn. Nhưng thật ra, việc một số kỳ hạn dài cũng tăng cho thấy nó là vấn đề thanh khoản vốn.
Vậy thanh khoản vốn là gì và nó khác với thanh khoản khác ra sao?
=======
Vấn đề này không mới nhưng chỉ khoảng 10 năm trở lại đây thì mới thu hút quan tâm nhiều khi mà ông US build hệ thống bank phụ thuộc vào funding liquidity là chính. Cụ Thakor có một bài viết trên JFS 2024 chỉ ra vấn đề như sau.
QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG
Quan điểm truyền thống cho rằng các ngân hàng thực hiện điều này bằng cách "biến đổi" các tài sản kém thanh khoản thành các khoản nợ có tính thanh khoản cao (ví dụ: Bryant 1980; Diamond và Dybvig 1983; Berger và Bouwman 2009; Luck và Schempp 2023) - một quá trình được gọi là "biến đổi tài sản về mặt định tính" (ví dụ: Greenbaum, Thakor và Boot 2019).
Quan điểm này dựa trên tiền đề gán cho tiền gửi ngân hàng một vai trò trung tâm: các ngân hàng được xem là bên thu gom tiền gửi từ những người tiết kiệm, giữ lại một phần làm dự trữ (hệ thống ngân hàng dự trữ phân đoạn) và cho những người muốn tài trợ cho các dự án kém thanh khoản vay phần còn lại.
Mặc dù các dự án này có tính thanh khoản thấp, nhưng tiền gửi ngân hàng lại là những quyền đòi nợ có tính thanh khoản đối với ngân hàng, vì người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu. Do đó, NGUỒN CUNG TIỀN GỬI là yếu tố quyết định chính đến hoạt động cho vay của ngân hàng.
QUAN ĐIỂM NGÂN HÀNG "TẠO RA" TIỀN GỬI (Funding liquidity perspective)
Có một quan điểm khác về việc tạo thanh khoản ngân hàng cho rằng: thay vì bị hạn chế cho vay bởi lượng tiền gửi sẵn có, ngân hàng "tạo" ra tiền gửi thông qua hoạt động cho vay của mình (ví dụ: Wicksell 1906; Schumpeter 1912; Keynes 1930).
Cơ chế của quá trình này như sau: khi một ngân hàng thực hiện một khoản vay trị giá $x$, họ ghi nhận khoản vay đó là một tài sản trị giá $x$ và thực hiện một bút toán đối ứng ghi tăng tiền gửi trị giá $x$ trên bảng cân đối kế toán của mình.
Như vậy, một khoản tiền gửi đã được tạo ra ngay cả khi không có ai nộp $x$ tiền mặt vào ngân hàng. Người đi vay nhận được một chứng từ tiền gửi từ ngân hàng để thanh toán cho các bên khác nhằm đầu tư vào dự án.
Như Schumpeter (1954) đã viết: "Việc nói rằng các ngân hàng... tạo ra tiền gửi trong chính hành động cho vay sẽ thực tế hơn nhiều so với việc nói rằng họ cho vay số tiền gửi đã được ủy thác cho họ."
Trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, tài sản (khoản vay) và nợ phải trả (tiền gửi) sẽ cùng tăng một lượng tương ứng khi ngân hàng cho vay "tiền", và cùng giảm một lượng tương ứng khi ngân hàng nhận được tiền thanh toán nợ.
Như Donaldson và các cộng sự (2018) đã chỉ ra, quan điểm này không chỉ giải thích cách các ngân hàng hiện đại tiến hóa từ các kho chứa hàng hóa cổ xưa, mà còn cung cấp một lý thuyết đương đại về việc ngân hàng tạo ra tiền tư nhân.
Từ đó, họ tạo ra thanh khoản nguồn vốn (FUNDING LIQUIDITY), cho phép nền kinh tế đầu tư vào các dự án thực tế nhiều hơn so với toàn bộ nguồn vốn (tiền định danh) sẵn có tại thời điểm đó.
Như vậy, việc tạo thanh khoản nguồn vốn chính là phần chênh lệch mà CHO VAY NGÂN HÀNG (hoặc tổng tiền gửi) VƯỢT QUÁ số tiền gửi bằng tiền mặt hiện có. Tiền tư nhân của ngân hàng đóng vai trò là vốn lưu động cho người đi vay để trả lương cho công nhân.
Sản lượng đầu ra cuối cùng đủ cao, thông qua các ràng buộc tương thích về động cơ đối với lượng thanh khoản nguồn vốn mà ngân hàng tạo ra, để đảm bảo rằng các quyền đòi tiền gửi của công nhân đối với ngân hàng có thể được đáp ứng.
Trong quan điểm này, ngân hàng không còn chỉ là trung gian dẫn vốn thanh khoản từ người tiết kiệm sang người đi vay. Thay vào đó, ngân hàng tự tạo ra thanh khoản nguồn vốn này, và sự hạn chế đối với việc cho vay đến từ NHU CẦU VAY VỐN NỘI TẠI cùng các yếu tố nội tại của ngân hàng như VỐN TỰ CÓ, chứ không chỉ riêng tiền gửi.
Cho nên cái chart các bạn share về cho vay vượt quá huy động chính là funding liquidity. Cho nên cái mà chúng ta đang nhìn thấy không chỉ đơn giản là thiếu thanh khoản theo nghĩa cũ, mà thanh khoản funding liquidity theo nghĩa mới cũng thiếu hụt luôn, nghĩa là khoản vay KHÔNG THỂ TẠO RA THÊM vượt quá mặt bằng huy động hiện nay nhiều nữa MÀ KHÔNG TẠO RA LÃI SUẤT CAO HƠN để huy động thêm tiền gửi cash deposit.
Như bài viết cụ Thakor chỉ ra, nó là vấn đề nội tại của bank luôn, cụ thể là vốn tự có, chất lượng tài sản và risk premium charge lên, cũng như cơ chế tính rủi ro và an toàn hệ thống, chứ không chỉ là vấn đề tiền gửi tiết kiệm thấp hơn cho vay.
VẬY GỠ LÀM SAO?
Trước tiên ta nhìn ông Mỹ giai đoạn 2001-2020, funding liquidity có khả năng gánh hệ thống, nghĩa là cho vay lớn hơn nhiều so với base huy động.
Ở Mỹ giai đoạn 2001-2020 đây là nền tảng chính của việc funding liquidity gánh chính phần tạo thanh khoản tiền vốn cho hệ thống, không phụ thuộc vào cash deposit.
"During the 2001–2020 period, 92 percent of bank deposits were due to funding liquidity creation, and during 2011–2020 funding liquidity creation averaged $10.7 trillion per year, or 57 percent of GDP."
"Private money creation by banks enables lending to not be constrained by the supply of cash deposits."
Vấn đề là phải làm tốt 2 khâu: Chất lượng bank capital và chất lượng dự án cho vay
1. Vốn tự có (Bank Capital)
Trong tình huống huy động tiền gửi thấp, các nghiên cứu về Funding Liquidity chỉ ra rằng khả năng tạo thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào vốn tự có chứ không phải tiền gửi sẵn có.
-> Giải pháp: Để giải quyết tình trạng cho vay vượt huy động mà vẫn đảm bảo ổn định, cần tập trung nâng cao năng lực an toàn vốn (hệ số CAR) của các ngân hàng.
Các ngân hàng có mức vốn hóa tốt có khả năng tạo ra nhiều "thanh khoản nguồn vốn" hơn và cho vay nhiều hơn ngay cả khi dòng tiền gửi mặt đang sụt giảm hoặc đứng yên.
Nhưng đây phải là vốn hóa tốt thật sự chứ không phải bùa mà ra. Nếu chất lượng vốn tự có đủ, và thật, thì central bank có thể nới lỏng các chỉ tiêu về huy động/cho vay để gỡ yếu tố kỹ thuật của funding liquidity.
Đối với Việt Nam làm tốt việc này sẽ giúp củng cố bộ đệm vốn, giúp các ngân hàng giảm bớt sự phụ thuộc vào các cuộc đua lãi suất huy động vốn để tài trợ cho các khoản vay mới.
2. Phải tập trung cho vay các dự án có hiệu quả kinh tế thực (Real-Economy Projects)
Nghiên cứu của cụ Thakor nhấn mạnh rằng thanh khoản do ngân hàng tự tạo ra (private money) đóng vai trò là vốn lưu động giúp nền kinh tế đầu tư nhiều hơn mức tiền mặt hiện có.
Cơ chế cho điều này là nếu các khoản cho vay được đổ vào các DỰ ÁN THỰC CHẤT, tạo ra đầu ra, tạo ra dòng tiền thật thì nó work.
Còn nếu dự án không thật, thì tiền cho vay nó sẽ mất chức năng tạo lại tiền deposit mới trong ngân hàng mà nó rơi mất vào hố sâu nào đó.
Nói cách khác, thay vì quá lo lắng về con số huy động-cho vay và kiểm soát bằng các công cụ hành chính và lý thuyết cũ về thanh khoản, các cơ quan quản lý và cả ngành ngân hàng phải tập trung kiểm soát chất lượng khoản vay. Khi dòng vốn tạo ra giá trị thực và dòng tiền thực, nó sẽ tự "nuôi" hệ thống tiền gửi và tạo thanh khoản vốn trong tương lai.
Vấn đề là số 1 và số 2 phụ thuộc:
1. Số báo cáo an toàn vốn của bank mạnh khỏe và thật
2. Dự án cho vay tạo ra dòng tiền thật
Nếu 1 trong 2 gãy, thì cái chart thể hiện việc huy động thấp hơn cho vay hiện nay không phải nguyên nhân mà là hệ quả của 1 trong 2 yếu tố trên gãy. Trong bối cảnh đó, ép các chỉ tiêu kỹ thuật là cần thiết cho an toàn vốn, ví dụ trần LDR, nhưng đồng thời cũng đồng nghĩa là đua lãi suất là khó tránh, và cách xử lý là phải ngồi chờ một đợt viện binh đổ tiền thật vào top up bank capital hoặc tiền thật đổ vào top up cái bình chứa cash deposit.
Nhưng cách tiếp cận mới hơn về mặt khuôn khổ điều hành này với quan điểm về funding liquidity cho phép một pha di chuyển không bóng về chính sách: nếu xác định được một số bank đủ khỏe và mạnh, cho vay thật thì có thể nới lỏng một số qui định cho phép họ vượt qua một số chỉ số về huy động và cho vay.
Vấn đề quan trọng cho giải pháp đề xuất ở trên là giả định SBV biết ông nào ngon thật và làm thật.
Một chuyện bên lề là nếu SBV rảnh rỗi thì có thể quay lại hỏi "mấy ông bank đã làm gì trong mấy năm qua mà để khả năng tạo tiền qua funding liquidity nó rớt xuống?" Theo mình bây giờ lật lại chuyện cũ cũng không ích gì. Xử lý cái trước mắt đã và mấy cái nào đã biết vấn đề rồi thì "thôi, không làm vậy nữa".
AI -Tóm tắt ngắn gọn lập luận chính
Vấn đề lãi suất cao ở Việt Nam không đơn thuần là thiếu thanh khoản theo nghĩa truyền thống (tiền dự trữ ngắn hạn mà NHNN có thể bơm qua OMO), mà là thiếu thanh khoản vốn – funding liquidity.
1. Khác biệt cốt lõi
  • Thanh khoản truyền thống: ngân hàng bị giới hạn cho vay bởi lượng tiền gửi có sẵn; NHNN can thiệp bằng OMO sẽ giải quyết được.
  • Funding liquidity: ngân hàng tạo ra tiền gửi thông qua cho vay (private money creation). Khi cho vay, tài sản (khoản vay) và nợ (tiền gửi) cùng tăng.
    → Hạn chế cho vay không nằm ở tiền gửi, mà ở vốn tự có, chất lượng tài sản, rủi ro và cầu vay nội tại.
Việc kỳ hạn dài cũng tăng lãi suất cho thấy không chỉ thiếu tiền ngắn hạn, mà khả năng tạo thêm tín dụng vượt huy động đã chạm trần.
2. Điều đang xảy ra ở Việt Nam
  • Cho vay khó tăng vượt huy độngnếu không:
    • tăng lãi suất huy động để hút tiền mặt thật, hoặc
    • cải thiện nội lực ngân hàng (capital, asset quality).
  • Do đó, chart “cho vay > huy động” không phải nguyên nhân mà là hệ quảcủa:
    • vốn tự có yếu / vốn không thật, hoặc
    • chất lượng dự án vay kém, không tạo dòng tiền quay lại hệ thống.
3. Bài học từ Mỹ (2001–2020)
  • Phần lớn tiền gửi đến từ funding liquidity do ngân hàng tạo ra, không phải cash deposit.
  • Điều kiện tiên quyết:
    (i) vốn ngân hàng khỏe và thật,
    (ii) tín dụng chảy vào dự án kinh tế thực, có dòng tiền thật.
4. Gỡ rối như thế nào?
Hai trụ cột bắt buộc song hành:
  1. Vốn tự có ngân hàng (Bank capital)
    • Ngân hàng vốn hóa tốt tạo được nhiều funding liquidity hơn.
    • Nếu vốn thật và đủ, NHNN có thể nới một số ràng buộc kỹ thuật (LDR, tăng trưởng tín dụng) cho các ngân hàng khỏe, giảm áp lực đua lãi suất.
    • Nếu vốn yếu → buộc giữ trần → lãi suất cao là khó tránh.
  2. Chất lượng tín dụng – dự án kinh tế thực
    • Tín dụng phải tạo sản lượng và dòng tiền thật, để tiền gửi mới được “nuôi lại”.
    • Tín dụng kém chất lượng làm đứt chu trình tạo tiền, phá funding liquidity.
5. Hàm ý chính sách
  • Đừng chỉ nhìn thanh khoản theo khung cũ và xử lý bằng mệnh lệnh hành chính.
  • Cần chuyển sang khung điều hành dựa trên funding liquidity:
    • phân loại ngân hàng khỏe/thật để cho phép linh hoạt có chọn lọc,
    • song song giữ kỷ luật chặt với ngân hàng yếu.
  • Rủi ro lớn nhất: SBV có nhận diện đúng “ông nào ngon thật” hay không.
👉 Kết luận: Lãi suất cao hiện nay phản ánh nội lực hệ thống ngân hàng suy giảm, không chỉ là thiếu tiền ngắn hạn. Muốn hạ bền vững, phải vá vốn ngân hàng và nâng chất lượng tín dụng, chứ không thể chỉ trông vào bơm thanh khoản.
 

cadan

Xe lăn
Biển số
OF-151495
Ngày cấp bằng
3/8/12
Số km
13,372
Động cơ
501,936 Mã lực
1 ông TS khác thì có quan điểm như này ạ:

46 ngân hàng đồng thuận cam kết cùng nhau (coordination) giảm lãi suất sau cuộc họp với NHNN.
Coordination này được dẫn dắt bởi sự can thiệp chính sách (hành chính).
Trong kinh tế học, việc này cũng gần giống như Cartel khi các doanh nghiệp thông đồng với nhau ấn định giá, chia nhau thị phần và lợi nhuận.
Theo tôi hiểu đây là thỏa thuận tự nguyện, không có tính ràng buộc về pháp lý. Do vậy, sau khi ra về, nhiều khả năng 46 ngân hàng sẽ dòm nhau xem ông nào hạ trước và hạ bao nhiêu để có hành động phù hợp.
Nếu một ông khôn lỏi giữ nguyên hoặc tranh thủ tăng nhẹ trong vài ngày sẽ huy động được lượng tiền gửi lớn từ các ông láu táu hạ trước.
Đây là động cơ phá vỡ thỏa thuận (incentive to cheat), thỏa thuận có thể bị phá vỡ, và cuộc đua lãi suất trở lại.
Tuy không có tính ràng buộc nhưng nhiều khả năng ông nào "chơi xấu" có thể sẽ bị săm soi và gây áp lực từ cơ quan quản lý (như bị thanh tra, giám sát).
Người gửi tiền (tiết kiệm) sẽ chịu thiệt, nhất là trong bối cảnh lạm phát cao. Ngược lại, người đi vay và ngân hàng là các bên được lợi.
Các ngân hàng sẽ khó huy động được tiền gửi kì hạn dài.
Lãi suất hạ sẽ khiến dòng tiền tiết kiệm tìm đến các tài sản khác như ngoại tệ và vàng (những thứ mà người dân có thể mua và nắm giữ với số lượng nhỏ mỗi lần), thanh khoản hệ thống tiếp tục khan hiếm.
Trái phiếu (có lãi suất không bị ràng buộc) cũng là một lựa chọn.
Tín dụng cao, lạm phát cao, lãi suất thế giới cao, nếu vẫn hạ được lãi suất trong nước thì cũng đáng nửa giải Nobel còn lại.

 

Mandalord

Xe điện
Biển số
OF-193695
Ngày cấp bằng
12/5/13
Số km
4,927
Động cơ
270,644 Mã lực
Muốn giảm thì đơn giản, NHNN bơm tiền ra là được.

Còn không tăng cung tiền thì rất khó. Lực lượng thị trường là khó cản.
 

X_axe

Xe container
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
7,472
Động cơ
68,220 Mã lực
Ở bên Mỹ em nghe nói có chủ tịch Fed tên là Powell, ko nghe lời Trump nên suốt ngày bị cáo buộc đủ thứ, nhưng đến h Trump vẫn chưa hạ dc. Nếu hạ dc ông này mà đưa dc người nghe lời Trump lên là ls hạ ngay :)) :)) :)). Đấy là em bàn chuyện bên Mỹ ạ!

View attachment 9554953
Đây là VN không phải Mỹ :)
 

ĐàoNgọc214

Xe hơi
Biển số
OF-575240
Ngày cấp bằng
21/6/18
Số km
169
Động cơ
246,552 Mã lực
Nơi ở
Ha Noi
Em không rõ chứ các khoản vay cũ của em từ trước năm 2026 đều được giữ nguyên lãi suất, không bị tăng nhưng cũng ko đc giảm. Hơi ngược so với trên báo.
 

X_axe

Xe container
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
7,472
Động cơ
68,220 Mã lực
Lãi suất cao là do bank thiếu tiền.

Còn đây là em copy của HoQuocTuan:

Vấn đề lãi suất cao của Việt Nam đang đối mặt không phải vấn đề "thanh khoản" chung chung, mà là "thanh khoản vốn" (funding liquidity). Và nên gỡ rối ra sao?
Mình thấy có một số thảo luận về vấn đề lãi suất và cho rằng nó là về thanh khoản, thứ mà NHTW có thể can thiệp điều chỉnh qua OMO chẳng hạn. Nhưng thật ra, việc một số kỳ hạn dài cũng tăng cho thấy nó là vấn đề thanh khoản vốn.
Vậy thanh khoản vốn là gì và nó khác với thanh khoản khác ra sao?
=======
Vấn đề này không mới nhưng chỉ khoảng 10 năm trở lại đây thì mới thu hút quan tâm nhiều khi mà ông US build hệ thống bank phụ thuộc vào funding liquidity là chính. Cụ Thakor có một bài viết trên JFS 2024 chỉ ra vấn đề như sau.
QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG
Quan điểm truyền thống cho rằng các ngân hàng thực hiện điều này bằng cách "biến đổi" các tài sản kém thanh khoản thành các khoản nợ có tính thanh khoản cao (ví dụ: Bryant 1980; Diamond và Dybvig 1983; Berger và Bouwman 2009; Luck và Schempp 2023) - một quá trình được gọi là "biến đổi tài sản về mặt định tính" (ví dụ: Greenbaum, Thakor và Boot 2019).
Quan điểm này dựa trên tiền đề gán cho tiền gửi ngân hàng một vai trò trung tâm: các ngân hàng được xem là bên thu gom tiền gửi từ những người tiết kiệm, giữ lại một phần làm dự trữ (hệ thống ngân hàng dự trữ phân đoạn) và cho những người muốn tài trợ cho các dự án kém thanh khoản vay phần còn lại.
Mặc dù các dự án này có tính thanh khoản thấp, nhưng tiền gửi ngân hàng lại là những quyền đòi nợ có tính thanh khoản đối với ngân hàng, vì người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu. Do đó, NGUỒN CUNG TIỀN GỬI là yếu tố quyết định chính đến hoạt động cho vay của ngân hàng.
QUAN ĐIỂM NGÂN HÀNG "TẠO RA" TIỀN GỬI (Funding liquidity perspective)
Có một quan điểm khác về việc tạo thanh khoản ngân hàng cho rằng: thay vì bị hạn chế cho vay bởi lượng tiền gửi sẵn có, ngân hàng "tạo" ra tiền gửi thông qua hoạt động cho vay của mình (ví dụ: Wicksell 1906; Schumpeter 1912; Keynes 1930).
Cơ chế của quá trình này như sau: khi một ngân hàng thực hiện một khoản vay trị giá $x$, họ ghi nhận khoản vay đó là một tài sản trị giá $x$ và thực hiện một bút toán đối ứng ghi tăng tiền gửi trị giá $x$ trên bảng cân đối kế toán của mình.
Như vậy, một khoản tiền gửi đã được tạo ra ngay cả khi không có ai nộp $x$ tiền mặt vào ngân hàng. Người đi vay nhận được một chứng từ tiền gửi từ ngân hàng để thanh toán cho các bên khác nhằm đầu tư vào dự án.
Như Schumpeter (1954) đã viết: "Việc nói rằng các ngân hàng... tạo ra tiền gửi trong chính hành động cho vay sẽ thực tế hơn nhiều so với việc nói rằng họ cho vay số tiền gửi đã được ủy thác cho họ."
Trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, tài sản (khoản vay) và nợ phải trả (tiền gửi) sẽ cùng tăng một lượng tương ứng khi ngân hàng cho vay "tiền", và cùng giảm một lượng tương ứng khi ngân hàng nhận được tiền thanh toán nợ.
Như Donaldson và các cộng sự (2018) đã chỉ ra, quan điểm này không chỉ giải thích cách các ngân hàng hiện đại tiến hóa từ các kho chứa hàng hóa cổ xưa, mà còn cung cấp một lý thuyết đương đại về việc ngân hàng tạo ra tiền tư nhân.
Từ đó, họ tạo ra thanh khoản nguồn vốn (FUNDING LIQUIDITY), cho phép nền kinh tế đầu tư vào các dự án thực tế nhiều hơn so với toàn bộ nguồn vốn (tiền định danh) sẵn có tại thời điểm đó.
Như vậy, việc tạo thanh khoản nguồn vốn chính là phần chênh lệch mà CHO VAY NGÂN HÀNG (hoặc tổng tiền gửi) VƯỢT QUÁ số tiền gửi bằng tiền mặt hiện có. Tiền tư nhân của ngân hàng đóng vai trò là vốn lưu động cho người đi vay để trả lương cho công nhân.
Sản lượng đầu ra cuối cùng đủ cao, thông qua các ràng buộc tương thích về động cơ đối với lượng thanh khoản nguồn vốn mà ngân hàng tạo ra, để đảm bảo rằng các quyền đòi tiền gửi của công nhân đối với ngân hàng có thể được đáp ứng.
Trong quan điểm này, ngân hàng không còn chỉ là trung gian dẫn vốn thanh khoản từ người tiết kiệm sang người đi vay. Thay vào đó, ngân hàng tự tạo ra thanh khoản nguồn vốn này, và sự hạn chế đối với việc cho vay đến từ NHU CẦU VAY VỐN NỘI TẠI cùng các yếu tố nội tại của ngân hàng như VỐN TỰ CÓ, chứ không chỉ riêng tiền gửi.
Cho nên cái chart các bạn share về cho vay vượt quá huy động chính là funding liquidity. Cho nên cái mà chúng ta đang nhìn thấy không chỉ đơn giản là thiếu thanh khoản theo nghĩa cũ, mà thanh khoản funding liquidity theo nghĩa mới cũng thiếu hụt luôn, nghĩa là khoản vay KHÔNG THỂ TẠO RA THÊM vượt quá mặt bằng huy động hiện nay nhiều nữa MÀ KHÔNG TẠO RA LÃI SUẤT CAO HƠN để huy động thêm tiền gửi cash deposit.
Như bài viết cụ Thakor chỉ ra, nó là vấn đề nội tại của bank luôn, cụ thể là vốn tự có, chất lượng tài sản và risk premium charge lên, cũng như cơ chế tính rủi ro và an toàn hệ thống, chứ không chỉ là vấn đề tiền gửi tiết kiệm thấp hơn cho vay.
VẬY GỠ LÀM SAO?
Trước tiên ta nhìn ông Mỹ giai đoạn 2001-2020, funding liquidity có khả năng gánh hệ thống, nghĩa là cho vay lớn hơn nhiều so với base huy động.
Ở Mỹ giai đoạn 2001-2020 đây là nền tảng chính của việc funding liquidity gánh chính phần tạo thanh khoản tiền vốn cho hệ thống, không phụ thuộc vào cash deposit.
"During the 2001–2020 period, 92 percent of bank deposits were due to funding liquidity creation, and during 2011–2020 funding liquidity creation averaged $10.7 trillion per year, or 57 percent of GDP."
"Private money creation by banks enables lending to not be constrained by the supply of cash deposits."
Vấn đề là phải làm tốt 2 khâu: Chất lượng bank capital và chất lượng dự án cho vay
1. Vốn tự có (Bank Capital)
Trong tình huống huy động tiền gửi thấp, các nghiên cứu về Funding Liquidity chỉ ra rằng khả năng tạo thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào vốn tự có chứ không phải tiền gửi sẵn có.
-> Giải pháp: Để giải quyết tình trạng cho vay vượt huy động mà vẫn đảm bảo ổn định, cần tập trung nâng cao năng lực an toàn vốn (hệ số CAR) của các ngân hàng.
Các ngân hàng có mức vốn hóa tốt có khả năng tạo ra nhiều "thanh khoản nguồn vốn" hơn và cho vay nhiều hơn ngay cả khi dòng tiền gửi mặt đang sụt giảm hoặc đứng yên.
Nhưng đây phải là vốn hóa tốt thật sự chứ không phải bùa mà ra. Nếu chất lượng vốn tự có đủ, và thật, thì central bank có thể nới lỏng các chỉ tiêu về huy động/cho vay để gỡ yếu tố kỹ thuật của funding liquidity.
Đối với Việt Nam làm tốt việc này sẽ giúp củng cố bộ đệm vốn, giúp các ngân hàng giảm bớt sự phụ thuộc vào các cuộc đua lãi suất huy động vốn để tài trợ cho các khoản vay mới.
2. Phải tập trung cho vay các dự án có hiệu quả kinh tế thực (Real-Economy Projects)
Nghiên cứu của cụ Thakor nhấn mạnh rằng thanh khoản do ngân hàng tự tạo ra (private money) đóng vai trò là vốn lưu động giúp nền kinh tế đầu tư nhiều hơn mức tiền mặt hiện có.
Cơ chế cho điều này là nếu các khoản cho vay được đổ vào các DỰ ÁN THỰC CHẤT, tạo ra đầu ra, tạo ra dòng tiền thật thì nó work.
Còn nếu dự án không thật, thì tiền cho vay nó sẽ mất chức năng tạo lại tiền deposit mới trong ngân hàng mà nó rơi mất vào hố sâu nào đó.
Nói cách khác, thay vì quá lo lắng về con số huy động-cho vay và kiểm soát bằng các công cụ hành chính và lý thuyết cũ về thanh khoản, các cơ quan quản lý và cả ngành ngân hàng phải tập trung kiểm soát chất lượng khoản vay. Khi dòng vốn tạo ra giá trị thực và dòng tiền thực, nó sẽ tự "nuôi" hệ thống tiền gửi và tạo thanh khoản vốn trong tương lai.
Vấn đề là số 1 và số 2 phụ thuộc:
1. Số báo cáo an toàn vốn của bank mạnh khỏe và thật
2. Dự án cho vay tạo ra dòng tiền thật
Nếu 1 trong 2 gãy, thì cái chart thể hiện việc huy động thấp hơn cho vay hiện nay không phải nguyên nhân mà là hệ quả của 1 trong 2 yếu tố trên gãy. Trong bối cảnh đó, ép các chỉ tiêu kỹ thuật là cần thiết cho an toàn vốn, ví dụ trần LDR, nhưng đồng thời cũng đồng nghĩa là đua lãi suất là khó tránh, và cách xử lý là phải ngồi chờ một đợt viện binh đổ tiền thật vào top up bank capital hoặc tiền thật đổ vào top up cái bình chứa cash deposit.
Nhưng cách tiếp cận mới hơn về mặt khuôn khổ điều hành này với quan điểm về funding liquidity cho phép một pha di chuyển không bóng về chính sách: nếu xác định được một số bank đủ khỏe và mạnh, cho vay thật thì có thể nới lỏng một số qui định cho phép họ vượt qua một số chỉ số về huy động và cho vay.
Vấn đề quan trọng cho giải pháp đề xuất ở trên là giả định SBV biết ông nào ngon thật và làm thật.
Một chuyện bên lề là nếu SBV rảnh rỗi thì có thể quay lại hỏi "mấy ông bank đã làm gì trong mấy năm qua mà để khả năng tạo tiền qua funding liquidity nó rớt xuống?" Theo mình bây giờ lật lại chuyện cũ cũng không ích gì. Xử lý cái trước mắt đã và mấy cái nào đã biết vấn đề rồi thì "thôi, không làm vậy nữa".
Thực tế LDR (tổng tín dụng / tổng tiền gửi) ở mình đã hơn 100% rồi. Cho nên nới nữa cũng rủi ro, chỉ có các nh tm nhà nước thì may ra.
 

X_axe

Xe container
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
7,472
Động cơ
68,220 Mã lực
1 ông TS khác thì có quan điểm như này ạ:

46 ngân hàng đồng thuận cam kết cùng nhau (coordination) giảm lãi suất sau cuộc họp với NHNN.
Coordination này được dẫn dắt bởi sự can thiệp chính sách (hành chính).
Trong kinh tế học, việc này cũng gần giống như Cartel khi các doanh nghiệp thông đồng với nhau ấn định giá, chia nhau thị phần và lợi nhuận.
Theo tôi hiểu đây là thỏa thuận tự nguyện, không có tính ràng buộc về pháp lý. Do vậy, sau khi ra về, nhiều khả năng 46 ngân hàng sẽ dòm nhau xem ông nào hạ trước và hạ bao nhiêu để có hành động phù hợp.
Nếu một ông khôn lỏi giữ nguyên hoặc tranh thủ tăng nhẹ trong vài ngày sẽ huy động được lượng tiền gửi lớn từ các ông láu táu hạ trước.
Đây là động cơ phá vỡ thỏa thuận (incentive to cheat), thỏa thuận có thể bị phá vỡ, và cuộc đua lãi suất trở lại.
Tuy không có tính ràng buộc nhưng nhiều khả năng ông nào "chơi xấu" có thể sẽ bị săm soi và gây áp lực từ cơ quan quản lý (như bị thanh tra, giám sát).
Người gửi tiền (tiết kiệm) sẽ chịu thiệt, nhất là trong bối cảnh lạm phát cao. Ngược lại, người đi vay và ngân hàng là các bên được lợi.
Các ngân hàng sẽ khó huy động được tiền gửi kì hạn dài.
Lãi suất hạ sẽ khiến dòng tiền tiết kiệm tìm đến các tài sản khác như ngoại tệ và vàng (những thứ mà người dân có thể mua và nắm giữ với số lượng nhỏ mỗi lần), thanh khoản hệ thống tiếp tục khan hiếm.
Trái phiếu (có lãi suất không bị ràng buộc) cũng là một lựa chọn.
Tín dụng cao, lạm phát cao, lãi suất thế giới cao, nếu vẫn hạ được lãi suất trong nước thì cũng đáng nửa giải Nobel còn lại.

Kìm lượng tín dụng lại thì tự nhiên hệ thống bớt khát tiền thôi có gì mà Nobel. Nhất là tín dụng Bđs

Thủ phạm là năm 2025 tín dụng Bđs tăng quá cao ---> hệ thống thiếu tiền. Nên cứ dí thủ phạm là ra thôi. Không khó về phân tích, ní nuận, mà khó về thực thi

IMG_8670.jpeg
 

Saigonphobmw

Xe tăng
Biển số
OF-898019
Ngày cấp bằng
20/11/25
Số km
1,309
Động cơ
1,224,226 Mã lực
Tuổi
46
1 ông TS khác thì có quan điểm như này ạ:

46 ngân hàng đồng thuận cam kết cùng nhau (coordination) giảm lãi suất sau cuộc họp với NHNN.
Coordination này được dẫn dắt bởi sự can thiệp chính sách (hành chính).
Trong kinh tế học, việc này cũng gần giống như Cartel khi các doanh nghiệp thông đồng với nhau ấn định giá, chia nhau thị phần và lợi nhuận.
Theo tôi hiểu đây là thỏa thuận tự nguyện, không có tính ràng buộc về pháp lý. Do vậy, sau khi ra về, nhiều khả năng 46 ngân hàng sẽ dòm nhau xem ông nào hạ trước và hạ bao nhiêu để có hành động phù hợp.
Nếu một ông khôn lỏi giữ nguyên hoặc tranh thủ tăng nhẹ trong vài ngày sẽ huy động được lượng tiền gửi lớn từ các ông láu táu hạ trước.
Đây là động cơ phá vỡ thỏa thuận (incentive to cheat), thỏa thuận có thể bị phá vỡ, và cuộc đua lãi suất trở lại.
Tuy không có tính ràng buộc nhưng nhiều khả năng ông nào "chơi xấu" có thể sẽ bị săm soi và gây áp lực từ cơ quan quản lý (như bị thanh tra, giám sát).
Người gửi tiền (tiết kiệm) sẽ chịu thiệt, nhất là trong bối cảnh lạm phát cao. Ngược lại, người đi vay và ngân hàng là các bên được lợi.
Các ngân hàng sẽ khó huy động được tiền gửi kì hạn dài.
Lãi suất hạ sẽ khiến dòng tiền tiết kiệm tìm đến các tài sản khác như ngoại tệ và vàng (những thứ mà người dân có thể mua và nắm giữ với số lượng nhỏ mỗi lần), thanh khoản hệ thống tiếp tục khan hiếm.
Trái phiếu (có lãi suất không bị ràng buộc) cũng là một lựa chọn.
Tín dụng cao, lạm phát cao, lãi suất thế giới cao, nếu vẫn hạ được lãi suất trong nước thì cũng đáng nửa giải Nobel còn lại.

Vấn đề giờ vay 100đ thì 80đ đổ vào bds
 

VuNgoanMuc

Xe điện
Biển số
OF-709574
Ngày cấp bằng
5/12/19
Số km
4,951
Động cơ
288,952 Mã lực
Tuổi
50
Thực tế LDR (tổng tín dụng / tổng tiền gửi) ở mình đã hơn 100% rồi. Cho nên nới nữa cũng rủi ro, chỉ có các nh tm nhà nước thì may ra.
Nếu Việt Nam tiếp tục dựa vào tăng trường tín dụng với mặt bằng lãi suất thấp hơn mức thực tế của thị trường để đạt được mục tiêu tăng trưởng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ bị đặt vào một trạng thái điều hành đối mặt với “Bộ ba bất khả thi” (The impossible trinity) trong kinh tế học vĩ mô.

Một mặt, hệ thống ngân hàng thương mại được kỳ vọng phải duy trì một nguồn vốn tín dụng dồi dào, đi kèm với mặt bằng lãi suất cho vay ở mức thấp để tài trợ cho các dự án đầu tư công, kích cầu tiêu dùng nội địa, và hỗ trợ sản xuất kinh doanh nhằm kích thích tổng cầu. Mặt khác, áp lực lạm phát sẽ càng trở nên nặng nề, thể hiện qua Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3-2026 tăng vọt lên mức 4,65% so với cùng kỳ năm 2025 - mức lạm phát cao nhất được ghi nhận trong vòng năm năm qua.

Chính sự mâu thuẫn nội tại giữa việc nới lỏng tiền tệ để đạt mục tiêu tăng trưởng và việc phải thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát, bảo vệ tỷ giá đang cấu trúc lại hoàn toàn đường cong lợi suất (yield curve) của hệ thống tài chính Việt Nam. Vì vậy, mặt bằng lãi suất tiền gửi (lãi suất huy động) tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bắt buộc phải bước vào một chu kỳ tăng mạnh.

Sự dịch chuyển đi lên của đường cong lãi suất trong giai đoạn tới không phải là một hiện tượng điều chỉnh ngẫu nhiên hay mang tính chu kỳ ngắn hạn, mà là hệ quả tất yếu mang tính cấu trúc. Hiện tượng này được định hình và củng cố bởi 4 trụ cột phân tích, tác động đồng thời và cộng hưởng lẫn nhau.
 

xe đạp mini62

Xe tăng
Biển số
OF-551680
Ngày cấp bằng
22/1/18
Số km
1,039
Động cơ
673,534 Mã lực
Nơi ở
Ao Ta
Yêu cầu giảm ls là ý chí của NHNN, tiếp nối vb yêu cầu ổn định mặt bằng ls trước đó. Thống điệp là tuýt còi và phanh các NH đua lãi suất huy động, giảm được bao nhiêu thì tuỳ sức mỗi NH nhưng chắc chắn là ko được tăng nữa. Cam kết với LĐ mới, bộ máy mới cũng là cách để biểu hiện thái độ của các NH, thường thì ko ai dại gì lệch nhịp LĐ mới dù bản thân mình đang yếu thì cũng phải cố mà Theo. Việc lệch pha cũng có thể dẫn tới các rủi ro như giới hạn tỉ lệ tăng trưởng tín dụng,... kéo sau đó khi NHNN tăng cường giám sát và các ông NHTM có thể cạnh tranh nhau, tố nhau sự vượt rào.
Tổng tiền trong dân vẫn ko đổi, làm sao giữ đc mặt bằng ls huy động ổn định để đảm bảo ls cho vay ra vừa phải và các NH đều huy động đc mới quan trọng. Việc để vài ông bí tk chạy đua làm liều sẽ dẫn đến cuộc đua tất cả xuống hố.
Mặt bằng ls huy động kéo về đc 7~8% và giảm dần 6~7% về cuối năm, ls cho vay ra 9~10% và 8~9% cuối năm là đẹp để phát triển và ổn định. Mức ls huy động 7~8% là đủ hấp dẫn người gửi tiền nếu lp đạt mục tiêu <= 4.5%
Có thể tạm khẳng định đỉnh của ls năm nay đã qua (đỉnh tù vì ls giảm nhẹ và ổn định cũng là giỏi lắm rồi). Phía trước còn biến số về lạm phát hơi khó kiểm soát do ảnh hưởng giá xăng dầu QT và bất ổn TG. Ít nhất nguồn cung xăng dầu trong nước vẫn ổn cho vài tháng tới, kỳ vọng chiến tranh sẽ kết thúc trong thời gian đó và giá dầu WTI thế giới quanh 90$.
Tỉ giá sẽ dễ thở hơn càng về cuối năm khi FDI và FII giải ngân, FED vẫn sẽ hạ ls bất chấp khả năng này bị đe doạ do quan ngại lp do cuộc chiến Trung Đông.
 

haivanphe

Xe lăn
Biển số
OF-46470
Ngày cấp bằng
14/9/09
Số km
12,026
Động cơ
119,965 Mã lực
Nơi ở
Ha Noi
Lãi suất thâp thì dân lại càng đi mua vàng, mua ngoại tệ :D
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top