thớt hay vậy..hôm nay em mới lần mò ra..thank cụ thớt nhiều
Cầu HR thì thực tế với luyện tập khác nhau. Lúc tập không bố trí được lưới phòng không dày đặc như thực tế. Khi ném bom thực tế, các chú phi công chả vãi tòe ra quần với lưới phòng không của mình bắn lên, vì vậy chỉ quăng bom cho nhanh rồi té thôi.Nên mới có câu "Ông bà gánh còng lưng" là thế đó cụ. Mỹ xây dựng mô hình chính xác 1:1, diễn tập thực địa cả chục lần nhưng mà vẫn tèo vụ Sơn Tây (nguồn chính thống).
Sẵn đây làm em nhớ tới cầu Hàm Rồng, Mỹ cũng xây dựng mô hình và huấn luyện các kiểu con đà điểu, mà phi công ném bom vẫn cứ trật, mãi sau này mới có bom laser dẫn đường mới ăn thua, đúng là nể các bộ óc nghiên cứu khoa học của Mỹ, nhưng Mỹ ăn mừng đúng một hôm thì phát hiện quân ta làm mấy chục cái cầu bắc qua sông ẩn dưới nước hồi nào không hay, nên dù cầu Hàm Rồng có huỷ thì chả làm sao, các cụ nhà ta tính hết rồi.
cụ nói chuẩn . sau 2 năm còm của cụ em mới xem đượcỞ chiến trường K, không có khái niệm tù binh chiến tranh. Bên ta thì có nhưng ít, còn bên địch thì không. Trong mỗi trận đánh khi bị dồn vào thế thập tử nhất sinh thì lính ta thường sẽ sẵn sàng đổi mạng đến phút cuối cùng để đừng rơi vào tay Polpot.
Phong cách viết này, tôi thấy 'giông giống' giọng văn của cụ Nguyễn Khắc NguyệtTrong binh chủng Tăng thiết giáp từ ngày xửa xưa đã lưu truyền câu: “Ăn pháo thủ, ngủ pháo hai, lài nhài xe trưởng, vất vưởng lái xe”- Đó là câu thành ngữ vui vui mô tả về 4 thành viên chính của một kíp xe tăng trong hành quân chiến đấu thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cho đến giờ vẫn không biết ai là tác giả song nó cũng phần nào phản ánh được những nét rất đặc trưng của từng thành viên chứ không phải chỉ là “thuận miệng” cho vần.
Biên chế kíp chiến đấu của xe tăng có từ 3 đến 5 người. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó là sự phân công công việc để thực hiện 4 chức năng chính là: chỉ huy, điều khiển xe, ngắm bắn, nạp đạn cho pháo và súng máy. Đối với loại xe chủ yếu của bộ đội xe tăng Việt Nam thời đó là T54, T59 thì 4 chức năng này phân công cho 4 thành viên: chỉ huy là của trưởng xe, điều khiển xe tất nhiên là do lái xe đảm nhiệm, ngắm bắn là việc của pháo thủ và nạp đạn là chức trách của pháo thủ số hai (pháo hai).
Đối với xe PT76 kíp xe chỉ có 3 người thì trưởng xe phải đảm nhiệm cả 2 công việc là chỉ huy và ngắm bắn. Còn kíp xe T34 có 5 người thì nhiệm vụ điều khiển xe sẽ do 2 người lái chính và lái phụ chia nhau.
Mỗi vị trí có chức trách nhiệm vụ khác nhau, nội dung công việc khác nhau nên dẫn đến thói quen sinh hoạt, tác phong tính cách... cũng có những điểm khác nhau. Và những đặc điểm đó đã được một tác giả khuyết danh nào đó tổng kết trong cái thành ngữ vui trên.
Tại sao lại là “Ăn pháo thủ”?
Thực ra, mới nghe thì câu này hơi vô lý bởi trong quân đội, tiêu chuẩn ăn của các thành viên xe tăng là như nhau. Muốn ăn nhiều hơn cũng chẳng được vì “lính tráng có suất”. Riêng pháo thủ trong tiêu chuẩn đi chiến đấu thường được nhiều hơn các thành viên khác mấy lọ dầu cá để cho tinh mắt hơn mà ngắm bắn thật đấy nhưng như thế cũng chưa phải là nhất về ăn. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ về công việc, sinh hoạt của bộ đội xe tăng trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lại thấy hoàn toàn hợp lý.
Số là, trong hành quân chiến đấu thì nhiệm vụ của pháo thủ thường là nhẹ nhàng nhất. Nếu như trưởng xe phải thức chỉ huy xe, lại phải tham gia họp hành, hội ý sau mỗi chặng hành quân; lái xe thì vất vả nhất rồi, ngoài việc điều khiển xe còn phải chăm lo công tác kỹ thuật; pháo hai ngoài việc trực bắn 12, 7 ly thì xe dừng nghỉ phải lo công tác hậu cần, ăn uống cho kíp xe thì pháo thủ có vẻ như nhàn hạ nhất, ít mệt mỏi nhất- nếu không có sự cố gì cần huy động thì chàng ta chỉ có ngủ mà thôi. Vì vậy, nếu các anh chàng kia có quá mệt mỏi, kém ăn đi một chút thì còn lại bao nhiêu pháo thủ ta sẽ “gánh” tất. Chính vì vậy, theo kinh nghiệm của anh em chiến sĩ xe tăng thì sau mỗi đợt hành quân, trong khi các thành viên khác rạc cả người đi thì pháo thủ thường là lại lên cân. Thế thì chả là “Ăn pháo thủ” thì còn là gì nữa!
Vì sao mà “Ngủ pháo hai”?
Có lẽ câu này xuất phát từ đặc điểm pháo hai có chỗ ngủ rộng rãi nhất, thoải mái nhất trong xe (!).
Như chúng ta đều biết, để thu hẹp diện tích mục tiêu, các xe tăng thường tận dụng đến mức tối đa không gian trong xe. Vì vậy, vị trí nào cũng hẹp vanh vanh, đụng đâu cũng là thép. Trong khi đó, riêng không gian hoạt động của pháo hai thì lại rộng rãi nhất vì đó là vị trí của nạp đạn. Khi chiến đấu, pháo hai phải lấy đạn từ các giá ra rồi đưa lên nạp vào buồng đạn. Với xe T54, T59 thì mỗi quả đạn dài gần 1 mét, có khối lượng 30- 32 kg nên cần phải có một không gian đủ rộng mới thực hiện được các thao tác đó. Chính vì vậy, buồng pháo hai khá rộng và mỗi khi dừng nghỉ thì vị trí đó trở thành một chỗ ngủ lý tưởng, có thể nằm duỗi chân duỗi tay thoải mái, dưới lưng là tấm đệm cao su dày rất êm. Trong thực tế, khi hành quân xe tăng thường có thêm các thành phần khác đi cùng như: thành viên dự bị hoặc y tá, thợ sửa chữa đi cùng. Vị trí pháo hai lúc đó có thể ngủ được 3 người: 2 người nằm dưới sàn và 1 người mắc võng lơ lửng ở trên.
Trong khi đó, lái xe thì còn ngả lưng ghế ra mà nằm chứ trưởng xe với pháo thủ chỉ có ngủ ngồi mà thôi. Có lẽ vì đặc điểm đó mà tác giả đã tổng kết “ngủ pháo hai” chăng?
“Lài nhài xe trưởng” là nghĩa làm sao?
Chức trách chủ yếu của trưởng xe là chỉ huy xe. Vì vậy, theo quy định khi hành quân đêm các thành phần khác- tất nhiên là trừ lái xe- được đi ngủ, còn trưởng xe phải thức cùng lái xe để chỉ huy xe. Đứng trên vị trí cao nhất ở cửa trưởng xe, có điều kiện quan sát tốt cả dưới mặt đất lẫn trên không cũng như các ký tín hiệu chỉ huy... trưởng xe có trách nhiệm chỉ huy lái xe điều khiển xe đi đúng đường và bảo đảm an toàn cao nhất. Vì vậy, anh ta thường xuyên phải nhắc nhở lái xe: sang phải, sang trái, tăng tốc độ, giảm tốc độ... Thực tình, có lái xe bị nhắc nhở nhiều quá đâm chán tai nên đã lén rút “phích” cắm mũ công tác khỏi “công tắc ngực”. Thấy lái xe không theo lệnh của mình các đồng chí trưởng xe càng “lài nhài” nhiều. Thế là được định danh luôn!
Không chỉ thế! Để giữ bí mật ý định cũng như hành động của quân ta thì trong chiến đấu khi liên lạc qua vô tuyến điện không được nói rõ mà phải dùng “mật ngữ chỉ huy” và “chữ đúc nghiệp vụ”. Bảng mật ngữ chỉ huy có khoảng 100 nhóm số mật, còn bảng chữ đúc nghiệp vụ cũng khoảng hơn 40 nhóm. Để đảm bảo tốc độ liên lạc các trưởng xe phải thuộc như cháo chảy 2 cái bảng này. Vì thế, cứ rỗi rãi một chút là các đồng chí trưởng xe lại lẩm nhẩm học thuộc lòng. Nghe đồn rằng có đồng chí lúc ngủ nằm mơ vẫn lài nhài: “01 triển khai, 02 cửa mở, 03 xung phong...”. Vậy thì đích thị “Lài nhài xe trưởng” rồi chứ còn gì nữa!
Thế còn “Vất vưởng lái xe”?
Có lẽ trong các tổng kết trên thì câu này là đúng nhất, chính xác nhất về mọi khía cạnh. Trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lái xe là người vất vả nhất, bận bịu nhất, bẩn thỉu nhất và mệt mỏi nhất đến mức... vất vưởng!
Để đối phó với không quân Mỹ thời đó bộ đội ta thường phải hành quân đêm. Trong khi pháo thủ, pháo hai được ngủ, trưởng xe thì tiếng là phải thức song cũng có quyền gà gật thì lái xe phải căng mắt ra quan sát đường dưới ánh sáng của đèn “hạn chế ánh sáng”, hai tay thì liên tục giật cần lái với lực kéo 35- 40 KG, chân phải thì phải giữ ga, chân trái thì phụ trách bàn đạp ly hợp mỗi khi sang số. Vị trí ngồi thì thấp nhất, lá chắn bùn thường thường sau vài chặng hành quân đường rừng núi đều rách te tua hoặc bay mất nên bao nhiêu bụi đất từ băng xích cứ hắt cả lên mặt như mưa rào. Mỗi khi nghỉ giải lao lại phải tranh thủ kiểm tra kỹ thuật, điều chỉnh đai hãm, bổ sung dầu mỡ nước v.v... cho đúng tiêu chuẩn mới có thể tiếp tục hành quân được.
Cuộc hành xác cứ thế kéo dài có khi hết đêm. Ấy thế mà ban ngày lại phải lo chuẩn bị kỹ thuật cho chặng hành quân trong đêm tiếp theo. Xe mới thì còn đỡ chứ xe đã cũ nát thì hỏng vặt xảy ra như cơm bữa. Thế là hì hà, hì hục suốt mấy tiếng đồng hồ ngoài buồng truyền động. Mặt mũi, quần áo, chân tay... lúc nào cũng đen sì, cáu bẩn dầu mỡ và bụi bậm. Mà cái giống dầu mỡ xe tăng nó bắt bụi kinh khủng lắm. Bộ quần áo công tác cùng phát một đợt như nhau nhưng chỉ qua vài ngày hành quân nhìn của lái xe ai cũng nhận ra ngay bởi nó đã thành một bộ “giáp trụ” dày bịch, nặng trịch và hôi mù. Các thành viên khác trong xe thường cũng rất thương, rất qúy lái xe song họ cũng chỉ giúp được những công việc đơn giản như điều xích, bổ sung dầu mỡ nước... chứ đụng đến kiểm tra kỹ thuật hoặc sửa chữa họ có muốn giúp cũng chịu.
Quá tải như vậy cho nên lúc nào cánh lái xe cũng vật và, vật vờ. Hở ra một cái là bạ đâu cũng lăn ra ngủ được. Và có lẽ không còn từ nào khái quát hơn khi nói về cánh lái xe tăng trong hành quân chiến đấu ngoài hai từ: “Vất vưởng”!
Nhắc lại câu chuyện vui vui ngõ hầu các thế hệ sau này hiểu hơn về một thời gian khổ hy sinh nhưng lãng mạn, trong sáng và hết mình vì lý tưởng. Và cũng hy vọng rằng truyền thống đó sẽ được tiếp nối, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hôm nay.
View attachment 9505674
. Cụ Nguyệt là Đại tá - nguyên là lái xe tăng T59 số hiệu 380, đâm vào Dinh Độc lập trưa ngày 30/04/1975 - Sau xe 384 và 390 của cụ Thận và cụ Toàn.Copy thì nên ghi rõ nguồn cụ chủ ạ.Trong binh chủng Tăng thiết giáp từ ngày xửa xưa đã lưu truyền câu: “Ăn pháo thủ, ngủ pháo hai, lài nhài xe trưởng, vất vưởng lái xe”- Đó là câu thành ngữ vui vui mô tả về 4 thành viên chính của một kíp xe tăng trong hành quân chiến đấu thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cho đến giờ vẫn không biết ai là tác giả song nó cũng phần nào phản ánh được những nét rất đặc trưng của từng thành viên chứ không phải chỉ là “thuận miệng” cho vần.
Biên chế kíp chiến đấu của xe tăng có từ 3 đến 5 người. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó là sự phân công công việc để thực hiện 4 chức năng chính là: chỉ huy, điều khiển xe, ngắm bắn, nạp đạn cho pháo và súng máy. Đối với loại xe chủ yếu của bộ đội xe tăng Việt Nam thời đó là T54, T59 thì 4 chức năng này phân công cho 4 thành viên: chỉ huy là của trưởng xe, điều khiển xe tất nhiên là do lái xe đảm nhiệm, ngắm bắn là việc của pháo thủ và nạp đạn là chức trách của pháo thủ số hai (pháo hai).
Đối với xe PT76 kíp xe chỉ có 3 người thì trưởng xe phải đảm nhiệm cả 2 công việc là chỉ huy và ngắm bắn. Còn kíp xe T34 có 5 người thì nhiệm vụ điều khiển xe sẽ do 2 người lái chính và lái phụ chia nhau.
Mỗi vị trí có chức trách nhiệm vụ khác nhau, nội dung công việc khác nhau nên dẫn đến thói quen sinh hoạt, tác phong tính cách... cũng có những điểm khác nhau. Và những đặc điểm đó đã được một tác giả khuyết danh nào đó tổng kết trong cái thành ngữ vui trên.
Tại sao lại là “Ăn pháo thủ”?
Thực ra, mới nghe thì câu này hơi vô lý bởi trong quân đội, tiêu chuẩn ăn của các thành viên xe tăng là như nhau. Muốn ăn nhiều hơn cũng chẳng được vì “lính tráng có suất”. Riêng pháo thủ trong tiêu chuẩn đi chiến đấu thường được nhiều hơn các thành viên khác mấy lọ dầu cá để cho tinh mắt hơn mà ngắm bắn thật đấy nhưng như thế cũng chưa phải là nhất về ăn. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ về công việc, sinh hoạt của bộ đội xe tăng trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lại thấy hoàn toàn hợp lý.
Số là, trong hành quân chiến đấu thì nhiệm vụ của pháo thủ thường là nhẹ nhàng nhất. Nếu như trưởng xe phải thức chỉ huy xe, lại phải tham gia họp hành, hội ý sau mỗi chặng hành quân; lái xe thì vất vả nhất rồi, ngoài việc điều khiển xe còn phải chăm lo công tác kỹ thuật; pháo hai ngoài việc trực bắn 12, 7 ly thì xe dừng nghỉ phải lo công tác hậu cần, ăn uống cho kíp xe thì pháo thủ có vẻ như nhàn hạ nhất, ít mệt mỏi nhất- nếu không có sự cố gì cần huy động thì chàng ta chỉ có ngủ mà thôi. Vì vậy, nếu các anh chàng kia có quá mệt mỏi, kém ăn đi một chút thì còn lại bao nhiêu pháo thủ ta sẽ “gánh” tất. Chính vì vậy, theo kinh nghiệm của anh em chiến sĩ xe tăng thì sau mỗi đợt hành quân, trong khi các thành viên khác rạc cả người đi thì pháo thủ thường là lại lên cân. Thế thì chả là “Ăn pháo thủ” thì còn là gì nữa!
Vì sao mà “Ngủ pháo hai”?
Có lẽ câu này xuất phát từ đặc điểm pháo hai có chỗ ngủ rộng rãi nhất, thoải mái nhất trong xe (!).
Như chúng ta đều biết, để thu hẹp diện tích mục tiêu, các xe tăng thường tận dụng đến mức tối đa không gian trong xe. Vì vậy, vị trí nào cũng hẹp vanh vanh, đụng đâu cũng là thép. Trong khi đó, riêng không gian hoạt động của pháo hai thì lại rộng rãi nhất vì đó là vị trí của nạp đạn. Khi chiến đấu, pháo hai phải lấy đạn từ các giá ra rồi đưa lên nạp vào buồng đạn. Với xe T54, T59 thì mỗi quả đạn dài gần 1 mét, có khối lượng 30- 32 kg nên cần phải có một không gian đủ rộng mới thực hiện được các thao tác đó. Chính vì vậy, buồng pháo hai khá rộng và mỗi khi dừng nghỉ thì vị trí đó trở thành một chỗ ngủ lý tưởng, có thể nằm duỗi chân duỗi tay thoải mái, dưới lưng là tấm đệm cao su dày rất êm. Trong thực tế, khi hành quân xe tăng thường có thêm các thành phần khác đi cùng như: thành viên dự bị hoặc y tá, thợ sửa chữa đi cùng. Vị trí pháo hai lúc đó có thể ngủ được 3 người: 2 người nằm dưới sàn và 1 người mắc võng lơ lửng ở trên.
Trong khi đó, lái xe thì còn ngả lưng ghế ra mà nằm chứ trưởng xe với pháo thủ chỉ có ngủ ngồi mà thôi. Có lẽ vì đặc điểm đó mà tác giả đã tổng kết “ngủ pháo hai” chăng?
“Lài nhài xe trưởng” là nghĩa làm sao?
Chức trách chủ yếu của trưởng xe là chỉ huy xe. Vì vậy, theo quy định khi hành quân đêm các thành phần khác- tất nhiên là trừ lái xe- được đi ngủ, còn trưởng xe phải thức cùng lái xe để chỉ huy xe. Đứng trên vị trí cao nhất ở cửa trưởng xe, có điều kiện quan sát tốt cả dưới mặt đất lẫn trên không cũng như các ký tín hiệu chỉ huy... trưởng xe có trách nhiệm chỉ huy lái xe điều khiển xe đi đúng đường và bảo đảm an toàn cao nhất. Vì vậy, anh ta thường xuyên phải nhắc nhở lái xe: sang phải, sang trái, tăng tốc độ, giảm tốc độ... Thực tình, có lái xe bị nhắc nhở nhiều quá đâm chán tai nên đã lén rút “phích” cắm mũ công tác khỏi “công tắc ngực”. Thấy lái xe không theo lệnh của mình các đồng chí trưởng xe càng “lài nhài” nhiều. Thế là được định danh luôn!
Không chỉ thế! Để giữ bí mật ý định cũng như hành động của quân ta thì trong chiến đấu khi liên lạc qua vô tuyến điện không được nói rõ mà phải dùng “mật ngữ chỉ huy” và “chữ đúc nghiệp vụ”. Bảng mật ngữ chỉ huy có khoảng 100 nhóm số mật, còn bảng chữ đúc nghiệp vụ cũng khoảng hơn 40 nhóm. Để đảm bảo tốc độ liên lạc các trưởng xe phải thuộc như cháo chảy 2 cái bảng này. Vì thế, cứ rỗi rãi một chút là các đồng chí trưởng xe lại lẩm nhẩm học thuộc lòng. Nghe đồn rằng có đồng chí lúc ngủ nằm mơ vẫn lài nhài: “01 triển khai, 02 cửa mở, 03 xung phong...”. Vậy thì đích thị “Lài nhài xe trưởng” rồi chứ còn gì nữa!
Thế còn “Vất vưởng lái xe”?
Có lẽ trong các tổng kết trên thì câu này là đúng nhất, chính xác nhất về mọi khía cạnh. Trong trường hợp hành quân chiến đấu thì lái xe là người vất vả nhất, bận bịu nhất, bẩn thỉu nhất và mệt mỏi nhất đến mức... vất vưởng!
Để đối phó với không quân Mỹ thời đó bộ đội ta thường phải hành quân đêm. Trong khi pháo thủ, pháo hai được ngủ, trưởng xe thì tiếng là phải thức song cũng có quyền gà gật thì lái xe phải căng mắt ra quan sát đường dưới ánh sáng của đèn “hạn chế ánh sáng”, hai tay thì liên tục giật cần lái với lực kéo 35- 40 KG, chân phải thì phải giữ ga, chân trái thì phụ trách bàn đạp ly hợp mỗi khi sang số. Vị trí ngồi thì thấp nhất, lá chắn bùn thường thường sau vài chặng hành quân đường rừng núi đều rách te tua hoặc bay mất nên bao nhiêu bụi đất từ băng xích cứ hắt cả lên mặt như mưa rào. Mỗi khi nghỉ giải lao lại phải tranh thủ kiểm tra kỹ thuật, điều chỉnh đai hãm, bổ sung dầu mỡ nước v.v... cho đúng tiêu chuẩn mới có thể tiếp tục hành quân được.
Cuộc hành xác cứ thế kéo dài có khi hết đêm. Ấy thế mà ban ngày lại phải lo chuẩn bị kỹ thuật cho chặng hành quân trong đêm tiếp theo. Xe mới thì còn đỡ chứ xe đã cũ nát thì hỏng vặt xảy ra như cơm bữa. Thế là hì hà, hì hục suốt mấy tiếng đồng hồ ngoài buồng truyền động. Mặt mũi, quần áo, chân tay... lúc nào cũng đen sì, cáu bẩn dầu mỡ và bụi bậm. Mà cái giống dầu mỡ xe tăng nó bắt bụi kinh khủng lắm. Bộ quần áo công tác cùng phát một đợt như nhau nhưng chỉ qua vài ngày hành quân nhìn của lái xe ai cũng nhận ra ngay bởi nó đã thành một bộ “giáp trụ” dày bịch, nặng trịch và hôi mù. Các thành viên khác trong xe thường cũng rất thương, rất qúy lái xe song họ cũng chỉ giúp được những công việc đơn giản như điều xích, bổ sung dầu mỡ nước... chứ đụng đến kiểm tra kỹ thuật hoặc sửa chữa họ có muốn giúp cũng chịu.
Quá tải như vậy cho nên lúc nào cánh lái xe cũng vật và, vật vờ. Hở ra một cái là bạ đâu cũng lăn ra ngủ được. Và có lẽ không còn từ nào khái quát hơn khi nói về cánh lái xe tăng trong hành quân chiến đấu ngoài hai từ: “Vất vưởng”!
Nhắc lại câu chuyện vui vui ngõ hầu các thế hệ sau này hiểu hơn về một thời gian khổ hy sinh nhưng lãng mạn, trong sáng và hết mình vì lý tưởng. Và cũng hy vọng rằng truyền thống đó sẽ được tiếp nối, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hôm nay.
View attachment 9505674
Hi hị.Trong binh chủng Tăng thiết giáp từ ngày xửa xưa đã lưu truyền câu: “Ăn pháo thủ, ngủ pháo hai, lài nhài xe trưởng, vất vưởng lái xe”- Đó là câu thành ngữ vui vui mô tả về 4 thành viên chính của một kíp xe tăng trong hành quân chiến đấu thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cho đến giờ vẫn không biết ai là tác giả song nó cũng phần nào phản ánh được những nét rất đặc trưng của từng thành viên chứ không phải chỉ là “thuận miệng” cho vần.
Biên chế kíp chiến đấu của xe tăng có từ 3 đến 5 người. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó là sự phân công công việc để thực hiện 4 chức năng chính là: chỉ huy, điều khiển xe, ngắm bắn, nạp đạn cho pháo và súng máy. Đối với loại xe chủ yếu của bộ đội xe tăng Việt Nam thời đó là T54, T59 thì 4 chức năng này phân công cho 4 thành viên: chỉ huy là của trưởng xe, điều khiển xe tất nhiên là do lái xe đảm nhiệm, ngắm bắn là việc của pháo thủ và nạp đạn là chức trách của pháo thủ số hai (pháo hai).
.......
View attachment 9505674


Cái xe cẩu từ bãi biển lên nếu trưng bày ở bảo tàng hay cơ quan quân sự thì nên đẹp tí, còn xấu thế thì làm cái đế ở bãi biển, cẩu đặt lên đấy làm kiểu chứng tích chiến tranh thì ý nghĩa hơn các cụ nhỉ!CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC XE TĂNG M-41 TRÊN BÃI BIỂN QUI NHƠN
M-41 Walker Bulldog là loại xe tăng hạng nhẹ do Hoa Kỳ chế tạo. Ban đầu, xe tăng M-41 có biệt danh Bulldog (tên một loài chó); về sau được đặt theo tên của vị tướng Hoa Kỳ đã tử trận tại Triều Tiên là Walton Walker. Cadillac Motor Car Division (công ty con của General Motors) chế tạo loại tăng này từ năm 1950, giá khoảng nửa triệu đôla (tùy theo từng loại biến thể và gói dịch vụ hậu mãi đi kèm như đào tạo, huấn luyện kíp lái, đạn dược kèm theo...). Trong Chiến tranh Việt Nam, M-41 là loại xe tăng được Hoa Kỳ sử dụng phổ biến, bởi trọng lượng nhẹ của nó thích hợp với địa hình Việt Nam hơn là xe tăng hạng nặng. Trong toàn cuộc chiến, Mỹ đã viện trợ cho QLVNCH tổng cộng 599 chiếc M-41. Tuy thành tích trên chiến trường thì chưa có gì nổi bật, nhưng hình ảnh thường xuyên của xe tăng M-41 xuất hiện trong các cuộc đảo chính liên miên, khiến các nhà báo Mỹ giễu cợt, gọi nó là "xe tăng của các cuộc đảo chính" (coup tanks).
Sau khi Tây Nguyên, Đà Nẵng và Huế thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh triệt thoái cao nguyên, bỏ Huế, Đà Nẵng và "tùy nghi di tản", co cụm phòng thủ bằng phòng tuyến Phan Rang, Xuân Lộc... dẫn đến hai cuộc tháo chạy vô cùng hỗn loạn và kinh hoàng trên biển Thuận An và đường số 7 Cheo Reo - Phú Bổn.
Do đường bộ đã bị chia cắt, đám tàn quân của Quân đoàn 1, 2 QLVNCH cố sống chết chạy ra biển thoát thân về hậu cứ. Thị xã Qui Nhơn nhỏ bé bỗng dưng tràn ngập các sắc lính QLVNCH ùa về. Hơn 6000 quân của Sư đoàn 22 "Tam sơn, nhị hà - Trấn sơn, bình hải", Thiết đoàn số 14, 02 tiểu đoàn pháo binh và rất nhiều đơn vị đã bị xóa sổ... tất cả chỉ có chung một ý định: mở đường máu, trốn lên tàu, thoát thân.
Tình hình lại càng bi đát, như rắn mất đầu, tin dữ thất trận, dồn dập bay về, càng làm tinh thần đám tàn quân thêm hoảng loạn. Rạng sáng 31/3/1975, Trung đoàn 93 QGP xuất phát tại xã Phước Hậu, đánh chiếm Khu 5, Núi Một, Cầu Đôi, Cầu Sông Ngang; khống chế hậu cứ của Sư đoàn 22 QLVNCH. Đội biệt động đánh chiếm Ty Cảnh sát. Pháo binh của QGP đặt trên Núi Một chi viện cho Đặc công 598 chiếm lĩnh Mũi Tấn, Quân cảng... Sau đó, QGP nhanh chóng chiếm Dinh Tỉnh trưởng, Nhà lao, Ty Công an... Đến tối ngày 31/3/1975, ông Võ Lựa (Đại đội 2, Tiểu đoàn 50, Trung đoàn 93 QGP) đã cắm lá cờ trên Dinh Tỉnh trưởng Bình Định (nay là trụ sở của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định).
Đường bộ đã bị chia cắt, đường không thì quá tải; Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân chỉ thị Phó Đề đốc, Thiếu tướng Hoàng Cơ Minh là Tư lệnh Hải quân Vùng 2 Duyên hải kiêm Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 232, khẩn cấp đưa đội tàu chiến, tàu vận tải hùng hậu để giải cứu Sư đoàn 22 và các đơn vị khác của QLVNCH đang mắc kẹt ở Qui Nhơn.
Phó Đề đốc, Thiếu tướng Hoàng Cơ Minh cùng soái hạm Trần Nhật Duật HQ-03, Dương vận hạm Ninh Giang HQ-403, Dương vận hạm Hát Giang HQ-400 và đoàn chiến hạm hùng hậu dừng ở ngoài Vịnh Qui Nhơn, nhưng không thể tiếp cận Quân cảng Qui Nhơn, nên đành liều mạng ủi bãi đoạn bãi biển gần Trường Sư phạm Qui Nhơn (đoạn gần Công viên Thiếu nhi ngày nay) hy vọng đón được đám tàn quân đang chờ sẵn. Đoán được ý đồ, pháo binh của QGP bắn ra dữ dội khiến các con tàu đón đành phải chạy lui ra tít ngoài biển xa. Trong tình hình sợ hãi, hoảng loạn tột cùng, đám tàn quân phải vứt bỏ bớt vũ khí, quân trang... cho nhẹ, bơi ra tàu. Do đó, trên bờ biển Qui Nhơn sau 1975 có rất nhiều xe tăng, xe bọc thép nằm ngổn ngang. Bơi ra đến tàu, Thiếu tướng Phan Đình Niệm, Tư lệnh Sư đoàn 22 QLVNCH sức cùng lực kiệt, tinh thần hoảng loạn, phải đưa sang tàu Dương vận hạm Hát Giang HQ-400 để chăm sóc y tế. Bước đường cùng, để tránh tình trạng hỗn loạn như rắn mất đầu, chính quyền Sài Gòn đành phải truyền lệnh qua sóng vô tuyến của máy điện đàm, phong cho Phó Đề đốc, Thiếu tướng Hoàng Cơ Minh, Tư lệnh Hải quân vùng 2 Duyên hải, thay thế Thiếu tướng Phan Đình Niệm chức vụ Tư lệnh chiến trường Bình Định.
Tuy nhiên, tất cả đã quá muộn. Giờ phút hấp hối của một chế độ đã bắt đầu. Phó Đề đốc ,Thiếu tướng Hoàng Cơ Minh, lực bất tòng tâm, đành lui binh về căn cứ Cam Ranh, để lại một đám tàn quân bơ vơ, tuyệt vọng không bơi ra được đến tàu lớn và một bãi biển Qui Nhơn la liệt các xe cộ, vũ khí, trang bị quân sự, quần áo, giày lính... của QLVNCH vứt bỏ lại.
Chiếc xe tăng M-41 Walker Bulldog của QLVNCH bị bỏ lại trên bờ biển Qui Nhơn trong cuộc tháo chạy hỗn loạn ấy. Vị trí của chiếc xe tăng nằm là trước khách sạn Hương Việt trên đường Xuân Diệu hiện nay. Ban đầu, chiếc xe tăng còn hoàn chỉnh, đầy đủ các bộ phận, nằm sát bên mép nước. Dần dần, nó bị lún và bị sóng đánh bồi cát ngập lên đến hết hàng xích. Thời kỳ bao cấp khó khăn, người dân tìm cách gỡ mọi thứ để bán sắt vụn, nên nó cứ trơ trụi dần. Khi thủy triều rút, chiếc xe tăng lộ nguyên dạng; lúc thủy triều lên, nó bị ngập đến tận tháp pháo. Dù sắt thép của Mỹ nổi tiếng là tốt bền, song mấy chục năm ăn mòn, chiếc xe tăng không tránh khỏi rỉ sét, con hàu, con hà... bám khắp nơi. Đối với bọn trẻ con sinh sau, đẻ muộn, không biết mùi chiến tranh, thì đây là một nơi vô cùng thú vị, vì được tận mắt thấy, tận tay sờ, lại được chui vào khoang lái, hay trèo ra đầu nòng pháo, nhảy lộn santô xuống biển... Xác chiếc xe tăng M-41 của QLVNCH nằm chỏng chơ trên bãi biển trở nên nổi tiếng, bởi nó đã trở thành nhân chứng của lịch sử, là biểu tượng của ngày chiến thắng, giải phóng Qui Nhơn. Hồi đó, tất cả các phim tài liệu quay về cuộc tấn công giải phóng Qui Nhơn, các đạo diễn, quay phim đều kỳ công thu vào khuôn hình xác chiếc xe tăng M-41 của QLVNCH nằm nửa chìm, nửa nổi trên bãi biển. Vào thưở mà thiên hạ chưa biết chụp ảnh check in hay chụp selfie... thì du khách đến Qui Nhơn đều muốn ra bãi biển, leo lên chiếc xe tăng, chụp một vài kiểu ảnh về khoe với bạn bè. Chỉ cần nhìn ảnh trên xe tăng ở bãi biển là ai cũng hiểu bạn đã đến Qui Nhơn rồi.
Đất nước dần dần đổi mới, thành phố Quy Nhơn bắt đầu đổi mới, mang dáng dấp một đô thị hiện đại. Con đường Xuân Diệu ra đời để biến ý tưởng quy hoạch đô thị: Quy Nhơn hướng mặt ra biển, thay vì quay lưng ra biển như lâu nay. Sau 32 nằm nằm dầm mưa dãi nắng, rỉ sét dần dần vì độ mặn của biển cả, tháng 10/2007, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định tiến hành di dời, cẩu về làm hiện vật đặt trong khuôn viên của Nhà truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định (cạnh Tỉnh Đội). Cả cuộc đời gầm rú, diễu võ giương oai trên các chiến trường, nhưng cuối đời, chiếc xe tăng M-41 lại có số phận hẩm hiu, lạnh lẽo. Tuy nơi đặt mới ổn định hơn, song lại ít người biết đến. Có lẽ, đa số người dân Quy Nhơn ngày nay không biết rằng chiếc xe tăng M-41 nằm cạnh bãi biển ngày nào, lại đang nằm thu mình lặng lẽ ở một góc rất khiêm tốn trong Nhà truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định.
Ngoài chiếc xe tăng M-41 đã kể trên, ở Nhà truyền thống còn trưng bày một chiếc xe tăng M-48 thu được của QLVNCH. Theo tư liệu, chiếc xe tăng này QGP thu được khi QLVNCH bỏ chạy, vứt lại chỏng chơ trước trường Nữ Trung học (trường THPT Trưng Vương bây giờ). Trước sân Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định trưng bày một chiếc xe thiết giáp M-113, chính là một trong hai chiếc xe tăng và thiết giáp của Sư đoàn 22 QLVNCH bị Tiểu đoàn 51 QGP bắt sống vào chiều ngày 01/4/1975 tại khu vực hồ Phú Hòa, sau đó được sử dụng để truy kích tàn quân Sư đoàn 22 QLVNCH đang tháo chạy ra biển.
P/S: Chắc ít người biết rằng sau năm 1975, một lượng lớn xe tăng, xe thiết giáp thu được ở các chiến trường và ở Tổng kho Long Bình của QLVNCH đã bổ sung lực lượng Binh chủng Tăng Thiết giáp của QĐNĐVN. Những chiếc xe tăng này đã phát huy được uy lực và hiệu quả trong các trận chiến ác liệt ở biên giới Tây - Nam và chiến trường Campuchia năm 1979. Sau vài chục năm hoạt động, vì hết niên hạn sử dụng và thiếu vật tư, phụ tùng thay thế, hiện nay số lượng xe tăng M-41, M-48, M-113... phải đưa vào kho niêm cất để bảo quản, dự trữ.
Nguồn: Bài và ảnh Facebook Nắng Mùa Xuân
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()