(Tiếp)
Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai
Trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ hai, hay còn gọi là chiến tranh Iraq, từ năm 2003 đến 2011, George W. Bush quyết định Saddam Hussein phải bị lật đổ vì bị cho là sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Điều đó có nghĩa là ít nhất Mỹ cũng có một mục tiêu chiến tranh rõ ràng, mặc dù mục tiêu đó dựa trên một thất bại tình báo khổng lồ mà không ai chịu trách nhiệm.
Dù Washington phát động chiến tranh dựa trên lời nói dối hay sự hiểu lầm, họ vẫn tham chiến mà không hiểu biết đầy đủ về quốc gia mình đang xâm lược cũng như những thế lực mà họ sẽ giải phóng một khi chế độ độc tài của Saddam sụp đổ.
Thiên kiến lạc quan về hậu quả chiến tranh ăn sâu bám rễ vì khát vọng gây chiến quá mãnh liệt. Trong lời khai trước Quốc hội, Thứ trưởng Quốc phòng lúc bấy giờ, Paul Wolfowitz, đã nói với các thành viên Ủy ban Quân sự Hạ viện vào tháng 2 năm 2003 rằng người Iraq là “23 triệu người có trình độ học vấn cao nhất trong thế giới Ả Rập, những người sẽ chào đón chúng ta như những người giải phóng… Quan niệm cho rằng chúng ta sẽ tạo thêm kẻ thù bằng cách tiến vào và loại bỏ kẻ mà mọi người Ả Rập đều biết là một trong những bạo chúa tồi tệ nhất… chỉ là vô nghĩa.” Wolfowitz bác bỏ những so sánh với vùng Balkan và nói rằng Iraq không có tiền lệ về “các nhóm dân quân sắc tộc đánh nhau”, vì vậy không cần đến lực lượng gìn hòa bình lớn sau chiến tranh. Ông cũng tin tưởng rằng người dân Iraq tự do sẽ bác bỏ chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo hoặc chế độ thần quyền. Ông thừa nhận rằng lập luận của mình dựa một phần vào các mối quan hệ cá nhân.
Một người ủng hộ chiến tranh khác là lãnh đạo phe đối lập Israel Benjamin Netanyahu. Ông khuyên: “Nếu các ông lật đổ Saddam, tôi đảm bảo điều đó sẽ tạo ra những tác động tích cực to lớn trên toàn khu vực. Và tôi nghĩ những người đang sống ngay cạnh bên ở Iran, giới trẻ và nhiều người khác, sẽ nói rằng thời đại của những chế độ như vậy, của những bạo chúa như vậy, đã qua rồi.” Nhưng điều ngược lại đã xảy ra. Iran trở nên mạnh hơn, kể cả bên trong Iraq.
Gần đây hơn, John Sawers, cựu lãnh đạo MI6 và đặc phái viên của Anh tại Baghdad năm 2003, đã mô tả hậu quả của cuộc xâm lược là "hoàn toàn hỗn loạn".
“Không hề có kế hoạch nào được chuẩn bị cho hậu quả sau đó,” ông nói. “Người Mỹ chỉ ngồi im lìm trong xe tăng và xe bọc thép, đeo kính râm phản quang và đội mũ bảo hiểm nặng nề, hoàn toàn không có bất kỳ sự giao tiếp nào với người dân Iraq. Họ chỉ cho rằng một khi lực lượng Mỹ lật đổ Saddam thì những người Iraq lưu vong sẽ đến, tiếp quản và mọi việc sẽ ổn thỏa. Nhưng thực tế lại hoàn toàn khác.”
........
Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai
Trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ hai, hay còn gọi là chiến tranh Iraq, từ năm 2003 đến 2011, George W. Bush quyết định Saddam Hussein phải bị lật đổ vì bị cho là sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Điều đó có nghĩa là ít nhất Mỹ cũng có một mục tiêu chiến tranh rõ ràng, mặc dù mục tiêu đó dựa trên một thất bại tình báo khổng lồ mà không ai chịu trách nhiệm.
Dù Washington phát động chiến tranh dựa trên lời nói dối hay sự hiểu lầm, họ vẫn tham chiến mà không hiểu biết đầy đủ về quốc gia mình đang xâm lược cũng như những thế lực mà họ sẽ giải phóng một khi chế độ độc tài của Saddam sụp đổ.
Thiên kiến lạc quan về hậu quả chiến tranh ăn sâu bám rễ vì khát vọng gây chiến quá mãnh liệt. Trong lời khai trước Quốc hội, Thứ trưởng Quốc phòng lúc bấy giờ, Paul Wolfowitz, đã nói với các thành viên Ủy ban Quân sự Hạ viện vào tháng 2 năm 2003 rằng người Iraq là “23 triệu người có trình độ học vấn cao nhất trong thế giới Ả Rập, những người sẽ chào đón chúng ta như những người giải phóng… Quan niệm cho rằng chúng ta sẽ tạo thêm kẻ thù bằng cách tiến vào và loại bỏ kẻ mà mọi người Ả Rập đều biết là một trong những bạo chúa tồi tệ nhất… chỉ là vô nghĩa.” Wolfowitz bác bỏ những so sánh với vùng Balkan và nói rằng Iraq không có tiền lệ về “các nhóm dân quân sắc tộc đánh nhau”, vì vậy không cần đến lực lượng gìn hòa bình lớn sau chiến tranh. Ông cũng tin tưởng rằng người dân Iraq tự do sẽ bác bỏ chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo hoặc chế độ thần quyền. Ông thừa nhận rằng lập luận của mình dựa một phần vào các mối quan hệ cá nhân.
Một người ủng hộ chiến tranh khác là lãnh đạo phe đối lập Israel Benjamin Netanyahu. Ông khuyên: “Nếu các ông lật đổ Saddam, tôi đảm bảo điều đó sẽ tạo ra những tác động tích cực to lớn trên toàn khu vực. Và tôi nghĩ những người đang sống ngay cạnh bên ở Iran, giới trẻ và nhiều người khác, sẽ nói rằng thời đại của những chế độ như vậy, của những bạo chúa như vậy, đã qua rồi.” Nhưng điều ngược lại đã xảy ra. Iran trở nên mạnh hơn, kể cả bên trong Iraq.
Gần đây hơn, John Sawers, cựu lãnh đạo MI6 và đặc phái viên của Anh tại Baghdad năm 2003, đã mô tả hậu quả của cuộc xâm lược là "hoàn toàn hỗn loạn".
“Không hề có kế hoạch nào được chuẩn bị cho hậu quả sau đó,” ông nói. “Người Mỹ chỉ ngồi im lìm trong xe tăng và xe bọc thép, đeo kính râm phản quang và đội mũ bảo hiểm nặng nề, hoàn toàn không có bất kỳ sự giao tiếp nào với người dân Iraq. Họ chỉ cho rằng một khi lực lượng Mỹ lật đổ Saddam thì những người Iraq lưu vong sẽ đến, tiếp quản và mọi việc sẽ ổn thỏa. Nhưng thực tế lại hoàn toàn khác.”
........