Em thấy bài này hay các cụ ạ. E cóp bên nhóm Quy hoạch SH.
Đôi điều chiêm nghiệm của một phong thủy sư về yếu tố phong - thủy của Dự án Đại lộ cảnh quan sông Hồng
Đôi Điều suy tư về long mạch
Tác giả Lê Trung Ngạn
Phong thủy, Long mạch, đã đi vào cuộc sống dân gian của người Việt như một món ăn tinh thần. Từ xưa ông cha ta chọn đất làm nhà, xây cất thành quách, cung điện, lầu các đều không bỏ qua được sự lựa chọn hệ trọng này.
Đối với các triều Đại, khi xây dựng Kinh đô hay rời đô phải nhờ đến các bậc nho sỹ học thuật thiên văn, địa lý tìm chọn nơi phong khí hội tụ và vượng, điều đó đã trở là yếu tố tự nhiên hậu thuẫn cho triều đại hưng thịnh, bền vững, lâu dài; Trăm họ có cuộc sống an vui, ấm no hạnh phúc.
1. Bàn về long mạch của Hà Nội theo người xưa.
Long mạch, một khái niệm không chỉ tồn tại trong lĩnh vực phong thủy mà còn ẩn chứa sâu sắc ý nghĩa văn hóa và tâm linh của con người Việt Nam. Từ xưa đến nay, long mạch luôn được coi là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày cũng như vận mệnh của cá nhân và cộng đồng. Nhận định đầu tiên về Long Mạch có thể nói tới bao gồm 2 yếu tố Long và Mạch, Trong đó Long là phần Thể, còn Mạch là phần Dụng, trong đó Mạch sẽ bao gồm các yếu tố chính là: Huyệt, Sa và Thủy.
A. Luận về Long trong việc lựa chọn Kinh đô:
Sách Địa lý Đại Pháp toàn thư của Thanh Điền tiên sinh[1] có viết: Trung Quốc có ba đại Long lớn là: Trường Giang, Hoàng Hà và Áp Lục Giang trong đó Long lấy Thủy làm giới hạn, Do đó Long chính của Trung Quốc đều lấy 3 sông là Trường Giang, Hoàng Hà và Áp Lục làm ranh giới, vì vậy kinh đô của Trung Quốc đều nằm thuộc ranh giới của 3 sông này là chính. Xét lại trong văn minh Hoa Hạ kể từ thời kỳ lập quốc đến nay, tứ đại cố đô của người Trung Quốc đều nằm ở các khu vực này, cụ thể:
1. Tây An (hay Trường An nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) là kinh đô cổ của người Trung Quốc gắn liền với nhiều triều đại phong kiến Trung Hoa nằm tiếp giáp phía Nam sông Vị Hà là phụ lưu lớn nhất của sông Hoàng Hà.
2. Lạc Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam) là kinh đô cổ thứ hai của người Trung Quốc nằm ở vùng trung du của sông Hoàng Hà, trong đó con sông này chảy qua tiếp giáp với phía Bắc thành phố.
3. Nam Kinh là kinh đô của 6 triều đại phong kiến Trung Quốc, được gọi là “Cố đô mười triều”, nổi bật nhất là Nhà Minh và là thủ đô lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc. Nam Kinh là thành phố nằm tiếp giáp với sông Trường Giang, đồng thời có thêm nhánh sông Tần Hoài chảy qua.
4. Bắc Kinh gắn liền với nhiều triều đại phong kiến quan trọng, nổi bật nhất là kinh đô của các vương triều hùng mạnh như Nguyên, Minh và Thanh, đồng thời Bắc Kinh cũng là thủ đô thời kỳ đầu Trung Hoa Dân Quốc và hiện tại là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tuy không tiếp giáp trực tiếp với Hoàng Hà hay Trường Giang nhưng lại được bao bọc bởi hệ thống mạng lưới các sông nhánh của sông Hoàng Hà.
Như vậy có thể thấy, cán Long của Trung Quốc đều không nằm ngoài Hoàng Hà và Trường Giang, đặc biệt là khu vực sông Hoàng Hà, được coi là Long mạch chính của người Trung Quốc nên Kinh đô và các đại đô thị cổ của Trung Quốc chủ yếu đều phát tích từ đây. Theo Địa lý toàn thư của Thanh Điền tiên sinh, Cán Long là 3 sông lớn thì Long mạch thường sẽ nằm ở chỗ sông lớn giao nhau với các nhánh sông nhỏ bởi ở chỗ này thường là nơi giao lưu giữa Phong xuy (gió mùa) và Thủy kiếp (nước xiết) tạo nên gốc của Long Mạch chính là Long Huyệt.
Ở Việt Nam: Xét tương tự với ngàn năm lập quốc của Việt Nam, Cán Long (tức phần khởi tạo nên Long mạch) khởi nguồn từ sông Hồng do đó bản thân kinh đô của Việt Nam đều chủ yếu phát tích xung quanh Cán Long là chính, thời kỳ Văn Lang lập quốc thì kinh đô đóng ở Phong Châu, (Tỉnh Phú Thọ ngày nay) nằm ở ngã 3 sông lớn là: sông Hồng, sông Đà và sông Lô, đây là nơi khởi tích nguồn gốc người Việt cũng là kinh đô đầu tiên của nước ta. Tiếp đến thời Vạn Xuân đóng đô ở thành Ô Diên nay thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, đến thời Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. Sau khi giành được độc lập, ngoại trừ các triều đại phong kiến có thời gian tồn tại ngắn khoảng dưới 50 năm như nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn[2], các triều đại phong kiến thịnh trị của Việt Nam đều đóng kinh đô tại Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Bởi lẽ Hà Nội vừa là nơi hội tụ Long mạch lại có phong thủy khí của đế đô như sau:
- Sông Hồng chạy uốn lượn qua Hà Nội theo hướng Tây Bắc – Đông Nam trước khi đổ ra biển lớn, đây là Thái Vi Cục Thế. Theo Địa Lý Toàn thư, đây là cách Đế đô hợp tinh viên, lại thêm thất đất thành Thăng Long (Hà Nội cũ) thuộc dạng vuôn vắn, được sông uốn quanh tạo thành binh vệ. Phía Bắc Hà Nội có dãy núi Tam Đảo án ngữ, dãy núi Ba Vì (Tản Viên) ở phía Tây, tạo thành Thái Hà hướng đông, Đế tòa cư phương Bắc. Theo Địa Lý Toàn Thư đây được xem là đại cát đại lợi trong Long Mạch. Cũng vì địa thế Hà Nội đẹp như vậy nên năm xưa trong Chiếu dời đô, vua Lý Thái Tổ[3] đã từng tán thán:
“Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương 3 lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà 2 nhà Đinh[4], Lê[5] lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La[6], kinh đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.”
B. Luận về Mạch của Thành Thăng long – Đại La
Như đã luận ở trên Mạch là máu của Long, là nguồn sống của Long, đã có Long là nơi các sông giao nhau, muốn có Mạch ắt phải là nơi Phong (gió) + Thủy (nước) hội tụ mới tạo Long Mạch. Địa thế Hà Nội hiện tại ở chỗ sông Hồng uốn lượn đi qua, lại hướng Bắc đón gió mùa Đông Bắc, phương Nam đón gió Đông Nam từ biển vào, phía Tây cũng có gió phơn Tây Nam, quả thực là nơi Phong – Thủy giao hội tạo nên Long Mạch. Trong Long Mạch thì: Thủy là huyết, Sơn là xương cốt và Thổ là Da thịt, do đó huyết phải lưu thông mới nuôi sống da thịt khiến da thịt tươi tốt. Da thịt tươi tốt thì xương cốt mới được bền chắc do có linh khí. Bởi vì huyết chỉ vận hành trong da thịt mà không thể vận hành trong xương cốt được. Cũng thế từ Cán Long của Hà Nội là sông Hồng, kết nối với các mạch nước ngầm và sông hồ nhỏ trong Hà Nội mới tạo nên huyết mạch mà nuôi dưỡng đất đai ở Hà Nội. Đất đai có tốt thì mới tạo nên tinh khí cho chân Long hay chính là vận khí của quốc gia.
Sông Hồng khi chảy qua Hà Nội, ở bồi đắp tạo nên Hồ Tây hình móng ngựa, vùng đó ắt tạo nên Thủy Khẩu Sa, ở giữa sông là các bãi bồi tạo nên La Tinh Cung. Vì Thủy Lưu của sông Hồng chia nhánh về các sông con, lại chảy hài hòa, hai bên bờ là Thủy Khẩu với bồi đất tạo thành sa là tối quan trọng, giúp dòng sông chảy thẳng và chia nhánh, không bị xung phá với La Tinh cung. Hơn nữa sông Hồng lại cung cấp cho các mạch nước ngầm ở trong Hà Nội nối với các hồ tự nhiên, đặc biệt là hồ Tây do đó tạo nên cục diện rất đẹp cho Long mạch tại đây. Giả sử không có hệ thống mạch nước ngầm, sông chảy nhanh và xiết như Hoàng Hà ắt xảy ra tình trạng thủy lưu xung phá La Tinh cung (cuốn trôi toàn bộ bãi bồi).
Sách Địa lý Toàn thư có viết: “Nếu lưu thủy xông phá La Tinh Cung thì đời sau ắt sẽ bại vọng”. Có thể hiểu rằng khi dòng sông nước chảy mạnh xiết mà xói mòn toàn bộ hệ thống bồi đã tích tụ trên sông Hồng. Điều này nhẹ thì tổn thương Long khí quốc gia, nặng thì dẫn đến bại vong của một quốc gia, chế độ. Do đó đối với long mạch hiện tại càng nên bảo tồn, tránh việc xung phá Thủy lưu làm tổn thương nặng nền long mạch tại Hà Nội.
Cảm nhận một số vấn đề phong thủy từ bài học đô thị hóa của Seoul
A. Bài học đô thị hóa Seoul (Hàn Quốc) và hệ lụy về địa lý.
Nói đến Seoul không ai không tự hào về những thập kỷ công nghiệp Hóa, đô thị Hóa phát triển vào bậc nhanh thế giới của người Hàn quốc. Những dãy nhà cao ốc chọc trời xen giữa các dãy chung cư thẳng tắp xếp dọc hai bên bờ sông Hàn (sông Hangan). Thành quả về kinh tế, tái thiết đô thị, xây dựng hạ tầng vượt bậc những thập niên 1965-1990, có gắn với việc phát triển đô thị dọc sông Hàn trong giai đoạn này, thường được mọi người gọi một tên chung ngưỡng mộ “Kỳ Tích Sông Hàn”.
- Seoul, đúng là một thành phố loại lớn, đông dân trên thế giới nổi lên như một trào lưu đô thị hóa sau chiến tranh, một hình ảnh tiêu biểu cho một đất nước phát triển.
Ngoài những thành tựu đáng khâm phục, dự án Sông Hàn còn mang theo những hệ lụy mà một số nhà kinh tế, kiến trúc sư bày tỏ:
“Thành phố này phát triển quá mức với chung cư và chung cư, cao tầng và cao tầng. Những khu phố thấp tầng có rất ít, họ buôn bán, rất trật tự nhưng vẫn có những cái gì đó không đẹp. Hình như nó quá lạm dụng đất đai, sốt nóng về mật độ, to lớn đến mức ngộp thở”.
Tốc độ đô thị hóa nhanh, hạ tầng gia thông, cao tốc phát triển kết nốivới các khu công nghiệp lân cận làm tốc độ di dân về Seoul khủng khiếp, 46% dân số Hàn Quốc sinh sống ở Seoul (so với Nhật Bản là 32% ở Tokyo, Vương quốc Anh là 12% ở London, Pháp là 19% ở Paris).
Hơn nữa Seoul cũng đang phải đối mặt với căn bệnh “đô thị béo phì” là ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông và đất đai, nhà cửa tăng giá phi mã. Hạ tầng cơ sở xã hội đang bị quá tải.
C. Một số cảm nhận về phong thủy và Hệ lụy về chính trường Hàn Quốc:
Sau khi xây dựng thành phố ven sông (sông Hàn), các dãy nhà chọc trời ven sông đã chắn hết làn gió mát từ sông và biển vào thành phố, làm nhiệt độ trung bình Seoul tăng 1-2 độ hàng năm. Nội thành phố ngạt không khí, mặc dù Chính phủ sửa sai bằng cách phá đi cao tốc và khơi thông một dòng suối nhân tạo để giảm sự ngột ngạt này. Như vậy phong thủy thủ đô bị kiến trúc hiện đại phá vỡ.
Với hàng trăm nhà cao tầng 20-30 tầng căn hộ chung cư, và vài chục tòa cao ốc chọc trời – văn phòng các tập đoàn danh tiếng, vùng Long Mạch Seoul chắc chắn bị tổn thương. Đặc biệt việc xây dựng các tòa nhà cao tầng đòi hỏi phải đóng cọc móng sâu sẽ chặn các hệ thống nước ngầm tại Seoul mà cụ thể là hệ thống Long Mạch dưới thủ đô Seoul. Điều này qua chiêm nghiệm sẽ linh cảm được.
- Kể từ đầu những năm 1960 đến nay, sau khi cố Tổng thống Hàn Quốc Park Chung-hee là người khởi xướng việc xây dựng dự án trục đô thị Sông Hàn, mặc dù Hàn Quốc đã đạt được một số kỳ tích kinh tế, tuy nhiên cũng đã có một số tổng kết về cuộc đời các Tổng thống Hàn Quốc kế nhiệm sau Park Chung-hee như sau. Tính đến năm 2025, kể cả đời Park Chung-hee, Hàn Quốc đã có tổng cộng 12 đời tổng thống tất cả.
- Trong đó có 7 Tổng thống bị bắt giữ và ngồi tù bao gồm:
+ Tổng thống Yoon Suk Yeol (nhiệm kỳ 2022–2025): trở thành Tổng thống đương nhiệm đầu tiên bị bắt giữ vào ngày 15/1/2025.
+ Tổng thống Park Geun-hye (nhiệm kỳ 2013–2017): Bị bắt vào năm 2017 sau khi bị luận tội và bãi nhiệm do bê bối tham nhũng.
+ Tổng thống Lee Myung-bak (nhiệm kỳ 2008–2013): Bị bắt vào năm 2018 với các cáo buộc hối lộ, biển thủ công quỹ và lạm dụng quyền lực.
+ Tổng thống Chun Doo-hwan (nhiệm kỳ 1980–1988): Bị bắt vào năm 1995 vì tội phản quốc và tham nhũng
+ Tổng thống Roh Tae-woo (nhiệm kỳ 1988–1993): Là vị tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc bị bắt giữ (vào tháng 11/1995). Ông bị kết án 22 năm tù vì tội tham nhũng và tham gia đảo chính.
+ Tổng thống Roh Moo-hyun (nhiệm kỳ 2003–2008) cũng từng bị điều tra về cáo buộc tham nhũng nhưng ông đã tự sát vào năm 2009.
+ Tổng thống Kim Dae-jung cũng từng bị bắt và bị tuyên án tử hình vào năm 1980 nhưng sau đó được ân xá.
- Trong đó có 3 Tổng thống bị đảo chính quân sự và ám sát bao gồm:
+ Tổng thống Yun Bo-seon (1960-1962): Ông là tổng thống hợp pháp sau cuộc cách mạng dân chủ, nhưng bị Tướng Park Chung-hee đảo chính năm 1961 và buộc phải từ chức vào năm 1962.
+ Tổng thống Park Chung-hee (1961-1979): Ngày 26/10/1979, ông bị Kim Jae-gyu, Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA), bắn chết tại Nhà Xanh.
+ Tổng thống Chun Doo-hwan (1980-1988): Ông lên nắm quyền sau một cuộc đảo chính quân sự (binh biến 12/12) năm 1979 sau khi Park Chung-hee qua đời, nhưng cũng đối mặt với các âm mưu ám sát,
3. Dự án liên danh của Đại Quang Minh có tổn thương Long mạch Kinh thành Thăng long hay không?
Theo các chủ đầu tư Liên danh, do tập đoàn của Đại Quang Minh đại dự án ven sông sẽ xây 88 chung cư cao tầng phía hữu trong đê ven, khoảng đất trải dài bãi đá Âu Cơ đến Đầm Trấu Nguyễn khoái, che chắn toàn hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm với gió từ sông Hồng trở vào.
- Thứ nhất: Hệ thống nhà cao tầng với điểm nhấn là 88 tòa chung cư và 2 tòa tháp đôi sẽ ngăn chặn gió từ 4 hướng đến hội tụ tại sông Hồng, điều này làm mất yếu tố Phong trong Phong Thủy gây phá hoại Long huyệt là trung tâm Long mạch tại Hà Nội. Bởi lẽ để tạo nên Long Huyệt thì bắt buộc phải hội tụ đủ Phong (gió) và Thủy (nước) tại trung tâm của sông. Không có gió thì Long Huyệt thì Long Mạch không thể hội tụ cũng giống như có xương rồng mà không có tim rồng.
- Thứ hai: Hệ thống móng, cọc của nhà cao tầng sẽ ngăn chặn, xung phá toàn bộ hệ thống mạch nước ngầm của sông Hồng vào Hà Nội, điều này dẫn đến Thủy không lưu thông trong mạch được, cũng giống như máu bị tắc nghẽn tại các mạch máu. Khi Thủy không lưu thông thì huyết mạch ứ động, khiến cho vận khí của long mạch bị tổn thương, bởi huyết không thông thì da thịt không được nuôi dưỡng. Vận khí giảm mà ở nơi đầu não thủ đô sẽ làm giảm đi toàn bộ vận khí của quốc gia.
- Thứ ba: việc xây dựng hai bên bờ tả hữu sông Hồng với bê tông hóa toàn diện sẽ làm cho thủy lưu mà không lắng đọng, do đó bãi bồi sẽ bị xung phá dần qua thời gian, nước sông bị chặn nhiều chỗ mà không thoát được dẫn đến tình trạng Thủy lưu xung phá La Tinh Cung ắt sẽ làm quốc gia bại vong, hơn nữa việc bê tông hóa hoàn toàn để xây thành phố ven sông cũng phá đi thế Thanh Long-Bạch Hổ của hai bờ sông, hoàn toàn có thể biến cát lợi thành hung hiểm cho quốc gia, do Long Huyệt không còn được Thanh Long – Bạch Hổ hộ vệ nữa.
Thay cho lời kết: Hiện nay thuyết phóng thủy Long mạch vẫn còn là môn học huyền bí, mang tính chất tâm linh, trời đất. Con người, thời tiết, khí hậu, sông núi và vạn vật xung quanh có một sợi dây liên kết vô hình mà các nhà khoa học cũng thừa nhận.
Tuy chưa có ai giải thích được tường tận về Long khí, Long mạch, nhưng trong tấm lòng người Việt vẫn canh cánh bên lòng câu nói của tổ tiên. “Có thờ, có thiêng, có kiêng có lành”.
Do đó một quốc gia có nên đổi một sự án xây đô thị ven sông để gây sự tổn thương về Long mạch Quốc gia do thiên nhiên nghìn năm bồi đắp hay không? Đó là đôi điều tâm tư cần phải ngẫm nghĩ cho con cháu tương lai./.
[1] Thanh Điền tiên sinh, người huyện Thanh Điền, tỉnh Triết Giang Trung Quốc, tương truyền ông học được phép Âm Dương đạo lý của tiên sinh Khâu Đình Hà một bậc đại sư phong thủy tại huyện Vân Hỉ, tỉnh Hà Đông.
[2] Thực tế trong lịch sử nhà Nguyễn chỉ nắm thực quyền 50 năm, còn lại hơn 80 năm là do thực dân Pháp chiếm đóng và nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò chính quyền bù nhìn.
[3] Chiếu dời đô được Vua Lý Thái Tổ soạn vào năm 1010.
[4] Nhà Đinh là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 968 đến năm 980, do Đinh Bộ Lĩnh lập nên sau khi thống nhất 12 sư quân.
[5] Nhà Lê, chỉ nhà Tiền Lê, do Lê Hoàn thành lập sau nhà Đinh sau sự cố binh biến của nhà Đinh, kéo dài từ năm 980 đến năm 1009.
[6] Thành Đại La (hay La Thành) là tên gọi kinh đô của Việt Nam thời Bắc thuộc, được Cao Biền (thời Đường) xây dựng lớn mạnh, nằm trên địa phận Hà Nội ngày nay (quanh khu vực quận Ba Đình). Địa giới Đại La Thành hiện nay chính là địa giới của quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tương truyền khi vua Lý Thái Tổ đến Đại La và đổi tên thành Thăng Long để lập đô. Khi Lý Công Uẩn đang gặp khó khăn trong việc xây dựng thành Thăng Long do nền móng không vững, một con chó từ Đình Bảng, Bắc Ninh, bơi qua sông Hồng đến núi Nùng với chữ “Vương” trên lưng. Sự kiện kỳ lạ này được xem là điềm báo từ đất trời, giúp vua quyết định xây thành trên nền Đại La và thành công. Sau khi hoàn thành thành Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho xây dựng Đền Cẩu Nhi trên núi Nùng để thờ cúng, coi đó như sự tri ân tạo hóa đã ban phước cho dân Đại Việt. Sau này Đền Cẩu Nhi được di dời đến khu vực Hồ Trúc Bạch hiện nay.
@nêu bật