Em mới đọc được bài này, nhờ AI dịch hầu các cụ:
Lịch sử trồng nấm của Israel
Theo số liệu chính thức, trên thế giới chỉ có 8 quốc gia có nấm, bao gồm Ngũ đại Bảo kê + Ấn Độ, Pakistan, Triều Tiên. Israel chưa từng thừa nhận có nấm, nhưng cũng không hề phủ nhận mà chỉ cười bí hiểm mỗi khi được hỏi đến.
Trên thực tế, Israel không chỉ có nấm, mà còn là cường quốc trồng nấm thứ 6 trên thế giới, chỉ đứng sau Ngũ đại Bảo kê.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng trò chuyện về Israel, và đoạn lịch sử bí mật về quá trình trồng nấm ít người biết đến của họ.
01
Từ hoang mạc đến “Kế hoạch Hollywood”
Tất cả các quốc gia trồng nấm đều có một “cha đẻ trồng nấm”. Israel cũng không ngoại lệ, cha đẻ trồng nấm của họ là Shimon Peres (ảnh).
Tên gốc của Peres không phải là Peres, mà là Perski. Nhìn cái tên này là biết ông là người Do Thái gốc Nga.
Perski sinh năm 1923 tại Belarus, năm 1924 theo cha mẹ di cư đến Palestine (lúc bấy giờ do Anh ủy trị). Khi còn nhỏ, có lần cậu bé trèo cây làm kinh động đến một con chim ưng trên đó. Một người Do Thái đi ngang qua đã nói với cậu: “Đó là một con Peres”.
Peres trong tiếng Hebrew có nghĩa là chim ưng. Con chim ưng vỗ cánh bay lượn đó đã để lại ấn tượng sâu sắc cho Perski, và từ đó, ông đổi tên mình thành Peres.
Không ai nhận ra rằng, cậu thiếu niên mang cái tên có phần ngông cuồng ấy, sau này sẽ làm thay đổi toàn bộ cục diện địa chính trị của Trung Đông như thế nào.
Năm 1947, ngay trước thềm lập quốc của Israel, Peres gia nhập tổ chức Haganah (tiền thân của Lực lượng Phòng vệ Israel IDF). Người thầy của ông, David Ben-Gurion, đã giao cho ông trọng trách xây dựng quân đội.
Năm 1948, Israel lập quốc, Ben-Gurion trở thành Thủ tướng, còn Peres được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Hải quân thuộc Bộ Quốc phòng Israel. Năm đó, Peres mới 25 tuổi.
Tuy nhiên, ngay ngày thứ hai Peres nhậm chức, xe tăng của các quốc gia Ả Rập đã ầm ầm kéo tới, Chiến tranh Trung Đông lần thứ nhất bùng nổ. Dù cuối cùng Israel đã giành chiến thắng, nhưng Ben-Gurion không hề vui mừng mà chỉ có sự lo âu sâu sắc.
Khoảng cách thực sự là quá lớn:
• Diện tích Israel là 15.200 km², trong khi thế giới Ả Rập là 13,13 triệu km².
• Dân số Israel chỉ vài triệu, trong khi thế giới Ả Rập có hàng trăm triệu người.
Một nhóm nhỏ người Do Thái bị bao vây trong biển người Ả Rập rộng lớn, nguy cơ bị tiêu diệt luôn chực chờ. Người Ả Rập có thể thua mười lần, một trăm lần, cùng lắm là rút về sa mạc tiếp tục sinh con đẻ cái. Nhưng Israel chỉ cần thua một lần, là mất nước, diệt vong.
Ben-Gurion là thế hệ từng trải qua thảm họa diệt chủng Holocaust, ông mắc hội chứng chấn thương tâm lý (PTSD) sâu sắc về việc mất nước. Sau thời gian dài suy nghĩ, ông đi đến một kết luận: Chỉ có một thứ duy nhất mới khiến người Ả Rập mãi mãi không dám động đến ý định tiêu diệt Israel: Mushroom!
(1) Cuộc tìm kiếm nguyên liệu và lò phản ứng
Ben-Gurion muốn có nấm, nhưng ông không hiểu gì về nó. Phải làm sao đây?
Lúc này, Ernst David Bergmann lọt vào tầm ngắm của ông. Bergmann sinh ra ở Đức, là một nhà hóa học hữu cơ. Vốn dĩ ông có một tiền đồ xán lạn tại Đại học Berlin, nhưng khi Hitler lên nắm quyền, Bergmann bị tống cổ khỏi trường. Năm 1934, ông cùng với vị tổng thống đầu tiên của Israel sau này là Chaim Weizmann chạy trốn đến Palestine thuộc Anh.
Trải nghiệm bị xua đuổi như những con chó đã khiến Bergmann và Ben-Gurion tìm được sự đồng cảm: Ngoài vũ lực tuyệt đối, trên thế giới này không có gì có thể bảo vệ người Do Thái.
Thế là Ben-Gurion tìm đến Bergmann và nói một câu đầy ẩn ý: “Einstein, Oppenheimer và Teller đều là người Do Thái. Những gì họ làm được cho nước Mỹ, các nhà khoa học Israel cũng có thể làm được cho chính dân tộc mình.”
Bergmann lập tức sục sôi nhiệt huyết, không nói hai lời, nhận lời mời của Ben-Gurion làm Chủ tịch Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Israel (IAEC) mới được thành lập, chuyên trách phát triển nấm.
Để trồng nấm, bước đầu tiên là phải có quặng uranium. Năm 1949, dưới sự chỉ huy của Bergmann, binh lính IDF đã ngày đêm khảo sát địa chất trong hoang mạc Negev cằn cỗi, và cuối cùng thực sự tìm thấy một lượng nhỏ uranium trong các mỏ phosphate.
Nhưng đó mới chỉ giải quyết được vấn đề nguyên liệu cơ bản nhất. Muốn trồng được nấm, trước tiên phải có lò phản ứng.
Tìm lò phản ứng ở đâu? Không thể trông cậy vào người Mỹ, họ chỉ cho một lò phản ứng nhỏ xíu 5 Megawatt, hơn nữa lại giám sát chặt chẽ, Israel không thể chiết xuất plutonium cần thiết cho nấm thông qua quy trình tái xử lý nhiên liệu hn. Con đường Mỹ không thông, buộc phải tìm cách khác.
Bergmann là một cán bộ kỹ thuật, nhưng về hoạch định vĩ mô và hoạt động ngoại giao nấm, ông là một tay mơ. Thế là, nhân vật chính của chúng ta, Shimon Peres, chính thức tỏa sáng.
(2) Thỏa thuận ngầm với Pháp
Năm 1955, Peres ngoài 30 tuổi trở thành Tổng Giám đốc Bộ Quốc phòng Israel. Ben-Gurion giao cho ông một nhiệm vụ: Bằng mọi cách phải kiếm được một lò phản ứng cỡ lớn, và phải đi kèm một nhà máy tái xử lý. Chỉ khi thông qua tái xử lý để chiết xuất plutonium, Israel mới có hy vọng trồng được nấm.
Peres nhìn quanh một vòng, cuối cùng nhìn đến Pháp.
Tại sao lại là Pháp? Vì Pháp lúc bấy giờ đang điên đầu với cuộc chiến tranh giành độc lập của Algeria, mà Tổng thống Ai Cập Nasser lại đang dốc sức viện trợ cho lực lượng vũ trang chống Pháp tại Algeria. Vì vậy, người Pháp hận Nasser thấu xương. Kẻ thù của kẻ thù là bạn, Israel và Pháp lập tức tìm thấy tiếng nói chung.
Năm 1956, khủng hoảng kênh đào Suez bùng nổ. Peres chớp lấy cơ hội, liên tục đi lại giữa Paris và Tel Aviv, xúc tiến một cuộc gặp mật giữa Ben-Gurion, Thủ tướng Pháp Guy Mollet và Bộ trưởng Quốc phòng Maurice Bourgès-Maunoury.
Tại Sèvres, ngoại ô Paris, một thỏa thuận miệng chỉ có giới chóp bu Pháp và Israel biết đã được thiết lập:
Israel sẽ lấy cớ xâm lược Bán đảo Sinai trước.
Sau đó, Pháp và Anh sẽ có lý do can thiệp, đóng giả làm “lực lượng gìn giữ hòa bình” tiến vào Ai Cập để giành quyền kiểm soát kênh đào Suez.
Để đổi lại, Pháp sẽ cung cấp cho Israel một lò phản ứng nước nặng 24 Megawatt cùng một nhà máy tái xử lý để chiết xuất plutonium.
Người Pháp có biết người Israel định làm gì không? Khả năng cao là biết, bởi vì có lò phản ứng chưa chắc đã để trồng nấm, nhưng có thêm nhà máy tái xử lý plutonium thì mục đích rõ ràng là trồng nấm. Nhưng lúc đó trong mắt người Pháp chỉ có kênh đào Suez, họ không quản được nhiều đến thế.
Peres tưởng mình đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng không ngờ ông đã mừng quá sớm!
Israel thực sự đã xâm lược Sinai, Anh và Pháp cũng theo kế hoạch lấy danh nghĩa gìn giữ hòa bình tiến vào Ai Cập. Mọi thứ tưởng chừng suôn sẻ, nhưng vấn đề là: Mỹ và Liên Xô đồng loạt can thiệp!
Mỹ công khai lên án hành vi xâm lược của Anh - Pháp - Israel.
Liên Xô thì tung ra lời đe dọa với Israel: Không đình chiến thì sẽ ăn nấm!
Dưới áp lực khổng lồ từ hai siêu cường, Anh - Pháp - Israel cuối cùng buộc phải chấp nhận nghị quyết ngừng bắn của LHQ và rút khỏi Ai Cập. Như vậy, thỏa thuận bí mật giữa Pháp và Israel bỗng trở nên rắc rối.
Tuy nhiên, Thủ tướng Pháp Guy Mollet là một người khá quân tử, ông nói thẳng với Peres: “Tôi nợ các anh một cây nấm”, đồng thời chỉ thị cho người kế nhiệm là Bourgès-Maunoury tiếp tục thực hiện thỏa thuận này.
Khốn nỗi, Peres chưa kịp đợi người Pháp thực hiện lời hứa thì nội các của Bourgès-Maunoury đã sắp đổ! Tháng 8 năm 1957, Quốc hội Pháp đưa ra đề nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với nội các này.
Peres điếng người. Nếu một đảng phái khác lên nắm quyền, thỏa thuận miệng này sẽ coi như bỏ đi! Bắt buộc phải biến nó thành văn bản giấy trắng mực đen!
(3) 24 giờ sinh tử và bản hợp đồng lùi ngày
Vào ngày 30/9/1957, một ngày trước cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm, Peres đã trải qua 24 giờ kinh tâm động phách nhất trong đời.
Sáng hôm đó, Peres lao vào văn phòng của Giám đốc Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Pháp Pierre Guillaumat, yêu cầu ký tên. Nhưng Guillaumat nói: “Không có chữ ký của Thủ tướng và Ngoại trưởng, tôi có ký thì thỏa thuận cũng chỉ là giấy lộn.”
Peres lập tức phóng xe đến Bộ Ngoại giao, chặn đường Ngoại trưởng Pháp Christian Pineau. Pineau lắc đầu nguầy nguậy: “Không được, người Mỹ sẽ không dung thứ, Liên Xô cũng sẽ đưa nấm cho Ai Cập.”
Peres tung hết trình thuyết khách cả đời, đập bàn nói với Pineau: “Lò phản ứng này là vì mục đích hòa bình! Nếu có biến, chúng tôi sẽ bàn bạc trước với Pháp. Hơn nữa, bây giờ Liên Xô không cho Ai Cập nấm, lẽ nào sau này cũng không cho? Đến lúc đó phương Tây lấy gì để đối trọng?”
Pineau bị thuyết phục và gật đầu đồng ý. Nhưng lúc này, gọi điện cho Thủ tướng Bourgès-Maunoury thế nào cũng không được. Peres nhanh trí ép Pineau đọc chính tả các điều khoản chấp thuận và ký tên, sau đó ông tự cầm văn bản này đi chặn cửa Thủ tướng.
Đợi mãi đến đêm khuya ngày 30/9, Peres cuối cùng cũng chặn được Bourgès-Maunoury đang rối bời. Lúc này, Quốc hội Pháp đã bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với nội các, và cuộc bỏ phiếu đã được thông qua. Nói một cách nghiêm ngặt, bước sang rạng sáng ngày hôm sau, Bourgès-Maunoury không còn là Thủ tướng Pháp nữa, cũng không có quyền ký bất kỳ thỏa thuận cấp quốc gia nào.
Bourgès-Maunoury nhìn chàng thanh niên Do Thái hai mắt đỏ ngầu, cht cũng không buông trước mặt mình, cười khổ, cầm bút ký tên lên thỏa thuận, sau đó ở mục ngày tháng, ông điền: “Ngày 30/9/1957”.
Chính ngày tháng được ghi lùi lại này đã giúp chương trình hn của Israel có được sự ủy quyền hợp pháp chính thức từ Pháp. Chương trình trồng nấm của Israel cứ như vậy bị ép khởi động vào đúng 1 giờ cuối cùng trước khi Bourgès-Maunoury mất chức.
Cuối năm 1957, bản vẽ và kỹ sư người Pháp đã đến. Hàng trăm, hàng ngàn nhân viên kỹ thuật Pháp bí mật tiến vào hoang mạc Negev. Những tòa nhà thi nhau mọc lên giữa vùng sa mạc cằn cỗi, đó chính là Vườn nấm Dimona (nơi mà mấy ngày nay Iran vẫn luôn đe dọa sẽ tấn công).
(4) Kế hoạch Hollywood và cú lừa ngoạn mục
Việc thi công quy mô lớn như vậy không thể giấu giếm được, và nhanh chóng bị người Mỹ phát hiện. CIA nhìn những bức ảnh do máy bay do thám U-2 chụp lại mà gãi đầu gãi tai: Người Israel đang làm cái quái gì giữa sa mạc vậy?
Đại sứ Mỹ tại Israel vội vàng đến chất vấn, các quan chức Israel không hề chớp mắt, mỉm cười trả lời: “À, cái đó ấy hả, đó là một nhà máy dệt.”
Khi quy mô xây dựng ngày càng lớn, cái cớ “nhà máy dệt” không thể bịa tiếp được nữa, người Israel lại đổi giọng: “Đây là một trạm nghiên cứu nông nghiệp.”
Nhưng người Mỹ cũng không phải đồ ngốc. Đến năm 1960, cơ quan tình báo Mỹ đã chắc chắn rằng thứ đó tuyệt đối là một lò phản ứng.
Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là John F. Kennedy, một người kiên quyết chống phổ biến nấm. Ông cho rằng nếu Israel có nấm, Liên Xô chắc chắn sẽ vũ trang điên cuồng cho các nước Ả Rập, và Thế chiến thứ III có thể nổ ra bất cứ lúc nào! Vì vậy, Kennedy quyết định tuyệt đối không để Israel có được nấm.
Suốt hai năm ròng rã, Kennedy gây áp lực khủng khiếp lên Ben-Gurion. Đến tháng 5 năm 1963, khi Hiệp ước cấm thử nấm trong khí quyển, ngoài không gian và dưới nước của Anh - Mỹ - Xô sắp được ký kết, Kennedy cuối cùng cũng mất kiên nhẫn và gửi tối hậu thư cho Ben-Gurion: Israel phải cho phép Mỹ tiến hành “kiểm tra hn triệt để và không hạn chế” đối với Dimona, nếu không, sự ủng hộ của Mỹ dành cho Israel “sẽ bị đe dọa nghiêm trọng”.
Dịch ra nghĩa là: Sẽ cắt toàn bộ viện trợ quân sự cho Israel, để Israel cht chìm trong biển người Ả Rập!
Tối hậu thư này khiến Ben-Gurion cảm thấy áp lực nặng như núi, nên ông đã đưa ra một quyết định: Từ chức và bỏ chạy! Ý là bây giờ tôi không còn là Thủ tướng nữa, có chuyện gì ông cứ tìm Thủ tướng mới mà nói! Tuy nhiên, Kennedy không dễ bị lừa. 10 ngày sau, ông đổi tên người nhận trên tối hậu thư rồi ném lên bàn của tân Thủ tướng Israel, Levi Eshkol.
Eshkol rầu rĩ vô cùng, chẳng lẽ chương trình hn của người Do Thái lại cht yểu như vậy sao?
Lúc này, Peres lại một lần nữa đứng ra: “Tôi có cách!”
Dưới sự chủ trì của Peres, Israel khởi động “Kế hoạch Hollywood”. Cốt lõi của kế hoạch này là cải tạo điên cuồng toàn bộ cơ sở hn để người Mỹ không nhìn ra họ đang phát triển nấm.
Ví dụ, bí mật cốt lõi nhất của cơ sở Dimona là nhà máy tái xử lý dưới lòng đất có khả năng chiết xuất plutonium cấp độ vũ khí. Để giấu nơi này, Peres ra lệnh bịt kín lối vào thang máy xuống tầng hầm bằng gạch, trát xi măng, sơn cùng màu để ngụy trang thành một bức tường không chút tì vết.
Nhưng thế vẫn chưa đủ, nếu dữ liệu ở phòng điều khiển trên mặt đất quá chân thực, nó cũng sẽ để lộ công suất thực tế của lò phản ứng. Thế là người Israel xây luôn một phòng điều khiển giả.
Cựu điệp viên Mossad, Rafi Eitan, từng nhớ lại “Chiến dịch Hollywood” như thế này: “Tại Dimona, một trung tâm điều khiển giả được xây đè lên trung tâm điều khiển thật, trang bị các bảng điều khiển giả và đồng hồ đo máy tính, khiến người ta lầm tưởng nó đang đo công suất của một lò phản ứng dùng để tưới tiêu, nhằm biến Negev thành một đồng cỏ xanh tươi.”
Để làm cho một số khu vực thực sự bị bỏ hoang trông có vẻ tồi tàn một cách tự nhiên, người Israel thậm chí còn rắc phân chim vào các góc của cơ sở, tạo ra cảm giác thê lương kiểu “nơi này đã bị bỏ hoang từ lâu”.
Cứ như vậy, người Mỹ bị lừa bởi những thông số ngụy trang được tính toán kỹ lưỡng. Sau khi kiểm tra, họ báo cáo với chính phủ Mỹ: Dimona không có cơ sở hạ tầng để chế tạo nấm, nghiên cứu hn của Israel là vì mục đích hòa bình.
Dù vậy, điều này vẫn không dập tắt hoàn toàn sự hoài nghi của Kennedy. Theo kế hoạch của ông, việc kiểm tra như vậy cần được tiến hành nửa năm một lần và báo cáo trực tiếp cho Tổng thống.
Và rồi, vào tháng 11/1963, Kennedy bị ám sát.
Cái cht của Kennedy có liên quan đến Israel hay không? Không ai biết, nhưng tóm lại, sau khi Kennedy cht, không còn ai có thể cản bước chương trình hn của Israel nữa.
(5) Chiến tranh Sáu Ngày và “Lựa chọn Samson”
Tháng 5/1967, trước thềm Chiến tranh Trung Đông lần thứ 3 (Chiến tranh Sáu Ngày), mây đen vần vũ, và nấm của Israel chỉ còn cách vạch đích một bước chân.
Lúc đó, liên quân Ả Rập có 40 vạn quân, trong khi quân đội Israel chỉ có hơn chục vạn. Sự chênh lệch lực lượng khiến Israel đã chuẩn bị sẵn tinh thần cho những thương vong khổng lồ, thậm chí họ đã bắt đầu đào sẵn các hố chôn tập thể.
Để phòng hờ bất trắc, Thủ tướng Eshkol đã gọi Peres (lúc này đã là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) đến và ban hành một mệnh lệnh: Khởi động “Lựa chọn Samson”!
Samson là một người hùng của Israel cổ đại trong Kinh thánh. Ông bị kẻ thù chọc mù mắt, chịu đủ mọi tủi nhục. Trong khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, ông bộc phát sức mạnh thần thánh, xô đổ các cột trụ khổng lồ của đền thờ, đồng quy vu tận cùng ba ngàn kẻ thù.
Logic của Eshkol là: “Nếu chúng ta không sống nổi, thì tất cả cùng cht.”
Nhận lệnh, Peres lập tức quay lại cơ sở hn và bắt đầu ráp nấm. Quả nấm này cực kỳ xấu xí, đến cái vỏ cũng không có. Bề mặt chi chít kíp nổ, những bó dây điện phức tạp và đủ loại ống điện tử được hàn tạm bợ, chìa ra ngoài như những chiếc chân lông lá của loài nhện. Vì vậy, Peres đặt cho nó mật danh là “Nhện” (Spider).
Cứ như vậy, trước khi chiến tranh bùng nổ, Israel đã lắp ráp xong hai quả “Nhện”.
Nhưng vấn đề là, Israel “có đạn mà không có súng”. Có nấm rồi, nhưng không có phương tiện nào để ném nó lên đầu người Ả Rập. Chẳng nhẽ lại chất nấm lên xe tải rồi lái đâm thẳng vào trận địa của người Ả Rập? Israel quả thật đã cân nhắc cách này, thậm chí còn chọn sẵn cả tài xế. Quả không hổ danh là “người Nhật của Trung Đông”, ngay cả tư duy tấn công kiểu Kamikaze cũng y hệt.
Nghĩ đi nghĩ lại, Peres đề xuất “Kế hoạch Abu Agheila”. Nói đơn giản là: Ném bom sa mạc.
Nếu phòng tuyến thông thường của Israel sụp đổ, họ sẽ cử trực thăng chở “Nhện” đến một ngọn đồi trên Bán đảo Sinai, nơi chỉ cách căn cứ quân sự “Abu Agheila” của Ai Cập khoảng hơn mười dặm. Khi “Nhện” phát nổ, hàng chục ngàn quân Ai Cập cách đó mười dặm sẽ hoàn toàn bị chấn động bởi đám mây hình nấm cao vạn mét này. Họ tin rằng cảnh tượng này sẽ khiến người Ai Cập phải bình tĩnh lại.
Kế hoạch này có hai lợi ích:
• Không gây thương vong lớn cho dân thường, tránh kích động phản ứng dữ dội từ Mỹ và Liên Xô.
• Gửi một thông điệp đến toàn thế giới Ả Rập: Israel có vũ khí tối thượng trong tay, nếu xe tăng của các người tiến thêm một bước, chúng tôi sẽ ném nấm!
Kế hoạch rất hoàn hảo, nhưng thực tế thì sao? Sau khi chiến tranh nổ ra, sự yếu kém của người Ả Rập đã vượt xa dự liệu của Peres.
Bắt đầu từ ngày 5/6, lực lượng thiết giáp Israel đi vào trận địa như chốn không người, nghiền nát quân đội Ai Cập ở Bán đảo Sinai, đánh chiếm Cao nguyên Golan, chiếm trọn Bờ Tây sông Jordan và Đông Jerusalem.
Chỉ trong sáu ngày, Israel không những không mất nước mà còn mở rộng lãnh thổ gấp ba lần.
Dù hai quả “Nhện” đã vào thế sẵn sàng không được dùng đến, nhưng từ khoảnh khắc chúng được lắp ráp hoàn tất, Israel đã chính thức bước qua ngưỡng cửa hn và trở thành một quốc gia hn. Peres trăn trở nửa đời người, cuối cùng cũng mang được nấm về cho người Do Thái.
Năm 1984, Peres trở thành Thủ tướng Israel.
Năm 1994, Peres nhận giải Nobel Hòa bình.
02
Liên minh bóng tối và Lực lượng răn đe hn
Mặc dù Israel đã vượt qua ngưỡng cửa hn, nhưng đó mới chỉ là vượt qua mà thôi, còn khoảng cách rất xa mới có thể thiết lập được một lực lượng răn đe hn thực sự. Tóm gọn lại nguyên nhân là: Thiếu nguyên liệu hn, thiếu bãi thử nghiệm và thiếu phương tiện mang phóng (tên lả).
(1) Vấn đề Nguyên liệu: Bắt tay với Nam Phi
Lò phản ứng cần một lượng uranium khổng lồ, mà chút quặng nghèo đào được ở sa mạc Negev thì chẳng bõ bèn gì. Biết kiếm đâu ra uranium làm giàu cao và Bánh vàng (quặng tinh uranium) bây giờ?
Dù cơ quan tình báo Israel LAKAM đã dàn xếp các sự kiện như “Vụ việc Apollo” và “Vụ tàu Scheersberg A” để buôn lậu một lô bánh vàng từ Mỹ và Ý, nhưng đó vẫn chỉ là muối bỏ bể.
Đúng lúc này, Nam Phi đã chìa tay ra với Israel.
Vào thập niên 70, có hai quốc gia vô cùng tai tiếng trên thế giới, bị gọi là “những kẻ bị quốc tế ruồng bỏ”:
• Israel: Vừa đánh xong cuộc Chiến tranh Trung Đông lần thứ 4, dưới tác động của cuộc khủng hoảng dầu mỏ, Israel rơi vào tình trạng cô lập ngoại giao chưa từng có.
• Nam Phi: Đang thi hành chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid, bị cộng đồng quốc tế trừng phạt kinh tế và cấm vận vũ khí.
Hai “đứa trẻ mồ côi” bị thế giới ruồng bỏ đã tìm thấy nhau. Trùng hợp thay, cả hai nước đều đang phát triển nấm và có thể bổ sung cho nhau một cách hoàn hảo:
• Israel có lò phản ứng, có bản vẽ thiết kế nấm, có thể chiết xuất plutonium cấp độ vũ khí, nhưng thiếu nguyên liệu hn.
• Nam Phi thì ngược lại, đất đai rộng lớn, dưới lòng đất chứa trữ lượng quặng uranium khổng lồ, nhưng công nghệ hn của họ lại rất kém.
Thế là, một vụ giao dịch hn khét tiếng đã mở màn.
Vào ngày 31/3/1975, Peres bí mật gặp Bộ trưởng Quốc phòng Nam Phi (sau này là Thủ tướng Nam Phi P.W. Botha). Hai bên đã ký một thỏa thuận bí mật: Nam Phi sẽ cung cấp cho Israel tới 600 tấn bánh vàng; đổi lại, Israel cung cấp cho Nam Phi một lượng Tritium (vật liệu nhiệt hạch dùng để chế tạo bom H hoặc bom phân hạch tăng cường), đồng thời cử một lượng lớn các chuyên gia thiết kế nấm hàng đầu đến chỉ dẫn tận tay người Nam Phi cách chế tạo nấm.
Đến cuối năm 1976, nấm của Nam Phi cơ bản đã hoàn thành, còn Israel nhờ nguồn bánh vàng dồi dào cũng đã nâng số lượng đầu đạn hn của mình lên con số 50.
(2) “Sự kiện Vela” và Cuộc thử nghiệm hn
Nấm đã chế tạo xong, nhưng nếu chưa qua thử nghiệm, ai biết được nó có nổ hay không? Bom không nổ thì có tác dụng gì?
Nhưng vấn đề lại nảy sinh: Thử nghiệm ở đâu? Israel chắc chắn là không được rồi, đất đai bé tí tẹo, thử nghiệm khác nào tự nổ tung nhà mình.
Lúc này, người Nam Phi hào sảng chỉ vào điểm cực nam của bản đồ: “Ra sân sau nhà chúng tôi đi! Nơi giao nhau giữa Nam Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. Ở đó quanh năm giông gió bão bùng, chim không thèm ẻ, tuyệt đối là bãi thử nghiệm kín đáo nhất trên Trái Đất.”
Thế là, chiến dịch thử nghiệm hn của Israel và Nam Phi mang tên “Chiến dịch Phoenix” bắt đầu.
Ngày 22/9/1979, gần quần đảo Prince Edward của Nam Phi, một luồng ánh sáng cực kỳ mãnh liệt bất ngờ bùng lên. Vụ thử nghiệm hn đã thành công!
Nhưng ở cách đó hàng ngàn km ngoài không gian, một vệ tinh của quân đội Mỹ mang bí danh Vela 6911 đã nhạy bén chụp được luồng ánh sáng này. Vela 6911 là vệ tinh cảnh báo sớm của Mỹ, chuyên chụp lại đặc điểm “chớp nháy kép” (double flash) đặc trưng của các vụ thử hn, đặc điểm độc nhất vô nhị chỉ có ở các vụ nổ hn.
Dữ liệu của Vela được truyền về Washington, chính quyền của Tổng thống Carter ngay lập tức tá hỏa. Sau khi CIA và Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân Mỹ (NRL) phân tích, họ kết luận vụ thử hn này do Israel và Nam Phi thực hiện.
Đối với Carter, đây hoàn toàn không phải tin tốt. Lúc đó, Carter đang phải đối mặt với áp lực tái đắc cử rất lớn. Nếu chính phủ Mỹ công khai thừa nhận Israel vi phạm các hiệp ước quốc tế và tiến hành thử nghiệm hn, thì theo “Tu chính án Symington” và “Đạo luật chống phổ biến nấm” của Mỹ lúc bấy giờ, Carter sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc lập tức cắt đứt mọi viện trợ kinh tế và quân sự cho Israel. Nhưng nếu làm vậy, thế lực tập đoàn Do Thái hùng mạnh trong nước Mỹ chắc chắn sẽ “nuốt sống” Carter, giấc mộng tái đắc cử coi như tan tành. Hơn nữa, nếu Liên Xô nắm được thóp này, họ cũng sẽ mắng Mỹ té tát tại Liên Hợp Quốc.
Nghĩ đi nghĩ lại, Carter đưa ra một quyết định: Đi dọn dẹp hậu quả giúp Israel.
Nhà Trắng nhanh chóng thành lập một cái gọi là “Hội đồng khoa học độc lập” do giáo sư Jack Ruina của MIT đứng đầu, yêu cầu họ bất kể dùng lý thuyết vật lý nào, bắt buộc phải “giải thích” vụ nổ hn này thành một hiện tượng tự nhiên.
Vài tháng sau, hội đồng Ruina tung ra một bản báo cáo đầy vẻ nghiêm túc. Kết luận là: Hiện tượng “chớp nháy kép” mà vệ tinh phát hiện thực chất là do một hạt “vi thiên thạch” cực nhỏ tình cờ va vào ống kính của vệ tinh Vela, các mảnh vỡ từ vụ va chạm này phản chiếu ánh sáng mặt trời, vô tình tạo ra một tín hiệu nhấp nháy kép giả “tương tự như một vụ nổ hn” trên cảm biến.
Nói thế nào nhỉ? Bất kể thế giới có tin hay không, tóm lại là nước Mỹ tin.
Cứ như vậy, nghi thức “rút gươm” quan trọng nhất trong chương trình hn của Israel đã bị Mỹ che đậy hoàn toàn.
(3) Chế tạo phương tiện mang phóng và Trớ trêu lịch sử với Iran
Nhưng người Mỹ không ngờ rằng, Israel không thỏa mãn với việc chỉ có nấm. Thứ họ muốn là tên lả hn. Bài học “có đạn mà không có súng” năm 1967 đã kích thích sâu sắc người Israel, họ không muốn lại phải lái xe tải chở nấm đâm vào quân Ả Rập nữa, họ cần tên lả đạn đạo để ném nấm lên đầu kẻ thù!
Nhưng người Mỹ chắc chắn sẽ không cung cấp tên lả đạn đạo, Liên Xô và Trung Quốc lại càng không. Vì vậy, Israel chỉ còn cách chuyển hướng sang người anh em tốt là nước Pháp.
Lần này, đối tác mà Peres chọn là hãng Dassault. Đúng vậy, chính là nhà sản xuất máy bay tiêm kích Rafale. Tại sao lại chọn Dassault? Rất đơn giản, ông chủ của hãng, Marcel Dassault, là một người Do Thái đã sống sót trở về từ trại tập trung của Đức Quốc xã. Jews help Jews.
Thế là hai bên ký kết hợp đồng “Chiến dịch Jericho” tại Tel Aviv. Hãng Dassault chịu trách nhiệm nghiên cứu phát triển cho Israel một loại tên lả đạn đạo tầm trung có tầm bắn 500 km, mã hiệu MD-620. Người Pháp làm việc rất hiệu quả, tên lả MD-620 nhanh chóng được thiết kế xong và bắn thử thành công.
Tuy nhiên, trời có lúc nắng lúc mưa, chính trường Pháp bỗng nhiên thay đổi. Để duy trì tầm ảnh hưởng tại thế giới Ả Rập, hãng Dassault đã giữ lại những tên lả và bản vẽ đã hoàn thành ở Pháp, không giao cho Israel nữa.
Người Israel giận sôi máu nhưng cũng chẳng làm gì được, đành phải cử tình báo Mossad ra tay một lần nữa: Nếu ông không đưa, tôi sẽ tự đi ăn cắp!
Không biết có phải Dassault đã nhắm mắt làm ngơ hay không, nhưng tóm lại là Israel đã lấy được trọn vẹn toàn bộ tài liệu về tên lả MD-620 một cách trót lọt, và sao chép thành công phiên bản tên lả “Jericho-1”.
Tuy nhiên, Jericho-1 chỉ có tầm bắn 500 km, không đủ để bao phủ Trung Đông. Israel muốn chế tạo một loại tên lả tầm trung có tầm bắn từ 1500 km trở lên. Nhưng ngặt nỗi, vì Israel vừa kết thúc cuộc Chiến tranh Trung Đông lần thứ 4, đất nước nghèo nàn, số tiền ít ỏi đều đổ dồn vào nấm nên rất khó để có đủ kinh phí tài trợ cho tên lả tầm trung. Lúc này, Peres nảy ra một ý định và nhắm vào Iran.
Bạn không nhìn nhầm đâu. Mặc dù hiện tại Israel và Iran đang đánh nhau nảy lửa, nhưng vào những năm 70, quan hệ giữa hai nước khá tốt đẹp.
Quốc vương Iran lúc bấy giờ là Pahlavi. Trong lòng ông luôn ấp ủ một giấc mộng phục hưng Đế quốc Ba Tư hoành tráng. Ông muốn đưa Iran trở thành bá chủ không thể tranh cãi của toàn bộ Vịnh Ba Tư, thậm chí là cả Trung Đông. Và cái gai trong mắt lớn nhất của ông chính là Đảng Ba'ath của Ả Rập, tiêu biểu là Nasser của Ai Cập và Saddam Hussein của Iraq.
“Kẻ thù của kẻ thù là bạn”, cứ như vậy, Israel và Iran đã bí mật đạt được một thỏa thuận có tên mã là “Công trình Hoa tươi” (Project Flower). Thỏa thuận này chủ yếu gồm 3 nội dung:
• Israel đào tạo các kỹ sư hn cho Iran, hai nước cùng phát triển nấm.
• Hai nước cùng phát triển một loại tên lả hành trình có tầm bắn khoảng 200 km.
• (Quan trọng nhất): Israel sẽ cung cấp cho Iran công nghệ tên lả Jericho-1, và dựa trên nền tảng đó, hỗ trợ Iran phát triển một loại tên lả có khả năng mang đầu đạn hn, tầm bắn lên tới 1500 km.
Về phần Iran, họ chủ yếu chịu trách nhiệm chi tiền. Đợt vốn đầu tiên là 1 tỷ USD, phần sau thanh toán bằng dầu thô (lúc đó đang có khủng hoảng dầu mỏ nên giá dầu rất đắt).
Người Iran cứ tưởng Israel đang phát triển tên lả cho mình, nhưng thực tế là người Israel đang lợi dụng số tiền khổng lồ của Iran để hoàn thành việc phát triển tên lả hn “Jericho” thế hệ mới cho chính mình. Họ hoàn toàn không có ý định trao công nghệ cốt lõi mới nhất cho Iran, mà chỉ định đưa một phiên bản tên lả “hàng độ” cắt giảm tính năng.
Thế nhưng người tính không bằng trời tính, ngay lúc người Iran đang hí hửng chờ tên lả, thì không ngờ Cách mạng Hồi giáo bùng nổ. Việc đầu tiên ông Khomeini làm sau khi lên nắm quyền là tuyên bố Israel là “Tiểu Satan” (Đại Satan là Mỹ) và cắt đứt mọi liên lạc với Israel.
Lúc này, trong một căn cứ bí mật ở Iran, vẫn còn kẹt lại một lượng lớn kỹ sư tên lả và đặc vụ Mossad của Israel. Phải làm sao đây?
May mắn là Israel đã chuẩn bị sẵn các phương án dự phòng. Họ một mặt dùng hộ chiếu giả và các tuyến đường bay bí mật để sơ tán nhân sự, mặt khác điên cuồng tiêu hủy tài liệu. Những bản vẽ, tài liệu thiết kế và dữ liệu tuyệt mật cốt lõi nhất của hệ thống vũ khí được nhét vào những chiếc túi thư ngoại giao nặng trĩu, có người ôm khư khư, và bước lên chuyến bay cuối cùng tháo chạy khỏi Tehran.
“Công trình Hoa tươi” đã kết thúc một cách đầy kịch tính như thế.
Cuối cùng tính sổ lại, người Israel đã ôm trọn bản vẽ và công nghệ chuồn êm, đồng thời “nuốt trọn” 280 triệu USD mà Iran đã trả trước đó mà không trả lại một đồng nào. Còn thứ Iran nhận được chỉ là một nhà máy tên lả đang xây dở.
Có vẻ như Iran đã lỗ nặng. Nhưng điều hài hước của lịch sử là câu chuyện này vẫn chưa kết thúc.
Chính những thiết bị lắp ráp tên lả, một phần bản vẽ thiết kế sơ khai chưa kịp tiêu hủy mà Israel bỏ lại ở Iran, cùng với đội ngũ kỹ sư tên lả mà họ đào tạo cho Iran trong thời gian hợp tác, lại trở thành nền tảng cho chương trình tên lả đạn đạo của Iran sau này. Nói cách khác, những tên lả Khorramshahr-4, Shahab-3, Emad mà bây giờ đang ném vào Israel, ít nhiều đều mang một chút “huyết thống” của Israel. Không biết những người Israel đang bị ăn tên lả lúc này khi biết được nguồn gốc của chúng sẽ có cảm nghĩ ra sao.
Dù sao đi nữa, mục đích của Israel cũng đã đạt được. Bằng tiền của Iran, họ đã tự làm ra tên lả Jericho-2 có tầm bắn 1500 km, bao phủ hầu hết các quốc gia Trung Đông, giúp Israel thiết lập được một lực lượng răn đe hn chiến lược sơ bộ.
Bước sang thế kỷ 21, Israel lại tiếp tục chế tạo ra tên lả tầm xa Jericho-3 có thể vươn tới toàn bộ lục địa Á Âu, đang phát triển tên lả đạn đạo xuyên lục địa Jericho-4, cùng với tên lả hn phóng từ tàu ngầm “Popeye Turbo”. Kết hợp với các máy bay tiêm kích F-15I và F-35I có khả năng thả nấm, Israel đã thiết lập một hệ thống răn đe “Bộ ba hn”, trình độ tiệm cận với 5 nước thường trực LHQ, và thành thục hơn Ấn Độ, Pakistan rất nhiều.
Giấc mộng trở thành cường quốc hn của người Do Thái đã hoàn thành một cách viên mãn.
Tất nhiên, đối với việc sở hữu nấm, Israel chưa bao giờ thừa nhận. Đây chính là chính sách “mơ hồ hn” mà họ luôn theo đuổi.
Bạn hỏi họ có nấm không? Họ không thừa nhận, nhưng cũng không phủ nhận. Rốt cuộc là có hay không? Bạn cứ đoán xem?
Sự mơ hồ này không phải vì sĩ diện, mà là để tối đa hóa lợi ích. Chỉ cần không thừa nhận, tất cả các quốc gia Ả Rập đều có một lý do để tự dối lòng: “Vì người Do Thái không nói là họ có, nên chúng ta cũng không cần phải gấp gáp đi chế tạo.” Người Mỹ cũng có thể tiếp tục giả câm giả điếc, không ngừng tuồn những chiếc máy bay chiến đấu và bom đạn tối tân nhất cho Israel.
Nhưng sức mạnh răn đe hn đó lại tồn tại một cách chân thực, bất kỳ một quốc gia Ả Rập nào khi đưa ra quyết định đều không thể không cân nhắc đến điều này. Đó chính là thanh kiếm tàng hình của Israel: bạn không nhìn thấy nó, nhưng lúc nào cũng có thể cảm nhận được luồng kiếm khí lạnh lẽo mà nó phát ra.
(04) Nỗi ám ảnh của Israel
Đến đây, có lẽ chúng ta đã hiểu tại sao Israel lại có sự ám ảnh lớn đến vậy đối với chương trình hn của Iran.
Bởi vì Israel hiểu rõ hơn ai hết, mọi sự nhẫn nhịn, lừa dối và ngụy trang của một quốc gia đều là vì nấm. Ngay cả bản thân họ, chẳng phải cũng đã bất chấp thủ đoạn, không cần thể diện để có được nấm đó sao?
Và cũng chính vì bản thân họ từng là những kẻ nói dối và trộm cắp cao tay nhất trong trò chơi này, nên họ tuyệt đối không tin vào bất kỳ lời hứa hẹn nào. Dù cho người Iran có thề non hẹn biển rằng các máy ly tâm của họ chỉ dùng cho “mục đích hòa bình”, Israel cũng tuyệt đối không tin. Toàn là cáo già cả, ai chả biết ai là ai cơ chứ? Những chiêu trò này đều là thứ Israel đã chơi chán rồi!
Trong nhận thức của người Israel, chỉ có một quy luật sắt đá duy nhất, đó là “Học thuyết Begin”: Israel phải độc quyền bá chủ hn ở Trung Đông. Bất kỳ quốc gia nào cố gắng lấy được nấm đều phải bị xóa sổ về mặt vật lý từ trong trứng nước.
Sự theo đuổi độc quyền hn này đã hóa thành bản năng của bộ máy nhà nước Israel. Vì vậy:
• Năm 1981, Israel ném bom lò phản ứng Osirak của Saddam Hussein.
• Năm 2007, Israel ném bom cơ sở hn Al Kibar của Syria.
• Năm 2009, Israel dùng virus “Stuxnet” làm tê liệt các máy ly tâm của Iran tại Natanz.
• Năm 2020, Israel dùng súng máy điều khiển từ xa ám sát nhà vật lý hn hàng đầu của Iran là Fakhrizadeh.
• Và năm 2026, Israel trực tiếp ném bom z Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei.
Trong mắt Israel, không có luật pháp quốc tế nào cả, cũng không có chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm nào hết. Quyền độc quyền hn đã ngấm vào xương tủy người Do Thái, tuyệt đối không cho phép người khác nhúng tay vào nấm. Tất cả mọi nguy cơ hn xung quanh Israel phải bị xóa sổ. Nếu một mình Israel không làm được, thì hãy kéo Mỹ vào cùng làm!
(Nguồn: Lukewen Studio)