Cụ thể, đối với các tuyến đường sắt đô thị và các tuyến đường sắt mới, trong giai đoạn đầu (từ năm 2029 đến năm 2031), Tổ hợp Công nghiệp đường sắt sẽ lắp ráp đầu máy điện, đầu máy năng lượng sạch; sản xuất toa xe khách cho đường sắt tốc độ dưới 160 km/h; lắp ráp các đoàn tàu điện động lực phân tán (EMU) cho đường sắt đô thị; sản xuất toa xe hàng tốc độ 120 km/h cho tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.
Trong giai đoạn tiếp theo (từ năm 2032 đến năm 2035), Tổ hợp đặt mục tiêu làm chủ sản xuất đối với toa xe khách, toa xe hàng tốc độ dưới 160 km/h; lắp ráp đầu máy điện, nâng dần tỷ lệ nội địa hóa lên 30%; sản xuất các vật tư, phụ tùng phục vụ sửa chữa phương tiện, phụ kiện kết cấu hạ tầng, thông tin tín hiệu…
Đối với tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, Tổ hợp sẽ tham gia lắp ráp các đoàn tàu EMU theo hợp đồng mua sắm và chuyển giao công nghệ. Đến năm 2035, làm chủ công nghệ lắp ráp và nâng dần tỷ lệ nội địa hóa lên 20%.
“Đích đến cuối cùng là đến giai đoạn 2040-2050, Tổ hợp phấn đấu làm chủ nội địa hóa đạt 80% đối với đoàn tàu EMU và sản xuất các vật tư, phụ tùng phục vụ khai thác, vận hành tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam”, lãnh đạo Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cho biết.