Nếu mà đặt vấn đề như vậy thì thôi, chấp nhận khói bụi, chấp nhận ô nhiễm, chấp nhận bất tiện, nguy hiểm... Chứ chính sách thì kiểu gì chả có đối tượng thiệt thòi? Cũng như mấy cửa hàng sắt xây dựng đấy, đang kêu ầm lên là ko cho xe lôi, xe kéo, ko cho chở xe máy đi trong phố thì mua vài hộp thép dài 6m, vài tấm tôn... cũng phải thuê ô tô à? Vậy thì phải làm sao? Tiếp tục cho họ đi nhong nhong ngoài đường rồi dễ gây tai nạn hay là dẹp bỏ?
Những năm 98 - 2k là năm bùng nổ các làng nghề. Rồi sau hơn chục năm làng nghề nào cũng ô nhiễm hết cả. Chi phí để làm sạch môi trường sau đó là rất lớn. Các chính sách ép buộc môi trường trong sản xuất phải được đưa ra, nó cũng ảnh hưởng đến nhiều DN nhỏ, làng nghề, nhưng vẫn phải thực hiện chứ.
Trước đây, xe máy vừa là tài sản vừa là phương tiện, chỉ những người khá giả mới có, thì nó ko ảnh hưởng nhiều. Nhưng tự khi chấp nhận xe Tàu, chất lượng kém đển thuận tiên cho mọi người đi lại, xe máy chỉ còn là phương tiện và ai cũng có thể mua, nó mới trở nên đông đúc, chật chội, ùn tắc. Dù muốn hay ko thì cũng phải giải bài toán xe máy, xe kém chất lượng, ko còn đủ chất lượng... và cũng sẽ có nhiều người bị ảnh hưởng.
Có nhiều bài toán cần phải giải để tiến tới văn minh đô thị, và một số sẽ bị ảnh hưởng. Cũng nên bỏ qua mấy câu kiểu "vì nghèo nên..."; "vì nhỏ nên..." được rồi, ko thì nó cứ kéo lùi xã hội mãi thôi.
Em copy thêm về hầu cụ:
Chi phí tuân thủ tăng khi xã hội thực ra chưa phát triển mấy khiến con đường phát triển của DN vừa và nhỏ của VN không có tương lai. Viễn cảnh các đại tư bản chiếm lĩnh mọi ngả đường kinh doanh tự chủ sẽ dẫn tới một xã hội như thế nào? Thằng bạn em có hiểu biết về vấn đề này nên em nhờ nó viết cho một bài.
****
VÌ SAO XÃ HỘI HẠNH PHÚC KHI SME CÒN PHỒN VINH –
BÀI HỌC DÀNH CHO VIỆT NAM
Nhiều khảo sát xã hội học cho thấy người Mỹ cảm nhận mức độ hạnh phúc cao nhất trong giai đoạn khoảng 1980–2000. Điều đáng chú ý là đó không phải lúc nước Mỹ công bằng nhất hay GDP tăng nhanh nhất, mà là lúc SME (doanh nghiệp nhỏ và vừa) gánh vác phần lớn đời sống kinh tế – xã hội.
Khi SME còn phồn vinh, xã hội có những cảm giác rất cụ thể: người đi làm tin rằng vài năm tích lũy có thể mua nhà; nếu không hợp làm thuê thì có thể mở tiệm, xưởng, doanh nghiệp nhỏ; nếu thất bại vẫn có cơ hội làm lại. SME không chỉ tạo việc làm, mà tạo quyền lựa chọn, tự chủ, và nhân phẩm lao động. Hạnh phúc xã hội không đến từ giàu sang, mà từ cảm giác: cuộc đời mình không hoàn toàn nằm trong tay người khác.
Trong giai đoạn đó, SME Mỹ chiếm hơn một nửa việc làm khu vực tư nhân. Ngân hàng địa phương cho vay dựa trên uy tín cá nhân. Luật pháp và chi phí tuân thủ đủ đơn giản để người bình thường hiểu và tuân theo. Xã hội tồn tại một “tầng đệm” dày giữa cá nhân và nhà nước, giữa người dân và các tập đoàn lớn. Tầng đệm ấy chính là SME.
Từ đầu những năm 2000, tầng đệm này bắt đầu sụp. Luật ngày càng dày và phức tạp; chi phí môi trường, kế toán, bảo hiểm, lao động tăng nhanh; tài chính hóa khiến vốn chỉ chảy vào dự án lớn; Big Tech và đại bán lẻ hút cạn biên lợi nhuận của doanh nghiệp nhỏ. Luật sinh ra để quản lý đại tư bản, nhưng người chết trước lại là SME – vì chỉ đại tư bản đủ tiền, đủ bộ máy để “tuân thủ”.
Hệ quả không phải là Mỹ nghèo đi. Ngược lại, Mỹ rất giàu. Nhưng giàu cực hạn. Một bên là thiểu số sở hữu tài sản và cổ phần khổng lồ; bên kia là đa số làm thuê cả đời, không mua nổi nhà, không còn con đường làm chủ. Chênh lệch giàu nghèo trở thành trải nghiệm sống hằng ngày. Xã hội tăng trưởng nhưng mất hạnh phúc và niềm tin.
Không phải quốc gia phát triển nào cũng chấp nhận con đường đó.
Đức chủ động bảo vệ SME (Mittelstand) bằng chính sách có chủ đích: luật và tiêu chuẩn phân tầng theo quy mô, ngân hàng địa phương gắn bó dài hạn với doanh nghiệp, chấp nhận tăng trưởng chậm hơn để đổi lấy ổn định xã hội. SME Đức không bùng nổ nhanh, nhưng sống rất lâu và tạo tầng lớp trung lưu bền vững.
Nhật Bản không để SME cạnh tranh trực diện với tập đoàn lớn. Doanh nghiệp nhỏ được gắn vào chuỗi sản xuất, được bảo vệ khỏi bị ép giá đến chết. Triết lý không phải tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn, mà là tồn tại lâu dài.
Canada và Úc thiết kế thuế, kế toán, môi trường theo doanh thu và số lao động, không bắt doanh nghiệp nhỏ gánh cùng chi phí với đại tập đoàn. Mục tiêu không phải “quản cho chặt”, mà là “để doanh nghiệp nhỏ sống được”.
Điểm chung của các mô hình này rất rõ: coi SME là hạ tầng xã hội, chứ không chỉ là đối tượng quản lý hay nguồn thu thuế.
Việt Nam giai đoạn 2000–2020 từng có một khoảnh khắc rất giống Mỹ trước đây. SME bùng nổ, người dân tin rằng làm ăn riêng là con đường đi lên thực sự. Nhưng đến 2024, chi phí tuân thủ môi trường, xây dựng, kế toán, thuế, PCCC… tăng nhanh và dày đặc; SME bắt đầu thoái trào. Nếu xu hướng này tiếp diễn, nguy cơ rất rõ: kinh tế tập trung vào một nhúm đại doanh nghiệp; xã hội tăng trưởng nhưng bất an; giàu nghèo phân hóa cực hạn.
Bài học từ Mỹ và các nước khác không hề trừu tượng: xã hội không mất hạnh phúc vì có người rất giàu, mà vì người bình thường không còn con đường để làm chủ. Muốn tránh vết xe đổ đó, luật và chi phí tuân thủ phải phân tầng theo quy mô; giảm phạt – tăng hướng dẫn; coi sự tồn tại bền vững của SME là mục tiêu xã hội. Nếu không, đại tư bản sẽ thắng – và xã hội thì thua.