[Funland] Dịch sách siêu cổ: Bổ An Nam dị lược đồ ký

BinhWalker

Xe tăng
Biển số
OF-753624
Ngày cấp bằng
20/12/20
Số km
1,636
Động cơ
804,312 Mã lực
Đúng rồi cụ, em đang dịch nốt phần Ai Lao, hóa ra lịch sử Lào cũng lâu đời ra phết, nhưng phải nói, ngoài người Việt ra, các chủng khác cứ bị dân Hán nuốt dần, và, đúng là biên giới của người Hán không lớn như bây giờ cụ nhỉ?
Hóng phần Ai Lao của cụ, giống như đi du lịch mùa covid :) mình âm lịch về Ai Lao.

Có vẻ như Hán cũng mãi sau này mới lấn về phía Tây như Việt Nam lấn lên núi. Mãi gần đây mới ngoạm được mấy miếng tướng phía tây.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Tây Nam Di 西南夷
[ Hồ Nam và Quý Châu đến Côn Minh và miền nam Vân Nam, 1 phần Giao Chỉ]


Người Man Di vùng Tây Nam, ở về phía ngoài Thục quận 蜀郡. Có nước Dạ Lang夜郎國 (một vương quốc cổ bí ẩn, cho đến nay vẫn chưa xác định chính xác nó ở đâu) [xét: Sử Ký, năm Kiến Nguyên 建元 thứ sáu [niên hiệu của Hán Vũ đế 漢武帝 135 TCN], quan Đại hành là Vương Khôi đánh nước Đông Việt 東越, người nước Đông Việt giết vua của mình tên là Sĩnh để báo tin. Khôi nhân oai quân sai quan Lệnh huyện Bà Dương 鄱阳 là Đường Mông 唐蒙 đến báo cho vua nước Nam Việt 南越 [Nam Việt của Triệu Đà] biết. Vua nước Nam Việt [ Triệu Đà] mời Mông ăn món tương củ [ được làm từ một loại quả giống quả dâu có màu đen]. Mông hỏi [ món này] đến từ đâu, [ Triệu Đà] nói:

- Theo đường sông Tang Kha 桑柯 ở phía tây bắc.

- Sông Tang Kha rộng mấy dặm?

- Vào thời Khoảnh Tương Vương [ Sở Khoảnh Tương vương 楚頃襄王, -263 TCN, trị vì 298 TCN - 263 TCN, hay còn gọi là Sở Tương vương 楚襄王, tên thật là Hùng Hoành 熊橫 hay Mị Hoành 芈橫, là vị vua thứ 41 của nước Sở - chư hầu nhà Chu] nước Sở sai Trang Cược đánh nước Dạ Lang, đem quân đến nước Thư Lan 舒兰, buộc thuyền ở bờ rồi lên đánh trên đất. Đã diệt nước Dạ Lang, cho là nước Thư Lan có cọc buộc thuyền, bèn đổi tên nước ấy thành nước Tang Kha, qua dưới thành Phiên Ngung 蕃隅”.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Mông về đến thành Trường An 長安, hỏi nhà buôn đến từ quận Thục [ có biết món tương củ này không], nhà buôn nói:

- Riêng quận Thục có món tương củ, lén đem nhiều ra bán ở nước Dạ Lang. Nước Dạ Lang kề sông Tang Kha, sông này rộng hơn một trăm bước, đủ để đi thuyền. Vua nước Nam Việt đem tiền của đến để sai khiến người nước Dạ Lang, phía Tây đến ấp Đồng Sư 峒師 (nay thuộc đảo Hải Nam), nhưng cũng không bắt người các nước ấy thần phục được.

Mông bèn dâng thư khuyên nhà vua rằng:

- Vua nước Nam Việt [ Triệu Đà] ngồi xe lọng vàng cắm cờ tiết bên trái, có đất rộng hơn vạn dặm trải từ Đông sang Tây, mang tiếng là bầy tôi ở ngoài nhưng thực là chúa của một châu. Nay đem quân từ các quận Trường Sa 長沙-Dự Chương 豫章 đến đánh thì đường sông có nhiều chỗ ngăn cách, khó đi. Thần trộm nghe nước Dạ Lang có được khoảng chục vạn quân mạnh, nếu chèo thuyền theo sông Tang Kha mà ra chỗ người ta không ngờ đến thì cũng là một cách hay để đánh người Việt vậy.

Nhà vua nghe theo. Bèn phong Mông làm Lang trung tướng đem một ngàn quân, hơn một vạn người chở đồ dùng tiền lương theo từ đường cửa Tạc quận Ba-Thục đi vào, rồi gặp vua nước Dạ Lang tên là Đa Đồng 多侗. Mông ban cho nhiều đồ dùng, tỏ uy đức để dụ, hẹn đặt ra quan lại, sai con của Đa Đồng làm quan Lệnh. Người các ấp nhỏ kề nước Dạ Lang đều ham tơ lụa của nhà Hán, lại cho là con đường mà quân nhà Hán hiểm trở nên chẳng đánh lấy mình được, nèn nghe theo lời hẹn của Mông. Mông về báo, liền lập nên quận Kiền Vi 犍为 [Tứ Xuyên], phát lính của quận Ba-Thục sửa đường từ nước Bặc Thẳng đến sông Tang Kha.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Nước Dạ Lang lại có sông Đồn, phía đông chảy đến huyện Tứ Hội 四会 (nay là Thiệu Khánh, Quảng Đông) quận Nam Hải 南海 mà vào biển, đấy là sông Tang Kha. Người quận Thục là Tư Mã Tương Như [司馬相如; 179 TCN - 117 TCN, biểu tự Trường Khanh 長卿, là một thi nhân văn sĩ rất đa tài, văn hay, đàn giỏi đời Tây Hán. Ông nổi tiếng với thể loại phú. Tác phẩm của ông còn có Tử hư phú 子虚赋, Thượng lâm phú 上林赋. Lời phú hoa lệ mà cấu thành hoàn hảo, hậu nhân gọi ông là Phú Thánh 賦聖, là đại diện tiêu biểu của đại thi gia về phú, cùng Trác Văn Quân đi vào truyền thuyết và thi văn như những nhân vật tài nghệ tiêu biểu] cũng nói nên đặt quận ở các nước Cung-Tạc của người Di miền tây nam. Bèn sai Tương Như làm Lang trung tướng đến dụ, cùng đến chỗ người Di miền tây nam, đặt ra một quan Đô úy, hơn chục huyện, thuộc vào quận Thục, phía Đông giáp Giao Chỉ, phía Tây có nước Điền 滇國 [ địa giới nước được người Điền lập ra, quanh hồ Điền Trì ở khu vực miền bắc Vân Nam, từ khoảng giữa thời kỳ Chiến Quốc cho tới tận thời kỳ Đông Hán. Người Điền tộc chôn cất những người đã chết trong các hầm mộ thẳng đứng. Tiếng nói của người Điền có lẽ có liên quan tới các ngôn ngữ của ngữ tộc Tạng-Miến. Người Điền lần đầu tiên được đề cập tới trong bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, coi viên tướng bên nước Sở là Trang Kiểu 莊蹻 là người lập ra vương quốc Điền. Vương quốc Điền bị nhà Hán chinh phục và sáp nhập dưới thời Hán Vũ Đế vào năm 109 TCN để lập ra Ích Châu, nhưng vẫn ban cho các vị vua của nước Điền ấn gọi là "Điền vương chi ấn" để cai quản cả những cái vùng đất nội lục này. Trong giai đoạn này, người Hán di cư tới nhiều hơn. Họ dần dần chia tách, đồng hóa người Điền và căn cứ theo Hoàng ý lục trong Điền quốc sử thì Điền quốc bị diệt vong hoàn toàn vào năm 115. Điền quốc trong lịch sử Vân Nam ước tồn tại khoảng 500 năm, xuất hiện trong thời kỳ Chiến Quốc và tiêu vong trong thời kỳ đầu Đông Hán. Phía đông nó trải dài tới Lục Lương, Lô Tây; phía tây tới An Ninh, Dịch Môn; phía bắc tới Chiêu Thông, Hội Trạch; phía nam tới Nguyên Giang, Tân Bình, Cá Cựu và như thế theo chiều bắc-nam dài khoảng 400–500 km, theo chiều đông-tây rộng khoảng trên 200 km], phía Bắc có nước Cung Đô, mỗi xứ đều lập quân trưởng [tù trưởng]. Người ở đây búi tóc, vạt áo hướng về bên trái, tụ họp cư ngụ thành làng, chăm chỉ làm ruộng. Phía ngoài còn có bộ tộc Tây, thuộc về các bộ tộc Côn Minh, cực tây có Đồng Sư, đông bắc đến [ sông] Diệp Du, đất vuông vài ngàn dặm. Những nơi ấy không có tù trưởng, người ta tết bím tóc, du cư theo đàn gia súc. Đông bắc nước Tây có nước Tạc Đô, đông bắc Tạc Đô là nước Nhiễm Mang, nửa định cư, nửa du cư theo đàn gia súc. Đông bắc Nhiễm Mang 冄茫 có nước Bạch Mã của chủng người Để. Ba nước vừa kể không có tù trưởng.
 

Quỳnh hp

Xe tăng
Biển số
OF-585307
Ngày cấp bằng
16/8/18
Số km
1,572
Động cơ
24,054 Mã lực
Tuổi
42
Nước Dạ Lang lại có sông Đồn, phía đông chảy đến huyện Tứ Hội 四会 (nay là Thiệu Khánh, Quảng Đông) quận Nam Hải 南海 mà vào biển, đấy là sông Tang Kha. Người quận Thục là Tư Mã Tương Như [司馬相如; 179 TCN - 117 TCN, biểu tự Trường Khanh 長卿, là một thi nhân văn sĩ rất đa tài, văn hay, đàn giỏi đời Tây Hán. Ông nổi tiếng với thể loại phú. Tác phẩm của ông còn có Tử hư phú 子虚赋, Thượng lâm phú 上林赋. Lời phú hoa lệ mà cấu thành hoàn hảo, hậu nhân gọi ông là Phú Thánh 賦聖, là đại diện tiêu biểu của đại thi gia về phú, cùng Trác Văn Quân đi vào truyền thuyết và thi văn như những nhân vật tài nghệ tiêu biểu] cũng nói nên đặt quận ở các nước Cung-Tạc của người Di miền tây nam. Bèn sai Tương Như làm Lang trung tướng đến dụ, cùng đến chỗ người Di miền tây nam, đặt ra một quan Đô úy, hơn chục huyện, thuộc vào quận Thục, phía Đông giáp Giao Chỉ, phía Tây có nước Điền 滇國 [ địa giới nước được người Điền lập ra, quanh hồ Điền Trì ở khu vực miền bắc Vân Nam, từ khoảng giữa thời kỳ Chiến Quốc cho tới tận thời kỳ Đông Hán. Người Điền tộc chôn cất những người đã chết trong các hầm mộ thẳng đứng. Tiếng nói của người Điền có lẽ có liên quan tới các ngôn ngữ của ngữ tộc Tạng-Miến. Người Điền lần đầu tiên được đề cập tới trong bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, coi viên tướng bên nước Sở là Trang Kiểu 莊蹻 là người lập ra vương quốc Điền. Vương quốc Điền bị nhà Hán chinh phục và sáp nhập dưới thời Hán Vũ Đế vào năm 109 TCN để lập ra Ích Châu, nhưng vẫn ban cho các vị vua của nước Điền ấn gọi là "Điền vương chi ấn" để cai quản cả những cái vùng đất nội lục này. Trong giai đoạn này, người Hán di cư tới nhiều hơn. Họ dần dần chia tách, đồng hóa người Điền và căn cứ theo Hoàng ý lục trong Điền quốc sử thì Điền quốc bị diệt vong hoàn toàn vào năm 115. Điền quốc trong lịch sử Vân Nam ước tồn tại khoảng 500 năm, xuất hiện trong thời kỳ Chiến Quốc và tiêu vong trong thời kỳ đầu Đông Hán. Phía đông nó trải dài tới Lục Lương, Lô Tây; phía tây tới An Ninh, Dịch Môn; phía bắc tới Chiêu Thông, Hội Trạch; phía nam tới Nguyên Giang, Tân Bình, Cá Cựu và như thế theo chiều bắc-nam dài khoảng 400–500 km, theo chiều đông-tây rộng khoảng trên 200 km], phía Bắc có nước Cung Đô, mỗi xứ đều lập quân trưởng [tù trưởng]. Người ở đây búi tóc, vạt áo hướng về bên trái, tụ họp cư ngụ thành làng, chăm chỉ làm ruộng. Phía ngoài còn có bộ tộc Tây, thuộc về các bộ tộc Côn Minh, cực tây có Đồng Sư, đông bắc đến [ sông] Diệp Du, đất vuông vài ngàn dặm. Những nơi ấy không có tù trưởng, người ta tết bím tóc, du cư theo đàn gia súc. Đông bắc nước Tây có nước Tạc Đô, đông bắc Tạc Đô là nước Nhiễm Mang, nửa định cư, nửa du cư theo đàn gia súc. Đông bắc Nhiễm Mang 冄茫 có nước Bạch Mã của chủng người Để. Ba nước vừa kể không có tù trưởng.
Nước Điền có 500 đã bị xoá sổ trong đó chắc có vài trăm năm bị ng hán di cư đến và đồng hoá,chứng tỏ ng Điền ko có một xã hội-văn hoá vững chắc cụ nhỉ
Ng Hán thời đấy đã có dã tâm chinh phục và di dân đồng thời đồng hoá các nước nhỏ rồi
E phải khâm phục các cụ tổ tiên mình giỏi thật bị đô hộ 1000 năm mà ko bị đồng hoá ko những vậy mà còn bị ng Hán bắt đi nhiều ng tài giỏi về Hán mà vẫn giữ đc đất đai và văn hoá của mình
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Nước Điền có 500 đã bị xoá sổ trong đó chắc có vài trăm năm bị ng hán di cư đến và đồng hoá,chứng tỏ ng Điền ko có một xã hội-văn hoá vững chắc cụ nhỉ
Ng Hán thời đấy đã có dã tâm chinh phục và di dân đồng thời đồng hoá các nước nhỏ rồi
E phải khâm phục các cụ tổ tiên mình giỏi thật bị đô hộ 1000 năm mà ko bị đồng hoá ko những vậy mà còn bị ng Hán bắt đi nhiều ng tài giỏi về Hán mà vẫn giữ đc đất đai và văn hoá của mình
Bao nhiêu quốc gia cổ đã bị người Hán tiêu diệt đấy cụ, rất may là người Việt mình không nằm trong số đó, các cụ đúng là rất giỏi. Ngoài ra, còn nước Lào nữa cụ.
 

Quỳnh hp

Xe tăng
Biển số
OF-585307
Ngày cấp bằng
16/8/18
Số km
1,572
Động cơ
24,054 Mã lực
Tuổi
42
Vua nước Nam Việt [ Triệu Đà] ngồi xe lọng vàng cắm cờ tiết bên trái, có đất rộng hơn vạn dặm trải từ Đông sang Tây, mang tiếng là bầy tôi ở ngoài nhưng thực là chúa của một
Theo như bản tấu này thì cụ Triệu Đà là ng hán nhưng đến giao chỉ ( Nam Việt cai quản rồi xưng vương- chúa) tức là phải thấy xã hội-kinh tế,con ng - đất nước này tốt và phát triển nên mới làm điều đó. Vì chắc cụ Đà sẽ hiểu kiểu ji cũng bị đội nhà hán di chết
Cũng chính vì công lao của cụ Đà mà cụ cháu mình Jo đây vẫn còn đc nói và viết tiếng việt cụ nhỉ
 

Mon 29V

Xe điện
Biển số
OF-36133
Ngày cấp bằng
27/5/09
Số km
2,235
Động cơ
8,408 Mã lực
Thời Hai Bà chắc vùng đồng bằng Bắc bộ có tí tẹo, dân chủ yếu sống ở miền trung du Vĩnh Yên Phó Thọ bây giờ nên tôi cũng tin là Mê Linh của hai bà đâu đó bên Lưỡng Quảng thôi. Như thế Bà mới đánh lan ra vùng Lĩnh Nam Trường Sa vv được
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Vào lúc ấy, người bốn quận Ba-Thục, là các quận Hán Trung-Ba-Quảng Hán-Thục mở đường đến chỗ người Di miền tây nam, chở lương ăn đến cấp. Được mấy năm mà đường chẳng thông, rất nhiều quân lính đói mệt gặp phải hơi ẩm, chướng khí mà chết; mà người Di miền tây nam lại nhiều lần làm phản, phát binh đến đánh cũng tổn hao không có công gì. Nhà vua lo, sai Công Tôn Hoằng [ 公孫弘 200 – 121 TCN, Tể tướng đời Hán Vũ Đế] đến hỏi xem việc ấy. Hoằng về báo nói là việc ấy không được lợi. Kịp lúc Hoằng làm Ngự sử đại phu là lúc lúc đang đắp thành Sóc Phương 朔方 [ thuộc Sơn Tây, TQ] để dựa vào sông Hà đuổi rợ Hồ, Hoằng nhân đó nói người Di miền tây nam gây hại, nên tạm bỏ, dốc sức đánh nước Hung Nô. Nhà vua bèn bỏ việc đến chỗ người Di miền tây nam, chỉ đặt một quan Đô úy của hai huyện thuộc nước Dạ Lang ở miền tây nam, lại sai người quận Kiền Vi tự giữ lấy mà dần dần tu sửa quận huyện của mình.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Kịp đến năm Nguyên Thú 元狩 thứ nhất [122 TCN], Bác Vọng Hầu là Trương Khiên [ 張騫 164? —114 TCN, tự Tử Văn, người Thành Cố, Hán Trung, nhà lữ hành, nhà ngoại giao, nhà thám hiểm kiệt xuất đời Tây Hán, có đóng góp to lớn trong việc mở ra con đường Tơ Lụa, kết nối giao thông nhà Hán với các nước Tây Vực] đi sứ nước Đại Hạ [ Bactria hay Bactriana; tiếng Hy Lạp: Βακτριανα, tiếng Ba Tư: بلخ Bākhtar, đánh vần: Bhalakh; tiếng Trung: 大夏 Đại Hạ; là tên gọi cổ đại của một khu vực lịch sử tại Trung Á, là một phần Afghanistan, Tajikistan, Uzbekistan và một phần nhỏ của Turkmenistan.Biên giới phía đông của Bactria là khu vực Gandhara cổ đại. Ngôn ngữ Bactria là ngôn ngữ thuộc nhóm Đông Iran, là một nhóm ngôn ngữ của ngữ tộc Ấn-Iran, một tộc của ngữ hệ Ấn-Âu. Người Bactria là tổ tiên của người Tajik, người Uzbek, người Pashtun và người Pamiri ngày nay]. về nói là lúc ở nước Đại Hạ có thấy vải của người quận Thục, gậy tre của của người nước Cung, Cung là tên núi, đốt tre ở đấy cao mà ống đặc, làm gậy được [ bèn] sai người hỏi đến từ đâu, nói:

- Từ nước Thân Độc 身毒 phía đông nam, Sử kí chép là nước Can Độc. Còn có tên là nước Thiên Trúc 天竹 [ Ấn Độ], là nước của rợ Hồ có Phù Đồ [ 浮屠 tức là Stupa (tiếng Phạn và Pāli: स्तूप, stūpa, nghĩa đen là "búi tóc" hay tháp, tháp-bà, hay thạt (từ tiếng Lào, xuất phát từ Phạn ngữ: dhatu) theo truyền thống Phật giáo là ngôi mộ chôn giữ một phần xá lợi (di thể của Đức Phật) hay để tưởng niệm Đức Phật và môn đệ có thánh tích. Cách cách gọi khác gồm có: Tháp Phật, Bảo Tháp, Đại Bảo Tháp], cách khoảng mấy ngàn dặm, mua được từ nhà buôn quận Thục. Có người nói là phía tây nước Cung khoảng hai ngàn dặm có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nói to lên là nước Đại Hạ ở phía tây nam của nhà Hán rất thích đến Trung Quốc, nhưng lo người Hung Nô chặn đường đi. Nếu mở đường từ quận Thục đến nước Thân Độc lại gần mà có lợi không có hại.

Do đó thiên tử liền sai bọn Vương Nhiên Vu, Bách Thủy Xương, Lữ Việt Nhân đi sứ, ra từ phía Tây của chỗ người Di miền tây nam để đến nước Thân Độc. Đến nước Điền, vua nước Điền tên là Thường Khương bèn giữ lại, giúp cho hơn chục nhóm người tìm đường về phía Tây. Hơn một năm đều bị người Côn Minh chặn lại.

Vua nước Điền nói chuyện với sứ giả của nhà Hán rằng:

- Nhà Hán so với nước ta thì ai lớn hơn?

Kịp lúc đó vua nước Dạ Lang cũng hỏi như vậy. Là vì đường không thông, đều tự cho là chúa của một cõi mà không biết nhà Hán rộng lớn đến nhường nào. Sứ giả về, đều nói phao lên rằng nước Điền là nước lớn, đủ để thân thiết. Thiên tử cũng để ý đến nước ấy.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Kịp đến lúc vua nước Nam Việt [ tức là Triệu Dương Vương 趙陽王, hay Triệu Thuật Dương Vương 趙術陽王, Triệu Vệ Dương Vương 趙衛陽王, tên họ thật là Triệu Kiến Đức 趙建德, trị vì từ năm 112 TCN – 111 TCN, là vị vua cuối cùng của nhà Triệu nước Nam Việt] làm phản, nhà vua sai Trì Nghĩa Hầu đến quận Kiền Vi phát quân người Di miền tây nam đi đánh. Vua nước Thư Lan 舒兰 sợ đi xa thì người nước bên bắt lấy kẻ già yếu của mình, bèn dấy binh của nước mình làm phản [ nhà Hán], giết sứ giả và Thái thú quận Kiền Vi. Nhà Hán bèn sai tám viên Hiệu úy phát người có tội ở quận Ba-Thục từng đánh nước Nam Việt quay về đánh phá nước ấy. Gặp lúc nước Nam Việt đã bị phá, tám viên Hiệu úy của nhà Hán không xuống phía dưới, liền dẫn binh về đi đánh nước Thư Lan, là nước chặn đường đến nước Điền. Đã phá nước Thư Lan, rồi dẹp người Di miền tây nam đặt thành quận Tang Kha. Vua nước Dạ Lang lúc trước cậy thế của nước Nam Việt, kịp lúc quân Hán đã diệt nước Nam Việt mà quay về đánh các nước làm phản, vua nước Dạ Lang bèn vào chầu. Nhà vua cho làm Dạ Lang Vương.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Sau khi nước Nam Việt bị [ nhà Hán] diệt, kịp lúc quân Hán đánh diệt các nước Thư Lan-Cung Đô 邛都國, lại giết vua của nước Tạc Đô 柞卜, vua các nước Nhiễm Mang đều sợ hãi, xin thần phục đặt quan lại. Nhà Hán bèn lấy nước Cung Đô 邛都國 đặt thành quận Việt Tủy 越雟 [ nay là phần lớn Tứ Xuyên], lấy nước Tạc Đô đặt thành quận Thẩm Lê 沈黎 [cũng thuộc Tứ Xuyên], lấy nước Nhiễm Mang đặt thành quận Vấn San [là huyện Mân Giang quận Thục] lấy đất của người Bạch Mã 白馬, 白馬人 [ người Tây Tạng] phía tây quận Quảng Hán 廣漢 [ nay thuộc Đức Dương, Tứ Xuyên] lập nên quận Vũ Đô 武都 [ nay là Cam Túc, Tây Tạng].

Nhà vua sai Vương Nhiên Vu đưa tin việc quân [ Hán] phá nước Nam Việt và người Di miền tây nam đến khuyên dụ vua nước Điền vào chầu. Vua nước Điền còn có mấy vạn quân, phía đông bắc kề mình có người các nước Lao Tẩm-Mi Mạc [Lao Tẩm, Mi Mạc là hai nước có cùng họ với vua nước Điền] đều là người cùng họ giúp nhau, chưa chịu nghe theo. Người Lao Tẩm-Mi Mạc nhiều lần xâm phạm sứ giả, quan quan. Năm Nguyên Phong 元封 thứ hai [109 TCN], thiên tử phát quân của miền Ba-Thục đánh diệt các nước Lao Tẩm-Mi Mạc, đem quân đến nước Điền. Lúc ấy vua nước Điền mới chịu theo hàng, cho nên không giết. Vua nước Điền rời khỏi chỗ người Di miền tây nam, đem người cả nước ra hàng, xin đặt quan lại rồi vào chầu. Do đó lấy nước Điền đặt nên quận Ích Châu 益洲 [ Tứ Xuyên, Trùng Khánh], ban ấn vương cho vua nước Điền, sai lại làm vua của dân mình như trước.
Có đến hàng trăm quân trưởng của người Di miền tây nam, nhưng chỉ có vua các nước Dạ Lang-Điền nhận ấn vương. Điền là nước nhỏ mà được sủng ái nhất.
 

BinhWalker

Xe tăng
Biển số
OF-753624
Ngày cấp bằng
20/12/20
Số km
1,636
Động cơ
804,312 Mã lực
Vẫn chưa thấy cụ doctor76 thông tin thêm Ai Lao. Ai Lao là vùng hữu ngạn sông Hồng giữa Đại Lý và biên giới VN. Dân cổ vùng đó gắn với Lào hiện nay thế nào và ghi trong sử TQ cụ có thêm manh mối gì ko
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Vẫn chưa thấy cụ doctor76 thông tin thêm Ai Lao. Ai Lao là vùng hữu ngạn sông Hồng giữa Đại Lý và biên giới VN. Dân cổ vùng đó gắn với Lào hiện nay thế nào và ghi trong sử TQ cụ có thêm manh mối gì ko
Hẹn chiều nay cụ nhé
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Nước Dạ Lang, xưa kia có một cô gái đứng giặt bên sông Độn 遁水, bỗng một đoạn tre lớn ba đốt trôi vào giữa hai chân, nghe thấy trong thân tre tiếng kêu khóc, cô gái liền bổ tre làm đôi, được một hài nhi nam, bèn đem về nuôi dưỡng. Khi đứa bé trưởng thành, vừa trí tuệ vừa mạnh mẽ, tự lập làm Dạ Lang hầu 夜郎侯, lấy chữ Trúc竹 làm họ. Thời Vũ đế, năm Nguyên Đỉnh 元鼎 thứ 6 [111], bình định nam Di, đặt làm Tang Kha quận, Dạ Lang hầu đầu hàng, vua cấp cho vương ấn đeo cổ. Sau này cuối cùng [Dạ Lang vương] cũng bị giết. Các bô lão đều biết Trúc vương 竹王 không được sinh ra bởi khí huyết thường nhân, nên rất kính trọng, cầu xin lập thừa tự. Tang Kha thái thú Ngô Bá 吳霸 nghe được về bẩm báo, triều đình bèn phong đứa con thứ ba của Trúc vương tước hầu. Sau khi vị hầu này chết, cùng cha được cúng tế như thần thánh. Ngày nay [ tức thời nhà Hán] trong huyện Dạ Lang vẫn tồn tại tục thờ Trúc vương tam lang thần竹王三郎神.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Sơ khởi, thời Sở Khoảnh Tương Vương 楚頃襄王 [298 – 263 TCN], sai tướng Trang Hào 莊豪 đi theo sông Nguyên 沅水 [ Sông Nguyên là một trong bốn con sông lớn ở tỉnh Hồ Nam, một chi lưu của sông Dương Tử. Sông Nguyên dài 1.033 km, trong đó đoạn chảy qua Hồ Nam dài 568 km, bắt nguồn ở tỉnh Quý Châu, tại núi Miêu. Sông này đổ vào hồ Động Đình] chinh phạt Dạ Lang, khi quân đến vùng Thả Lan 且蘭 [ nay thuộc nam Tứ Xuyên, tây Quý Châu và 1 phần Vân Nam, Quảng Tây], buộc thuyền vào bờ rồi lên bộ đánh nhau. Dạ Lang bị diệt, Dạ Lang vương lưu vong đến Điền Trì 滇池 [ khu vực quanh Côn Minh]. Bởi xứ Thả Lan là nơi có cọc buộc thuyền [Tang Kha], bèn đổi địa danh đất này thành Tang Kha 牂柯 [ nay ở Quý Châu, cũng là tên sông, phát nguyên ở Quý Châu, còn gọi là Mông giang 濛江]. Đất Tang Kha nhiều mưa lụt, phong tục chuộng đồng cốt quỷ thần, nhiều điều cấm kỵ, không biết chăn nuôi, cũng không trồng dâu nuôi tằm, do đó từ xưa đến giờ người ở đây rất nghèo. Huyện Cú Đinh 句町 [ còn gọi là Câu Đinh 鉤町, là một vương quốc cổ đại nằm ở khu vực nay là phía Tây Nam Trung Quốc, do các tộc người Bách Việt lập nên. Người dân vương quốc Câu Đinh chủ yếu là người Nùng, phía Bắc sông Nam Bàn là người Lậu Ngọa, người Thị Sa, từ phía Đông sông Nhi Hồng cho đến Tang là người Tày, nay là 1 phần Việt Nam, Quảng Tây, Quế Lâm] có loài cây Quang lang 桄桹 ( tức là cây báng, các tên gọi khác: đác, co pảng, quang lang, bụng báng, búng báng, báng búng, Cây Tà vạt, Cây rượu trời, Cây dừa núi, danh pháp khoa học Arenga pinnata, là giống cây lâu năm thuộc họ Cau, có nguồn gốc khu vực nhiệt đới châu Á. Ở Việt Nam, cây báng mọc nhiều ở chân núi ẩm chân núi đá vôi, trong rừng thứ sinh, cuống hoa chứa nhiều nước ngọt, có thể nấu thành đường hoặc cho lên men rượu. Quả hình gần cầu, đường kính 7 cm, vỏ màu xanh chuyển thành đen khi chín. Lõi thân chứa nhiều tinh bột, ăn được. Thân đục ra làm máng nước. Ruột cây báng đặc, có cấu trúc sợi trải thưa dọc theo chiều thân cây, là chất liệu màu trắng, mềm sử. Người ta sử dụng bột báng rất nhiều để làm đồ uống mát bổ có lợi cho sức khỏe, bột báng còn là chất phụ gia không thể thiếu trong ẩm thực và làm bánh kẹo. Lõi của trái trên cây là hạt đác, rất được ưa chuộng ở Indonesia (gọi là kolang-kaling or buah tap) hay Philippines (gọi là kaong). Ở Việt Nam, loại hạt này là đặc sản của vùng Nam Trung Bộ như những tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, trong lõi có phấn vàng có thể dùng làm trang sức cho đẹp khuôn mặt, [ cho nên] sinh kế của trăm họ [là sống dựa vào cây Quang lang].
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Thời Công Tôn Thuật 公孫述 cát cứ xưng đế [? – 24 tháng 12, 36, tên tự là Tử Dương, người huyện Mậu Lăng, quận Phù Phong, thủ lĩnh quân phiệt đầu đời Đông Hán. Thuật xưng đế được 12 năm, từ 25 – 36, cát cứ Ích Châu 14 năm, từ 23 – 36], các họ lớn là Long 龍, Phó 傅, Duẫn 尹, Đổng 董, cùng quận công Tào Tạ Xiêm 曹謝暹 bảo vệ biên cảnh nhà Hán, sai sứ theo sông Phiên Ngu 番禺江 [ ở Quảng Châu] triều cống. Hán Quang vũ đế khen ngợi, rồi hậu thưởng. Đến thời Hoàn đế [147 -167], người trong quận là Duẫn Trân 尹珍 tự cho rằng mình vốn sinh trưởng nơi xa xôi hẻo lánh, không hiểu lễ nghĩa, bèn đi theo người Nhữ Nam 汝南 [ nay là Mã Điếm, Hà Nam] là Hứa Thận 許愼 [khoảng 58-147 là một nhà ngôn ngữ học, tác giả của Thuyết văn giải tự 說文解字, cuốn từ điển từ nguyên chữ Hán đầu tiên, cũng là cuốn từ điển đầu tiên sắp xếp các chữ Hán theo bộ thủ. Bộ từ điển này có hơn 9.000 mục tự với 540 bộ thủ 部首, giải thích nguồn gốc các chữ Hán căn cứ chủ yếu trên cơ sở nghiên cứu chữ triện ban đầu. Hứa Thận đã hoàn thành bộ từ điển này vào năm 100 nhưng vì lý do chính trị, ông phải đợi đến năm 121 mới giới thiệu bộ từ điển hoàn chỉnh cho Hán An Đế. Hứa Thận sống vào thời nhà Đông Hán ở Yển Thành 郾城 thuộc Tháp Hà 漯河 ở tỉnh Hà Nam, ông còn là một nhà học giả chuyên nghiên cứu Ngũ Kinh và đã viết Ngũ Kinh Dị Nghĩa 五經異義], tiếp nhận kinh sách Khổng gia, học hết cả Kinh Thư 經書, Đồ Vĩ圖緯 [ còn gọi là Vĩ Thư 緯書, là sách mượn nghĩa kinh để luận về phù phép điềm ứng, gồm có thất vĩ 七緯 bảy bộ gồm: Dịch vĩ 易緯, Thư vĩ 書緯, Thi vĩ 詩緯, Lễ vĩ 禮緯, Nhạc vĩ 樂緯, Xuân thu vĩ 春秋緯, Hiếu Kinh vĩ 孝經緯. Tương truyền là chi lưu của Kinh, cũng do Khổng Tử 孔子 soạn. Người sau thấy trong sách có nhiều câu nói về Âm Dương Ngũ Hành nên mới gọi sự chiêm nghiệm xấu tốt là đồ vĩ 圖緯 hay sấm vĩ 讖緯], học thành tài, [ Duẫn Trân] trở về nguyên quán [ mở trường] truyền dạy, từ đó vùng đất phía Nam mới bắt đầu có sự học vậy. Duẫn Trân làm quan đến chức thứ sử Kinh Châu.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Nước Điền 滇王

Điền vương là hậu duệ Trang Kiểu 莊蹻 [họ Mị, thị Trang, tự Xí Túc 企足, còn gọi là Trang Khiêu 莊蹺 Trang Hào 庄豪, là tướng lĩnh nước Sở thời Chiến Quốc. Trang Kiểu là hậu duệ của Sở Trang vương, làm bộ tướng dưới trướng tướng quân Đường Muội nước Sở. Năm 301 TCN, bốn nước Tần, Tề, Ngụy, Hàn liên minh đánh Sở. Tần phái Thứ trưởng Hoán, Tề phái Khuông Chương, Ngụy phái Công Tôn Hỉ, Hàn phái Bạo Diên cầm quân. Sở Hoài vương phái Đường Muội trấn thủ Phương Thành chống lại liên quân. Quân Sở thua lớn ở Thùy Sa, Đường Muội tử trận. Đất Thùy Khâu, Uyển, Diệp bị các nước xâu xé. Trang Kiểu bất mãn, dẫn quân chúng nổi dậy đánh hạ đô thành Dĩnh, khiến nước Sở bị chia cắt. Sau cùng, Trang Kiểu được chiêu an, lại trở thành tướng nước Sở. Năm 279 TCN, Sở Khoảnh Tương vương phái Trang Kiểu cầm quân nam chinh. Quân Sở men theo Trường Giang đánh chiếm được hai quận Ba và Kiềm Trung của Tần, lại vượt Thư Lan, đánh bại Dạ Lang, chiếm lấy Điền Trì. Trang Kiểu thấy Điền Trì thổ địa dồi dào, bèn lấy đó làm trung tâm, buộc các bộ tộc xung quanh 300 dặm xưng thần với Sở. Năm 277 TCN, Trang Kiểu dự tính trở về nước Sở báo cáo, nhưng đất hai quận Vu, Kiềm Trung bị quân Tần do Bạch Khởi, Trương Nhược chỉ huy chiếm lĩnh. Nước Sở nguy cấp, buộc Xuân Thân quân phải cầu hòa. Trang Kiểu mất đường về Sở, bèn ở lại Điền Trì xưng vương, lập ra nước Điền, thay đổi lối ăn mặc, học theo tập tục địa phương].
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Năm Nguyên Phong 元封 thứ hai [109 TCN], [ Hán] Vũ đế bình định xong miền tây nam, lấy đất này làm quận Ích Châu 益州, chia Tang Kha 牂柯, Việt Tây 越巂 [nay là 1 phần Vân Nam] lấy một số huyện gộp vào Ích Châu. Sau đó vài năm, thu phục được đất Côn Minh 昆明, đều gộp vào quận Ích Châu. Ở Côn Minh có một cái hồ chu vi hơn hai trăm dặm, đầu hồ rộng và sâu, phía cuối càng ngày càng nông và hẹp, dòng chảy tự đổi hướng (có lẽ theo mùa gió và mưa), do đó gọi là Điền Trì 滇池. Xứ này đất đai bằng phẳng rộng rãi, xuất về Trung Quốc nhiều chim vẹt [ nguyên văn 鸚鵡 anh vũ, hay còn gọi là năng ngôn điểu 能言鳥 chim biết nói] và chim công [ nguyên văn 孔雀 Khổng tước, còn gọi là phụng hữu 鳳友], có cả hồ muối, nông nghiệp và ngư nghiệp phát đạt, vàng bạc, gia súc, gia cầm phong phú. Phong tục, người dân hào hiệp xa hoa. Quan lại đều giàu có nhiều đời.
 

doctor76

Xe cút kít
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
19,000
Động cơ
528,523 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Đến loạn Vương Mãng 王莽, người Di quận Ích Châu là Đống Tàm 棟蠶 và Nhược Đậu 若豆 khởi binh giết quận thú, Đại Mưu 大牟 người Cô Phục 姑復 ở Việt Tây cũng đều làm phản, giết quan lại. Vương Mãng sai Ninh thủy tướng quân Liêm Đan 廉丹, phát động quan quân Ba và Thục, cùng binh tốt tải lương bộ hành hơn mười vạn tấn công. Quân lính, quan lại đói và mắc dịch bệnh, mấy năm không thắng được. Bèn lấy người Hán Quảng 廣漢 là Văn Tề 文齊 làm thái thú, đắp bờ ngăn nước ở triền núi, khai nguồn tưới tiêu, khai khẩn hơn hai ngàn khoảnh ruộng. [ Văn] Tề dẫn theo binh mã dùng mãnh, tu sửa thành quách những nơi hiểm trở, khuất phục các nhóm người Di, cuối cùng vãn hồi hòa hợp.

Đến khi Công Tôn Thuật cát cứ Ích Châu, Văn Tề cố thủ những chỗ hiểm yếu, Thuật bắt giữ vợ con Tề, hứa phong Tề chức hầu, Tề cũng không chịu đầu hàng. Khi nghe tin Hán Quang vũ lên ngôi, Tề sai người tìm đường về kinh báo cáo. Sau khi bình định xong đất Thục, cho Văn Tề làm Trấn viễn tướng quân, tước Nghĩa hầu. Sau này Văn Tề mất đi, vua ra chiếu khởi xây từ đường, người trong quận lập miếu thờ tự.
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top