Về địa lý, vùng đất của người Hán từ ngàn xưa nằm ở vị trí tiếp giáp với nhiều dân tộc khác nhau. Nếu như Cao nguyên Thanh Tạng và Thái Bình Dương là những rào cản tự nhiên, che chở người Hán về phía Tây và Đông, thì vùng phương Bắc của họ thật sự trơ trọi và luôn “mời gọi” những sự xâm lược từ ngoại bang.
Nhìn vào bản đồ phân bố theo hình cánh cung từ phải sang trái, những dân tộc láng giềng tạo một thế trận “bao vây” người Hán. Phía Đông Bắc là nơi của
người Mãn. Trực diện phía Bắc là nỗi sợ kinh hoàng từ tiếng vó ngựa Mông Cổ. Phía Tây Bắc là vùng Tân Cương rộng lớn, với phần lớn dân số theo đạo Hồi. Cuối cùng, phía Tây là nơi của người Tây Tạng với truyền thống Phật giáo nguyên thủy. Có thể thấy, phía Bắc của người Hán là nơi họ không được bảo vệ và cũng chính là điểm yếu “chết người” của dân tộc Hán. Chỉ cần sơ hở, Mông Cổ, Mãn Châu, các dân tộc Turk và cả người Hung Nô sẵn sàng tràn xuống phía Nam trong tích tắc, thôn tính vùng đồng bằng trù phú này.
Tất cả các đời Hoàng đế Trung Hoa hiểu rằng nếu thiên nhiên không ưu ái bảo vệ họ, họ phải tự làm chủ vận mệnh. Cách cụ thể và cần thiết nhất lúc này là phải dựng lên một “hàng rào” bằng mọi giá. Và chính ý nghĩ đó đã đặt nền móng cho công trình vĩ đại nhất lịch sử nhân loại –
Vạn Lý Trường Thành.
Bản đồ Vạn Lý Trường Thành qua các triều đại pong kiến khác nhau
Thời Xuân Thu (770–476 TCN) và Chiến Quốc (475–221 TCN), Trung Hoa phân chia thành nhiều quốc gia nhỏ liên tục đánh chiếm lẫn nhau. Các nước phía bắc thường phải chống lại sự xâm nhập của các bộ tộc du mục từ thảo nguyên. Khoảng thế kỷ 7 TCN, nước Sở đã xây tường thành phòng thủ để ngăn các thế lực phía bắc – đây được coi là khởi nguồn của Vạn Lý Trường Thành. Sau đó, các nước Yên, Triệu, Tần cũng lần lượt xây những đoạn thành riêng biệt. Mỗi nước xây bằng đất nện, đá, cỏ tranh; quy mô còn nhỏ, rời rạc. Giai đoạn này, Trường Thành chưa phải một công trình thống nhất, mà là nhiều bức tường phòng thủ địa phương.
DSC06027 by
Hieu Tran, on Flickr
DSC06028 by
Hieu Tran, on Flickr
Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, lập nên nhà Tần. Đối diện với áp lực xâm lấn từ phương Bắc, ông quyết định nối liền và mở rộng các đoạn thành có sẵn. Tần Thủy Hoàng cho xây dựng liên kết các đoạn tường cũ (của Yên, Triệu, Tần) thành một hệ thống phòng thủ kéo dài hơn 5.000 km. Công trình chủ yếu dùng đất nện, gỗ, đá. Hàng trăm nghìn dân phu, binh lính, tù nhân phải lao dịch trong điều kiện khắc nghiệt. Rất nhiều người chết trong quá trình xây dựng, dân gian gọi là “Trường Thành Vạn Lý – vạn người táng”. Chính vì lẽ đó mà tên tuổi của Tần Thủy Hoàng cũng gắn liền với những giai thoại về sự tàn nhẫn mà ông đã gây ra cho những người lính và dân thường trong suốt quá trình xây dựng. Đằng sau một công trình lưu danh thiên cổ là sinh mạng của hàng vạn người, họ đã mãi mãi nằm lại ở những vùng biên ải xa xôi.
Quan trọng hơn, về mặt chính trị, Tần Thủy Hoàng muốn người Hán biết rằng đây sẽ là ranh giới của ta và địch. Phía bên ngoài kia là bọn ngoại bang lúc nào cũng cần phải dè chừng. Đây là một quyết định tác động sâu sắc đến tâm tưởng người Hán mãi về sau. Đối với bao thế hệ người Hán lớn lên trong thời đại này và cả con cháu của họ, Trường Thành không khác gì một ranh giới tự nhiên, một sự phân cách toàn diện về mọi mặt.
Đây là lần đầu tiên hình thành một Trường Thành mang tính quốc gia, quy mô lớn, đặt nền móng cho danh xưng “Vạn Lý Trường Thành”.
DSC06029 by
Hieu Tran, on Flickr
DSC06030 by
Hieu Tran, on Flickr