Ukraine phải tự lực đảm bảo an ninh
Trang mạng của tạp chí Foreign Affairs mới đây đăng tải bài viết trong đó nhận định không phải cam kết về quân đội của châu Âu mà chính việc Ukraine tự mình chiến đấu mới là cách để kết thúc cuộc chiến hiện tại hoặc ngăn chặn cuộc chiến tiếp theo.
Tại cuộc họp của Nhóm liên lạc quốc phòng Ukraine hôm 12/2 tại Brussels, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã tuyên bố rằng lập trường của Chính phủ Mỹ là Ukraine sẽ không gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Mặc dù bị một số người ở Mỹ và các nước châu Âu phản đối, nhưng trên thực tế, lời phát biểu của Hegseth giống một tuyên bố công khai về thực tại hơn là một sự thay đổi chính sách thực sự. Quan điểm này đã được truyền đạt trong suốt chiến dịch tranh cử của Donald Trump và quá trình chuyển giao quyền lực, và ngay cả Chính quyền Biden cũng hoài nghi về việc chẳng bao lâu nữa Ukraine sẽ gia nhập NATO. Những rủi ro của việc kết nạp Ukraine vào liên minh này, thể hiện qua sự phản đối rộng rãi ở Mỹ, Đức và những nơi khác, từ lâu đã khiến thực tế này trở thành điều mà ai cũng biết.
Ngay cả Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky gần đây cũng thừa nhận rằng việc gia nhập NATO có lẽ không nằm trong phạm vi thảo luận. Thay vào đó, ông tập trung đưa ra lý lẽ thuyết phục những nước phương Tây ủng hộ Ukraine rằng nếu Ukraine không thể trở thành thành viên NATO, thì đất nước của ông cần có sự đảm bảo an ninh tương đương từ châu Âu hoặc Mỹ để ngăn chặn Nga khơi mào một cuộc chiến tranh mới trong những năm tới. Với việc Chính quyền Trump khăng khăng rằng Mỹ không điều quân đến Ukraine, cuộc thảo luận ở châu Âu ngày càng tập trung vào việc liệu các quốc gia châu Âu có thể cung cấp đảm bảo an ninh thông qua các đợt triển khai quân của riêng họ hay không và bằng cách nào.
Tuy nhiên, vẫn có lý do để nghi ngờ liệu các nước châu Âu có thực hiện đúng lời cam đoan về việc cung cấp quân hay không, đặc biệt là khi không có sự tham gia đáng kể của Mỹ. Khi giai đoạn đàm phán về cuộc chiến tranh Ukraine bắt đầu trong những ngày tới, điều quan trọng là phải hiểu rằng các cam kết an ninh không phải là cách duy nhất để ngăn chặn Nga xâm lược Ukraine lần nữa. Thay vào đó, các nhà hoạch định chính sách cần xem xét giải pháp thay thế cho các đảm bảo an ninh trực tiếp: Làm thế nào để tăng cường năng lực răn đe của chính Ukraine trong khi giải quyết các nguyên nhân căn bản của cuộc xung đột? Cuối cùng, các bước đi như vậy có thể đáng tin cậy và hiệu quả hơn so với lực lượng gìn giữ hòa bình châu Âu nửa vời phụ thuộc quá nhiều vào Mỹ để được hỗ trợ quan trọng trong các lĩnh vực như giám sát và hậu cần quân sự.
Lực lượng trên bộ
Lý do khiến các nhà hoạch định chính sách châu Âu gần đây tập trung vào các cam kết an ninh liên quan đến việc triển khai quân đội rất đơn giản: một trong những câu hỏi khó giải đáp nhất trong mọi cuộc đàm phán hòa bình là làm thế nào để ngăn chặn chiến tranh tái diễn sau một thời gian ngắn gián đoạn. Mặc dù việc ngừng bắn tạm thời ở Ukraine có thể mang lại lợi ích, nhưng sẽ cần một nền hòa bình lâu dài và bền vững hơn để Ukraine có thể tái thiết nền kinh tế và phát triển thịnh vượng trong tương lai. Nếu chiến tranh vẫn có khả năng tái diễn, ngay cả các chính phủ cũng sẽ do dự trong việc đưa ra cam kết hỗ trợ nhiều cho Ukraine tái thiết cơ sở hạ tầng và nền kinh tế; khu vực tư nhân thậm chí còn ít có khả năng đầu tư hơn.
Bản thân Kiev từ lâu đã khăng khăng rằng cách duy nhất để giải quyết mối quan ngại này là Ukraine gia nhập NATO, coi đó như một phần của thỏa thuận hòa bình cuối cùng. Theo quan điểm của Kiev, đây là giải pháp lý tưởng vì qua đó, việc ngăn chặn một cuộc chiến tranh trong tương lai sẽ được chuyển giao sang cho Mỹ. Cách tiếp cận này cũng sẽ có lợi cho các quốc gia châu Âu - “hiệu quả về mặt chi phí” như cách nói của một lãnh đạo Liên minh châu Âu (EU) - vì dựa ít hơn vào chi tiêu, vũ khí hoặc triển khai quân sự và nhiều hơn vào sự đảm bảo trên giấy tờ theo Điều 5 của Hiến chương NATO.
Tuy nhiên, Ukraine vẫn chưa thể gia nhập NATO dù là trong ngắn hạn hay dài hạn. Một số nhà hoạch định chính sách châu Âu, đáng chú ý nhất là ở Đức, đã hoài nghi về điều này từ ít nhất là hội nghị thượng đỉnh Bucharest năm 2008 (khi Chính quyền George W. Bush tìm cách cung cấp cho Ukraine và Gruzia một con đường để trở thành thành viên NATO và các chính phủ châu Âu đã phản đối), và bản thân cuộc chiến đã gây thêm nhiều trở ngại hơn nữa cho Ukraine trên con đường gia nhập NATO. Việc Ukraine gia nhập NATO sẽ buộc Mỹ và các quốc gia châu Âu phải làm chính điều mà họ đã phản đối trong 4 năm qua: Đối đầu trực tiếp với Nga vì lợi ích của Ukraine.
Với việc gia nhập NATO không còn nằm trong nội dung đàm phán và Mỹ từ chối gửi quân, các cuộc thảo luận trong giới chính sách châu Âu đã tập trung vào các cách thức cung cấp bảo đảm an ninh cho Ukraine nhưng không nhất thiết phải cho phép nước này gia nhập NATO. Một số thỏa thuận đã được đưa ra, đơn cử như Pháp, Ba Lan và Anh đã ký các thỏa thuận hợp tác an ninh song phương với Ukraine, chủ yếu liên quan đến vũ khí hoặc huấn luyện. Tuy nhiên, vẫn chưa có quốc gia nào đưa ra cam kết cung cấp quân đội. Các cuộc thảo luận riêng tư về việc triển khai quân để thực thi ranh giới phân định vẫn đang diễn ra. Thủ tướng Anh Keir Starmer đã nói rằng đất nước của ông có thể gửi quân, nhưng Tổng thống Pháp Emmanuel Macron - nhà lãnh đạo châu Âu duy nhất trước đây đã cam kết triển khai quân đội – lại không đưa ra tuyên bố rõ ràng về vấn đề này, rút lại cam kết ban đầu của mình. Ba Lan, có lẽ là nước ủng hộ Ukraine mạnh mẽ nhất, đã thẳng thừng phủ nhận kế hoạch gửi quân đến Ukraine.
Việc tập trung vào quân đội phản ánh mối quan ngại rộng rãi trong giới chính sách châu Âu rằng cam kết trên giấy tờ, sẽ gửi quân đội trong trường hợp xảy ra tấn công trong tương lai, không đáng tin cậy. Quan điểm này gần như chắc chắn là đúng. Cả các quốc gia châu Âu và Mỹ đều không muốn phải liên tiếp gửi quân đến Ukraine trong cuộc chiến hiện tại. Nếu không có kiểu nguy cơ nào đó trên thực địa buộc họ phải ra tay trong trường hợp xảy ra xung đột, một cam kết đơn giản có thể sẽ được Moskva coi là lời hứa suông, giống như bản ghi nhớ Budapest năm 1994, theo đó Ukraine được đảm bảo về an ninh khi từ bỏ mọi yêu sách giữ lại vũ khí hạt nhân thời Liên Xô nhưng không đưa ra bất kỳ sự hỗ trợ cụ thể nào.
Ngay cả khi các quốc gia châu Âu bằng cách nào đó có thể tập hợp được ý chí chính trị để cung cấp một lực lượng như vậy, thì vẫn sẽ phát sinh những vấn đề quan trọng khác. Chiến tuyến hiện tại dài hơn 800 km trong khi biên giới của Ukraine với Nga và Belarus dài hơn 3.200 km. Nhiều đánh giá quân sự khác nhau cho thấy cần phải có từ 40.000 đến 200.000 quân để thực thi hòa bình và ngăn chặn Nga thực hiện các cuộc tấn công trong tương lai. Việc triển khai quân ở mức cao như vậy là hoàn toàn không khả thi xét đến lực lượng và mức độ sẵn sàng chiến đấu hiện tại. Thay vào đó, các cuộc đàm phán hiện tại tập trung vào mức thấp nhất, đề xuất triển khai khoảng 50.000 quân châu Âu.
Ngay cả 50.000 quân cũng là một sự gia tăng đáng kể đối với các quốc gia châu Âu, đòi hỏi họ phải rút lực lượng gìn giữ hòa bình khỏi các cuộc xung đột khác và bỏ qua các yêu cầu lập kế hoạch phòng thủ của NATO. Điều này sẽ bổ sung thêm một nhiệm vụ mới quan trọng cho các lực lượng châu Âu trong khi họ được Mỹ yêu tăng chi tiêu quốc phòng. Có lẽ vấn đề lớn nhất là lực lượng như vậy có thể sẽ không đủ để ngăn chặn Nga, thay vào đó hoạt động như một cái bẫy có thể kéo châu Âu vào một cuộc chiến tranh mới. Một báo cáo gần đây từ tổ chức tư vấn SWP của Đức mô tả đây là cách tiếp cận “mạo hiểm dựa vào may mắn”, trong đó các quốc gia châu Âu đưa ra các cam kết phù hợp với năng lực hiện tại của họ, ngay cả khi những cam kết này rõ ràng là không đủ.
.............