- Biển số
- OF-423435
- Ngày cấp bằng
- 19/5/16
- Số km
- 13,756
- Động cơ
- 556,320 Mã lực
Đẹp quá, làng của bác chủ thật đẹp và thanh bình.
Giếng này xây đẹp không giống các giếng làng em được biết. Chắc mỗi nơi khác nhau chứ giếng quê em và tận làng Hoàng Mai Hà Nội là giếng nó to đường kính cả vài chục métĐây là cây đa giếng nước làng Xuân Cầu - Hưng Yên. Tranh màu nước do Kts Nguyễn Thế Khải vẽ
View attachment 9448777
Ở quê câu chào là câu hỏi, bác đi đâu đấy? Cụ đi đâu đấy? Còn ngang bằng hoặc bé hơn thì đi đâu đấy?Em được dạy rằng về quê gặp ai cũng chào. Nhưng giờ văn hóa đó có vẻ mai một đi rồi.
Vì em o sinh ra và lớn lên ở quê nhưng hay về quê dịp hè, tết. Nên bé gặp ai cũng chào. Giờ ít về với lại nhiều người mới lạ nên ít chào hơn. Với lại e thấy trẻ con ở quê giờ gặp mọi người cũng ít chào hơn ngày xưa.Ở quê câu chào là câu hỏi, bác đi đâu đấy? Cụ đi đâu đấy? Còn ngang bằng hoặc bé hơn thì đi đâu đấy?
Cuối đường là 1 cái nghĩa địa đúng k cụ.Sài Sơn có chùa Thầy nổi tiếng rồi. Bữa trước nhà em đi qua con đường cây xà cừ, nhà cụ gần đấy không?
![]()
Có khi chả biết nó con cháu nhà ai ấy chứ. Mạng XH, điện thoại làm con người bỏ dần giao tiếp thựcVì em o sinh ra và lớn lên ở quê nhưng hay về quê dịp hè, tết. Nên bé gặp ai cũng chào. Giờ ít về với lại nhiều người mới lạ nên ít chào hơn. Với lại e thấy trẻ con ở quê giờ gặp mọi người cũng ít chào hơn ngày xưa.
Bài này em cũng thấy lạ, không nhớ đã nghe chưa nhưng giai điệu quen quenLàng tôi của Hồ Bắc
Cảm ơn tùy bút của cụ. Cụ còn hình ảnh, ký ức quê hương, tuổi thơ dữ dội nào chia sẻ thêm ạ!Chợ Phiên
![]()
Trong miền ký ức thẳm sâu của tôi, quê hương không chỉ là bờ tre, gốc đa hay cánh đồng thẳng cánh cò bay, mà còn là nhịp đập hối hả của những phiên chợ. Ở vùng chiêm trũng ấy, cái tên “Dầu – Đằn – Ngăm – Chanh – Đại” đã trở thành bản chú giải cho thời gian, là vòng quay luân phiên của năm ngôi chợ họp đều đặn suốt tháng, mang theo hơi thở của cả một vùng đất. Những cung đường phiên chợ
Hồi đó, mỗi khi nghe người lớn nhắc đến chợ Dầu, tôi lại liên tưởng đến một nơi xa xôi lắm, chừng mười cây số đường bộ. Chợ nằm ở làng Ngoại Độ, giáp ranh Hà Tây, tựa lưng vào núi chùa Ông uy nghiêm bên con đê vực thẳm. Vì quá xa, dấu chân tôi ít khi chạm tới mảnh đất ấy, nhưng hình ảnh con đường dẫn vào chùa Hương thơ mộng luôn hiện diện trong trí tưởng tượng non nớt của tôi về một phiên chợ xa xôi. Trên trục đường đi chợ Dầu, ta sẽ đi qua chợ Đằn nằm nép mình bên quốc lộ 38. Đây là ngôi chợ nhỏ nhất trong cụm, chỉ cách nhà tôi chừng ba cây số, nằm ngay ngã ba đường đi Kim Giang thuộc Hà Tây. Từ đây, chỉ cần rẽ nhánh đi thêm chưa đầy một cây số, qua một con sông là tới chợ Ngăm. Con sông này vốn là một nhánh của sông Nhuệ, chảy qua đầu làng tôi thì gọi là sông Đình, nhưng cứ hễ chảy qua bãi đất họp chợ ấy, người dân lại trìu mến gọi là sông Ngăm. Còn chợ Chanh lại nằm lọt thỏm trong làng Chanh, là một trạm dừng chân giữa quãng đường từ chợ Đằn lên chợ Dầu, lặng lẽ góp mặt vào vòng quay phiên chợ dù tôi cũng hiếm khi ghé lại. Chợ Đại – Nhưng thân thương nhất, to lớn nhất và gắn liền với cả tuổi thơ tôi chính là chợ Đại. Vốn là chợ cổ của làng, sau này chợ chuyển sang xã Nhật Tựu bên bờ sông Nhuệ. Chợ họp vào các ngày có đuôi số 3 và số 8 âm lịch hàng tháng ($3, 8, 13, 18, 23, 28$).Để đến được chợ Đại, tôi phải băng qua một "kỳ quan" kỹ thuật thời bấy giờ: cây cầu thủy lợi và hệ thống âu thuyền do người Pháp xây dựng. Tôi vẫn nhớ như in cảm giác sững sờ khi đứng xem chiếc âu thuyền hoạt động. Hai cánh cửa bê tông cốt thép nặng hàng chục tấn, vậy mà chỉ cần sức người quay hệ thống bánh răng ròng rọc là có thể đóng mở nhịp nhàng để điều tiết dòng nước cho tàu bè qua lại. Với một đứa trẻ ngày ấy, đó là một sự ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho trí tuệ con người.
Đặc biệt nhất chính là phiên chợ Đại ngày 28 Tết. Đó là phiên chợ cuối cùng của năm, là lúc "tổng lực" mua bán để chuẩn bị cho những ngày nghỉ Tết kéo dài đến tận mồng 4, mồng 5.Ngày đó, chúng tôi háo hức đến mất ngủ. Từ tờ mờ sáng, đám trẻ con đã gọi nhau í ới, lục đục đi bộ trong bóng đêm nhập nhoạng. Đi đường đêm, đứa nọ bảo đứa kia kinh nghiệm của các cụ: "Trời nắng tránh đen, trời mưa tránh trắng" để không sa chân vào vũng lội. Gần đến cổng chợ, không gian đã đặc quánh tiếng ồn ào, náo nhiệt. Tiếng rao: “Tiêu cay xay ngay đây!” vang lên giòn giã từ những chiếc máy xay tiêu nhỏ xíu như tay quay công nông. Người ta chen chúc nhau giữa những hàng trầu cau, gia vị, len lỏi qua dãy lán bán chiếu cót dựng đứng, rồi đến khu đồ gia dụng bát đĩa, sứ, thủy tinh. Một thời gánh rau và những thức quà quê. Khi lớn hơn một chút, tôi không còn là đứa trẻ chỉ biết "mong mẹ đi chợ" để chờ tấm bánh rán, cái bỏng, cái bánh đa. Tôi trở thành một phần của phiên chợ trên vai những gánh rau xanh. Miếng đất khai hoang cuối đồng của gia đình tôi là nơi kết tinh những mầm xanh của su hào, bắp cải, xà lách, rau mùi... Tôi đem những sản vật ấy ra chợ, ngồi cạnh dãy hàng thịt sát bờ sông Nhuệ, học cách mặc cả, học cách cảm nhận nhịp sống mưu sinh. Đi hết dãy nhà dài bán quần áo, vải vóc là đến bãi đất rộng dành cho đồ mây tre đan: rổ, giá, thúng, mủng. Phía bên phải là khu bán con giống với tiếng gà, vịt, chó, mèo, trâu, bò rộn rã. Và tất nhiên, điểm dừng chân cuối cùng luôn là khu ẩm thực – nơi có những quán lòng lợn tiết canh thơm phức, những hàng bánh đúc, bánh đa nóng hổi. Đó là thiên đường của chúng tôi, nơi cái bụng đói sau một buổi chợ được lấp đầy bởi hương vị quê hương nồng hậu. Chợ phiên trong tôi không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, mà là một bảo tàng sống động của kỷ niệm.
Dù thời gian có trôi đi, hình ảnh dòng sông Nhuệ đỏ nặng phù sa bên mái chợ Đại rêu phong vẫn mãi là một phần máu thịt, nhắc nhở tôi về một thời tuổi thơ lam lũ mà tràn đầy hơi ấm tình người.
![]()
Ảnh tôi chụp chợ Đại mấy năm trước
. Nhất là hơi có tý mưa, lạnh, ngồi nhẩn nha bóc quả trứng luộc còn nóng rồi chấm muối ớt sao mà ngon thế! Lần nào đi 2 ngày thì rẽ ngả Long Vân rồi ngủ đêm ở nhà dân dưới chân núi. Tối lạnh, nếp nhà đơn sơ và tiếng cười lanh lảnh của tụi con gái…
. Em cũng có ông bạn ở Vũ Thư nhưng chưa có dịp đến chơi. Nghe câu TB cũ của cụ mà man mác buồn.
Cụ khá giống em đi chùa Hương vào ngày vắng tránh lễ hội. Thuê chuyến đò chèo 1 vòng vào chùa Long Vân, qua Thanh Sơn vãn cảnh. Cảm giác nhẹ nhàng không xô bồ.Hồi còn trẻ ở nhà cứ ra giêng tiết trời se lạnh, lất phất mưa là cháu và hội bạn thường làm một chuyến đi thăm mấy chùa gần Hà Nội: Chùa Hương, Chùa Thầy, Chùa Bút Tháp, Chùa Tây Phương, Chùa Trầm…
Hồi ấy ra Tết khách thập phương chưa đua nhau đi hội Chùa sớm như bây giờ. Mùng 2 mùng 3 Tết mà đi chùa Hương lúc chưa vào hội thật tuyệt. Vắng, thanh tịnh, suối Yến nước còn rất trong nhìn thấy cả rong rêu dưới đáy. Cả hội phi xe máy, đường cũng vắng. Qua Hà Đông coi như nửa đường. Cũng chưa có cáp treo. Đò nhẹ nhàng lướt. Chị lái đò cũng yên ắng chứ không leo lẻo kể khổ để lấy boa như đận sau này. Sương sớm huyền ảo dưới chân núi. Ghé quán làm chén trà xanh, mấy quả trứng luộc. Mà sao cũng là trứng mà trứng luộc ở Chùa Hương ngon hơn trứng luộc ở nhà các cụ ạ. Nhất là hơi có tý mưa, lạnh, ngồi nhẩn nha bóc quả trứng luộc còn nóng rồi chấm muối ớt sao mà ngon thế! Lần nào đi 2 ngày thì rẽ ngả Long Vân rồi ngủ đêm ở nhà dân dưới chân núi. Tối lạnh, nếp nhà đơn sơ và tiếng cười lanh lảnh của tụi con gái…
Đi chùa Thầy, chùa Bút Tháp, Chùa Trầm mà được vào đúng ngày đốt đồng cũng rất đẹp. Ngày ấy dân còn ham lấy rơm rạ về đun nên ít đốt đồng hơn bây giờ. Từ xa thấy cảnh cánh đồng mới gặt xong còn thơm mùi rơm rạ. Xa xa khói “lam chiều” bay phảng phất. Hai hàng nhãn, vải dọc những con đường làng. Những kênh mương nội đồng. Nếu đi vào dịp tháng 3 tháng 4 mùa hoa gạo thì phong cảnh đẹp tuyệt vời với những chấm và những mảng màu đỏ điểm xuyết. Phong cảnh làng quê Bắc Bộ thật yên bình và thật đẹp, như trong sách giáo khoa luôn.
Bi giờ chắc đô thị hoá, người đông lên, đường đông lên, du khách cũng nhiều lên nên cảnh sắc làng quê Bắc Bộ chắc cũng đã thay đổi nhiều. Cháu nửa muốn làm 1 chuyến thăm lại cảnh cũ nhớ người xưa, nửa không muốn đi lại, sợ phải tận mắt chứng kiến những đổi thay không thể tránh của làng quê Việt Nam thời hiện đại. Đến tuổi hâm chán thế đấy cccm ạ.
Ủn giúp cụ đồng niên nàoCó một chương trình trên tivi tên là "Sinh ra từ làng". Tôi cũng định lấy cái tên ấy để đặt cho những dòng viết của mình, nhưng rồi lại thấy nó chưa đủ. Bởi với tôi, làng không chỉ là nơi ta cất tiếng khóc chào đời, mà là một phần máu thịt, là cái nôi ôm ấp cả một nửa đời người với bao biến động.
Tôi sinh ra ở một làng quê Bắc Bộ vào những năm tháng thanh bình sau cuộc chiến. Những cuộc súng ống, bom rơi chỉ còn là lời kể của người già. Chiến tranh biên giới nổ ra khi tôi còn quá nhỏ để hiểu thế nào là lầm than. Thế hệ tôi – những đứa trẻ lớn lên giữa mùi bùn đất và hương lúa trổ – cứ thế mà đi qua tuổi thơ như một lẽ tự nhiên của đất trời.
Các cụ bảo đời người chỉ hai năm mươi là vào áo quan. Giờ đây, khi cái ngưỡng "nửa đời người" đã chạm sát gót chân, đêm nằm vắt tay lên trán, tôi chợt thấy lòng mình chênh vênh. Tôi sắp đi hết cái năm mươi lần thứ nhất, để rồi tự hỏi: Mình là ai giữa cõi đời này? Ta đến đây để làm gì, hay chỉ là một mảnh ghép bé mọn, một vệt sáng vụt qua rồi tan biến vào hư không?
Có đôi khi, tôi ngỡ mình là "đời thừa". Nhưng nhìn lại những lần chết hụt, những khúc quanh nghiệt ngã mà mình vẫn bình an đi qua, tôi chợt hiểu: Có lẽ số phận giữ tôi lại để tôi nếm cho bằng hết cái vị "hỉ, nộ, ái, ố", để tôi trả cho xong món nợ đời còn nặng gánh trên vai.
Tự nhiên, tôi thèm được viết. Không phải để làm văn chương bóng bẩy, mà viết để gom nhặt những mảnh vỡ của ký ức. Viết về cái làng quê xưa cũ đã thay hình đổi dạng. Viết về những con người đã đi ngang qua đời tôi, để lại những vết hằn sâu sắc. Viết về những thay đổi chóng mặt của thời cuộc mà đôi khi mắt mình chưa kịp thích nghi. Tôi biết văn mình không hay. Nhưng có sao đâu? Đây là cuộc đời tôi, là bản tự truyện bằng chữ của một người con bước ra từ gốc rạ. Những gì tôi thấy, những gì tôi đau, tôi sẽ trải lòng mà viết hết ra cho dù có lộn xộn theo mảng trí nhớ.
Cảm ơn các cụ, các mợ đã dừng chân nghe tôi kể chuyện đời. Nếu rảnh, xin hãy ghé lại, để tôi có thêm động lực để kế cuộc sống làng quê. Cảm ơn, mong Chã cấp giúp tôi chiều dài thớt để tôi mời các cụ, các mợ nhìn về "một thời xa vắng" và cùng "thương nhớ đồng quê"
![]()
Hồi bé e về quê cũng thế.Em được dạy rằng về quê gặp ai cũng chào. Nhưng giờ văn hóa đó có vẻ mai một đi rồi.


Vâng. Đúng là như thế.Hồi bé e về quê cũng thế.
Nhìn thấy bà già chào bằng bà thì người lớn bảo: Không, đây là chị bên nhà bác
Nhìn thấy thanh niên trẻ chào là anh thì bị mắng. Ơ thằng này láo. Mày phải gọi tao bằng ông trẻ
Mệt vđ




Làng cụ đất linh kiệt, ngoài chùa Thày thì còn là quê dòng họ Phan Huy, tướng Phan Trọng Tuệ. Người kẻ Thày nhìn chung là hiền lành, trừ dân ngoài bãi và 1 số dân ăn theo du lịch thời xưa là có 1 phần ghê gớm. Những năm 8x đến đầu 9x nghèo khó, hội Thày là đội thanh niên hay trấn vặt của giai làng khác đến xem hội; hoặc cát cứ con gái làng, ko cho giai làng khác đến tán. Cơ mà lại có câu “gian kẻ Thày ko bằng ngay kẻ Giá”, ý là kẻ Giá bên kia sông Đáy còn gian hơn kẻ Thày nhiều lần.làng em tên cũ là tổng lật sài, sau là sài sơn, cũng là làng siêu cổ, từ thời Lữ Gia, tức là trước công nguyên.