Cụ cho cái quần hai ống vào máy giặt, 15 năm nó ra hình gì? Ờ nếu cụ vò tay tuần 1 lần trong 15 năm nó sẽ như nào?Đang giai đoạn ngọt nước nhất![]()
Cụ cho cái quần hai ống vào máy giặt, 15 năm nó ra hình gì? Ờ nếu cụ vò tay tuần 1 lần trong 15 năm nó sẽ như nào?Đang giai đoạn ngọt nước nhất![]()
Nãy em đi qua.Khoảng chỗ ấy đó cụ nhưng ảnh này hình như cụ chụp từ đường HVT ra thì bị khuất vì nằm bên phải ảnh.
Ảnh này hướng ngược lại nhìn từ đường Trường Sơn ra bùng binh có tới 3 chiếc tăng bị bắn cháy. Hậu cảnh có cái tháp là tháp chuông nhà thờ Mẫu Tâm trong hẻm HVT kế bên bùng binh góc giao LVS ở bên trái.
View attachment 9612801
Chữ "TẬN" em thấy hợp lý hơn. Nó mô tả đúng khung cảnh là mùa xuân cỏ xanh mọc khắp nơi từ nơi tác giả đứng kéo dài đến tận xa tít chân trời.Mình nhớ hồi bé đọc trong Sách giáo khoa thì câu thơ trên là:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Mình cực kỳ thích câu đó nên vẫn ấn tượng đến tận bây giờ! Không biết từ “tận” hay từ “rợn” mới đúng theo ý cụ Nguyễn Du nhỉ?
![]()
Cháu vừa hỏi 1 ông nhà văn ông ấy bẩu Cỏ non xanh rợn chân trời mới đúngChữ "TẬN" em thấy hợp lý hơn. Nó mô tả đúng khung cảnh là mùa xuân cỏ xanh mọc khắp nơi từ nơi tác giả đứng kéo dài đến tận xa tít chân trời.
Nó cũng phù hợp với câu thơ cổ mà cụ Du viết lại: Phương thảo liên thiên bích
Ông ngoại e tuổi ngót trăm, các cháu thì quên hết mà vẫn đọc Kiều vanh vách. Thế mới tài. Cụ cố tổng cũng là người hay nảy Kiều
Bà chị em cũng thuộc 100%
Mình nhớ hồi bé đọc trong Sách giáo khoa thì câu thơ trên là:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Mình cực kỳ thích câu đó nên vẫn ấn tượng đến tận bây giờ! Không biết từ “tận” hay từ “rợn” mới đúng theo ý cụ Nguyễn Du nhỉ?
![]()
Chữ "TẬN" em thấy hợp lý hơn. Nó mô tả đúng khung cảnh là mùa xuân cỏ xanh mọc khắp nơi từ nơi tác giả đứng kéo dài đến tận xa tít chân trời.
Nó cũng phù hợp với câu thơ cổ mà cụ Du viết lại: Phương thảo liên thiên bích
"Xanh rợn chân trời" nghe cảm xúc mạnh hơn so với cảm giác êm đềm của "xanh tận chân trời".Cháu vừa hỏi 1 ông nhà văn ông ấy bẩu Cỏ non xanh rợn chân trời mới đúng
View attachment 9613139
Cứ phải bản tiếng Nôm gốc rồi dịch ra mới chuẩn."Xanh rợn chân trời" nghe cảm xúc mạnh hơn so với cảm giác êm đềm của "xanh tận chân trời".
Truyện Kiều vốn được viết bằng chữ Nôm, nên để tham khảo thì cần tìm lại các bản chữ Nôm xưa. Trong bản Nôm Liễu Văn Đường 1866 (bản cổ nhất hiện có) và bản Kiều Oánh Mậu 1902 (bản khảo chú công phu nhất) thì đều dùng chữ 羡 - tận (chữ gạch chân đỏ trong các ảnh dưới).
Bản Liễu Văn Đường 1866
View attachment 9613262
Bản Kiều Oánh Mậu 1902
View attachment 9613261
Chữ Nôm được phát triển dựa trên chữ Hán, để ghi âm tiếng Việt, nên rất phức tạp, thiếu tính thống nhất, nhất là với các âm thuần Việt, tính phổ cập của chữ Nôm cũng rất thấp. Truyện Kiều hơn 3000 câu thơ lục bát, lưu truyền trong dân gian chủ yếu là truyền khẩu, nên việc tam sao thất bản, ngay cả với các bản khắc in cũng là tất yếu.
Quan trọng nhất là cả đoàn làm phim từ đứa viết kịch bản cho đến đứa diễn viên có đứa nào đọc Kiều theo đúng nghĩa đâu.Tại sao ?
Tại sao các bộ phim VN làm dựa theo truyện Kiều (Nguyễn Du) đều thất bại thảm hại ?
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là một kiệt tác văn học bất hủ, thấm sâu vào tâm thức của nhiều thế hệ người Việt. Chính vì cái bóng quá lớn của nguyên tác, việc chuyển thể tác phẩm này lên màn ảnh rộng luôn là một "bài toán tử thần" đối với các nhà làm phim.
Những bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng hoặc chuyển thể từ Truyện Kiều (gần đây nhất là phim Kiều của đạo diễn Mai Thu Huyền) đều gặp phải thất bại thảm hại cả về doanh thu lẫn chất lượng nghệ thuật. Lý do nằm ở một vài nguyên nhân cốt lõi sau:
1. Cái bóng quá lớn của nguyên tác và tâm lý khán giả
Truyện Kiều đã có một đời sống riêng kéo dài hàng thế kỷ trong lòng công chúng. Từ học sinh phổ thông cho đến các nhà nghiên cứu, ai cũng có một hình tượng Thúy Kiều, Thúc Sinh, Từ Hải hay Hoạn Thư của riêng mình.
2. Kịch bản non tay: Sáng tạo tùy tiện hoặc cắt xén vụn vặt
- Sự khắt khe của người xem: Khán giả Việt Nam bước vào rạp với một tâm thế chấm điểm và so chiếu rất nghiêm khắc. Bất kỳ một sự thay đổi nào về tính cách nhân vật hay tình tiết truyện nếu không đủ tinh tế đều dễ dàng bị coi là "phá nát tác phẩm".
Truyện Kiều là một chuỗi bi kịch kéo dài suốt 15 năm lưu lạc với hệ thống nhân vật đồ sộ. Để gói gọn điều này vào 90 - 120 phút phim là điều cực kỳ khó.
3. Diễn xuất và tạo hình nhân vật mờ nhạt
- Tập trung sai trọng tâm: Như trong bộ phim Kiều (2021), biên kịch lại chọn cắt phăng giai đoạn mấu chốt của cuộc đời Kiều để biến bộ phim thành một câu chuyện tình tay ba mang hơi hướng "đánh ghen" thuần túy giữa Kiều - Thúc Sinh - Hoạn Thư. Việc hạ thấp tầm vóc của tác phẩm xuống thành một vở drama tình ái tầm thường đã khiến những người yêu mến nguyên tác phẫn nộ.
- Thêm thắt yếu tố kỳ ảo (fantasy) lạc quẻ: Việc đưa vào các nhân vật hư cấu hay các phân cảnh siêu nhiên (như hồn ma Đạm Tiên đi theo bảo vệ Kiều một cách khiên cưỡng) làm mất đi tính hiện thực và chiều sâu nhân văn vốn có của tác phẩm.
4. Thiếu tư duy điện ảnh và ngôn ngữ hình ảnh yếu
- Casting chưa tới: Tìm được một diễn viên vừa có nhan sắc "nghiêng nước nghiêng thành", "sắc sảo mặn mà" như Kiều, lại vừa phải có nội tâm sâu sắc để gánh vác bi kịch cuộc đời là một thử thách quá tầm với các đạo diễn Việt. Các gương mặt được chọn thường là những người mẫu, diễn viên mới, có ngoại hình sáng nhưng diễn xuất còn đơ cứng, chưa lột tả được nỗi đau và chiều sâu của nhân vật.
- Tạo hình lai căng: Phục trang và bối cảnh của các phim chuyển thể từ Truyện Kiều thường bị chỉ trích là thiếu nghiên cứu lịch sử cổ trang nghiêm túc, màu sắc lòe loẹt, hoặc lai căng giữa phong cách Trung Hoa cổ đại và phục trang cách tân, tạo cảm giác giả tạo, giống như các chương trình sân khấu ca nhạc hơn là điện ảnh chuyên nghiệp.
Truyện Kiều của Nguyễn Du lay động lòng người nhờ ngôn từ thơ ca đỉnh cao và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tuyệt bút. Khi chuyển sang ngôn ngữ điện ảnh, các nhà làm phim lại thất bại trong việc chuyển hóa những áng thơ đó thành khung hình mang tính biểu tượng. Nhịp phim thường bị rời rạc, lạm dụng các lời thoại sáo rỗng để giải thích thay vì để nhân vật tự bộc lộ qua hành động, khiến bộ phim trở nên ngột ngạt và thiếu tính nghệ thuật.
Tóm lại: Thất bại của các bộ phim làm về Truyện Kiều là bài học đắt giá cho thấy: Chỉ có lòng ngưỡng mộ tác phẩm thôi là chưa đủ. Muốn chạm vào một kiệt tác, nhà làm phim không chỉ cần một nguồn kinh phí lớn, mà phải có một tư duy biên kịch cực kỳ sắc bén, sự thấu hiểu sâu sắc về văn hóa cổ thuật, và trên hết là một ngôn ngữ điện ảnh đủ tầm để "dịch" những câu thơ lục bát tài hoa sang những thước phim ám ảnh thị giác.
(cháu dốt văn nên nhờ vả chút, các cụ thông cảm)
Cụ Du là điển hình của các văn nhân, nho sĩ ngày xưa. Đọc, nhớ và trích dẫn rất nhiều các điển tích, thơ phú của tiền nhân. Cái giỏi văn ngày xưa là vậy. Như em đã vẽ trong tranh AI, bản thân cái câu cỏ non xanh tận (rợn) chân trời cũng là câu thơ cổ nên bản gốc có thể là chữ tận chân trời (liên thiên bích). Còn chữ rợn có thể hình thành qua truyền miệng, nó dễ nhớ, dễ hình tượng và dân dã hơn."Xanh rợn chân trời" nghe cảm xúc mạnh hơn so với cảm giác êm đềm của "xanh tận chân trời".
Truyện Kiều vốn được viết bằng chữ Nôm, nên để tham khảo thì cần tìm lại các bản chữ Nôm xưa. Trong bản Nôm Liễu Văn Đường 1866 (bản cổ nhất hiện có) và bản Kiều Oánh Mậu 1902 (bản khảo chú công phu nhất) thì đều dùng chữ 羡 - tận (chữ gạch chân đỏ trong các ảnh dưới).
Bản Liễu Văn Đường 1866
View attachment 9613262
Bản Kiều Oánh Mậu 1902
View attachment 9613261
Chữ Nôm được phát triển dựa trên chữ Hán, để ghi âm tiếng Việt, nên rất phức tạp, thiếu tính thống nhất, nhất là với các âm thuần Việt, tính phổ cập của chữ Nôm cũng rất thấp. Truyện Kiều hơn 3000 câu thơ lục bát, lưu truyền trong dân gian chủ yếu là truyền khẩu, nên việc tam sao thất bản, ngay cả với các bản khắc in cũng là tất yếu.
Rợn này có thể nghĩa là từ lan ( lan ra ).Cụ Du là điển hình của các văn nhân, nho sĩ ngày xưa. Đọc, nhớ và trích dẫn rất nhiều các điển tích, thơ phú của tiền nhân. Cái giỏi văn ngày xưa là vậy. Như em đã vẽ trong tranh AI, bản thân cái câu cỏ non xanh tận (rợn) chân trời cũng là câu thơ cổ nên bản gốc có thể là chữ tận chân trời (liên thiên bích). Còn chữ rợn có thể hình thành qua truyền miệng, nó dễ nhớ, dễ hình tượng và dân dã hơn.
Thời đó bao bủng chẳng có, qh thì nhõn Doggy style, chỉ đôi năm là toangCụ nào k tin thì hỏi cụ Húp sụp sụp
Gọi là tầm chương trích cú, ẩn dụ theo các điển cố xưa trong văn học, lịch sử của Trung Quốc.Cụ Du là điển hình của các văn nhân, nho sĩ ngày xưa. Đọc, nhớ và trích dẫn rất nhiều các điển tích, thơ phú của tiền nhân. Cái giỏi văn ngày xưa là vậy. Như em đã vẽ trong tranh AI, bản thân cái câu cỏ non xanh tận (rợn) chân trời cũng là câu thơ cổ nên bản gốc có thể là chữ tận chân trời (liên thiên bích). Còn chữ rợn có thể hình thành qua truyền miệng, nó dễ nhớ, dễ hình tượng và dân dã hơn.
Nghĩa là xanh tới mức làm cho người nhìn phải sợ hãi à?Cháu vừa hỏi 1 ông nhà văn ông ấy bẩu Cỏ non xanh rợn chân trời mới đúng
View attachment 9613139
15 năm lưu lạc của Kiều, thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần, tổng thời gian 2 lần ở thanh lâu chỉ khoảng hơn 3 năm. Thời gian chung sống với Thúc sinh khoảng 1,5 năm, với Từ Hải khoảng 5,5 năm.Cụ cho cái quần hai ống vào máy giặt, 15 năm nó ra hình gì? Ờ nếu cụ vò tay tuần 1 lần trong 15 năm nó sẽ như nào?
Cụ nào cũ người mới ta thì xin mời, cái xã hội trọng nam khinh nữ mà nữ ở thanh lâu thì vùi hoa dập liễu còn là nhẹ, cái mền rách coi là quá may. Anh hùng hào kiệt, chính nhân quân tử mấy người, tiểu nhân hạ tiện hằng sa số … có gì là ko tỏ. Vãi Giác Duyên buông tay hợp lý, có còn gì đâu.15 năm lưu lạc của Kiều, thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần, tổng thời gian 2 lần ở thanh lâu chỉ khoảng hơn 3 năm. Thời gian chung sống với Thúc sinh khoảng 1,5 năm, với Từ Hải khoảng 5,5 năm.
.