- Biển số
- OF-488634
- Ngày cấp bằng
- 14/2/17
- Số km
- 578
- Động cơ
- 2,510 Mã lực
Chị này có phải là tổ nghề của ford f không ạ?
Anh Kim chưa kịp xơ múi gì mà cụ.Đọc hết chuyện thì hầu hết những người dùng sữa bò đều không có kết cục tốt đẹp ( chừ chú Kim - đến lúc gặp chú Kim thì cụ Du không viết thêm nữa nên không biết về sau thế nào )![]()
Không. Chị này mãi sau thời nhà Minh.Chị này có phải là tổ nghề của ford f không ạ?
Sau 15 năm vào động phòng rồi mà cụ.Anh Kim chưa kịp xơ múi gì mà cụ.
Thế nào mà tay Vương Quan già khú đế thếMinh họa Kiều - Vân, trường phái khá là trừu tượng (để có thể cảm nhận vẻ đẹp).
View attachment 9613898

Trăm năm vẫn chuẩn phỏng cụ.Một ngày lạ tiếng sai nha
làm cho khốc hại chẳng qua vì xèng
Sau 15 năm vào động phòng rồi mà cụ.
Còn xơ múi, xơ mít gì thì chỉ cụ Du mới biết.
Em đoán chú Kim sợ nên cũng chỉ nhìn thôi chứ không dám ăn.
Cảm ơn mợ. Mình bổ sung thêm nội dung sau:"Xanh rợn chân trời" nghe cảm xúc mạnh hơn so với cảm giác êm đềm của "xanh tận chân trời".
Truyện Kiều vốn được viết bằng chữ Nôm, nên để tham khảo thì cần tìm lại các bản chữ Nôm xưa. Trong bản Nôm Liễu Văn Đường 1866 (bản cổ nhất hiện có) và bản Kiều Oánh Mậu 1902 (bản khảo chú công phu nhất) thì đều dùng chữ 羡 - tận (chữ gạch chân đỏ trong các ảnh dưới).
Bản Liễu Văn Đường 1866
View attachment 9613262
Chữ Nôm được phát triển dựa trên chữ Hán, để ghi âm tiếng Việt, nên rất phức tạp, thiếu tính thống nhất, nhất là với các âm thuần Việt, tính phổ cập của chữ Nôm cũng rất thấp. Truyện Kiều hơn 3000 câu thơ lục bát, lưu truyền trong dân gian chủ yếu là truyền khẩu, nên việc tam sao thất bản, ngay cả với các bản khắc in cũng là tất yếu.
| Thời kỳ | Cách viết phổ biến | Ghi chú |
| Thế kỷ XIX (Nguyễn Du) | tận chân trời | Bản gốc trong các bản Nôm cổ |
| SGK 1960–1990 | rợn chân trời | Ảnh hưởng từ bản phiên âm & diễn giải khác |
| SGK hiện nay | tận chân trời | Chuẩn hóa theo nghiên cứu văn bản học hiện đại |
cụ Du sinh năm 1766, chữ Nôm là sáng tạo của các nhà Nho dùng bộ chữ Hán để ghi âm tiếng Việt. Tác phẩm chữ Nôm ghi nhận sớm nhất là Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi (1380-1442).Hóa ra người Việt mình xưa nay không có chữ Viết.
Đến thời Truyện Kiều (1500-1600) thì mới có chữ nôm, tức là dùng phiên âm Việt chữ Nôm để viết Truyện Kiều. Còn trước đó, các tác phẩm văn học toàn dành cho lớp quý tộc vua chúa quan lại đọc, và có người chỉ huy quân đội đọc văn chiếu, quyết định nghị quyết cho quân và bình dân nghe để thực hiện. Chính vì thế các áng văn thơ cổ, người Việt hiện nay nghe lại trúc trắc vì nó dùng để công bố cho vua chúa phương Bắc là chính. Còn lại chính mấy ông "chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ tây đông, con gái Phú Ông tên là Mầu thị ........... " mới chính là phát ngôn viên trên toàn quốc. Cơ bản mấy ông "chiềng làng chiềng chạ .... " biết đọc văn bản chữ nôm, còn dân thì chịu.
Truyện Kiều cũng là tác phẩm bọn con hát, hát cho con nhà giàu nghe, và chủ yếu là con quan các chúa đàng Trong (các chúa Nguyễn và dâu rể). Bọn nhà nghèo bình dân, tối đến vợ chồng lên giường từ 7h tối, 3 xoa một đập làm tý rồi đi ngủ.
Văn học đàng ngoài có lẽ cũng không có gì ngoài mấy bài thơ nôm viết trên tường. Đỉnh cao thơ nôm sau Truyện Kiều là các bài thơ của Hồ Xuân Hương. Các bài thơ của bà Hồ Xuân Hương là đỉnh cao thơ nôm, vì nó đúng là phiên âm người Việt gốc, không lẫn với âm Hán.
Xơ mít thì có, xơ múi thì không:Động phòng dìu dặt chén mồi,Cả xơ lẫn múi rồi cụ. Âu-vờ-nai luôn
Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa.
Những từ sen ngó đào tơ,
Mười lăm năm mới bây giờ là đây!
Tình duyên ấy hợp tan này,
Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao.
Canh khuya bức gấm rủ thao,
Dưới đèn tỏ rạng má đào thêm xuân.
Tình nhân lại gặp tình nhân,
Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình.
Nghề này có trước cả thời nhà Tần.Chị này có phải là tổ nghề của ford f không ạ?
Căn cứ vào tiết lộ của cụ Nguyễn Du theo khổ thơ dưới đây, em cho rằng chú Kim đã đánh chén một bữa trọn vẹn, trong một khung cảnh rất lãng mạnAnh Kim chưa kịp xơ múi gì mà cụ.
:
.
."Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao" là Mã Giám Sinh chứ không phải Sở Khanh cụ ơi.Gu của Kiều đa dạng phết.
Từ Kim Trọng thư sinh, nho nhã:
"Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa".
Đến Từ Hải cao to, vạm vỡ
"Vai năm thước rộng, thân mười thước cao".
Rồi đến cả Sở Khanh bóng loáng:
"Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao".
Thấy mỗi điểm chung là trai đẹp dù mỗi kiểu rất khác nhau.
Cụ Nguyễn Du mả bổ xung thêm quả quan to, hói, lùn, bụng phệ trong ds của Kiều thì đúng đủ bộ.
E mạo muội cụ thử thêm nhân vật quan to ntn:
Đường đường đầu đội kim mao,
Bỏ ra mới thấy tóc cao nửa đầu.
Dáng người bệ vệ uy phong,
Bước qua khung cửa thừa ngang, thiếu dài.
LẢY KIỀU, LẨY KIỀU chứ không phải NẢY KIỀU cụ ơi.Ông ngoại e tuổi ngót trăm, các cháu thì quên hết mà vẫn đọc Kiều vanh vách. Thế mới tài. Cụ cố tổng cũng là người hay nảy Kiều
Chính xác là 3254 câu lục bát cụ ơi.Đúng là tác phẩm kinh điên. Kể truyện bắng mấy trăm câu lục bát, mà câu nào cũng hay. Đúng chất Đại Thi Hào.
làm gì được chọn.Gu của Kiều đa dạng phết.
Từ Kim Trọng thư sinh, nho nhã:
"Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa".
Đến Từ Hải cao to, vạm vỡ
"Vai năm thước rộng, thân mười thước cao".
Rồi đến cả Sở Khanh bóng loáng:
"Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao".
Thấy mỗi điểm chung là trai đẹp dù mỗi kiểu rất khác nhau.
Cụ Nguyễn Du mả bổ xung thêm quả quan to, hói, lùn, bụng phệ trong ds của Kiều thì đúng đủ bộ.
E mạo muội cụ thử thêm nhân vật quan to ntn:
Đường đường đầu đội kim mao,
Bỏ ra mới thấy tóc cao nửa đầu.
Dáng người bệ vệ uy phong,
Bước qua khung cửa thừa ngang, thiếu dài.

"Buồn trông ngọn nước mới sa" cụ ơi. Chắc cụ gõ nhầm.Âm ức trúc trắc thì có cái Văn tế thập loại chúng sinh của cụ Du đúng thế thật. Nhưng truyện Kiều thì khác, không phải ở cốt truyện mượn bên Tàu hay không phải cái số truân chuyên của cô Kiều, những cái đó chỉ là cái khung cái giá để câu chữ đắp vào. Mà câu chữ của truyện Kiều là tiếng ta đấy, tiếng ta có hết ở truyện Kiều mà truyện Kiều là tiếng ta. Thế mới là giá trị.
Em ví dụ phát, về đoạn sau đây tả một cái nỗi buồn và là một cái nỗi buồn rất đẹp mà tiếng ta thể hiện:
"Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới đã
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt nước một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Chung quanh những nước non người
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu"
Trong bằng ấy chữ, đa số là tiếng ta bản địa thảng hoặc có vài chữ Hán Việt mà ở thời của cụ Du thì nào cũng đã Việt hoá để dân gian đều hiểu. Bởi vì nó là tiếng ta nên không cần biết chữ thì các cụ ta đều thuộc và truyền lại cho con cháu qua tiếng ru lời hát. Chứ nếu âm ức trúc trắc là sao mà còn đến giờ.
"Một trai con thứ rốt lòngLâu rồi em ko nhớ. Cu cậu út nhà Kiều tên gì cc nhỉ. Có làm ăn gì không ?
Cc cứ thấy gái là bu vào quan tâm Kiều với Vân..bỏ quên thằng bé.
Cậu ấm cậu ấm...cụ nhỉ"Một trai con thứ rốt lòng
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia". Tên Quan, họ Vương cụ ơi.