Ngày đầu năm Dương lịch, sau khi tiễn mấy cái toa tàu về kê, dọn dẹp nhà cửa xong, hiếm hoi mới có dịp lễ ở lại Thủ đô nên em tranh thủ lang thang để tận hưởng chút không khí chậm chậm, bớt xô bồ của HN.
Điểm đến của em là đây, cụ
Honghen2008 ạ
Ngày lễ, nhưng Đền khá vắng vẻ, vé vào 10k, gửi xe 10k, sau 17h thì ko bán vé nữa, vào cửa tự do.
Trấn Vũ quán
Treo trước tiền điện là bức nghi môn (lâu thuyền) bằng đồng (?), thường thấy ở các miếu đền của người Hoa. Theo dòng chữ đúc nổi trên đó, thì nghi môn được làm năm Quý Tỵ 1893 niên hiệu Quang Tự, do Hoa Đăng hội - Thụy Quang đường kính tống.
Cửa gỗ sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo các họa tiết rồng mây, túng hạc, cúc trúc,... Đôi câu đối nổi bật trước cửa: HIển hóa tham thiên địa - Thần minh diệu cổ kim.
Bức chạm theo đồ án chuột - nho mang ý nghĩa sung túc, no đủ, sinh sôi nảy nở.
Nội điện, với rất nhiều hoành phi, câu đối, văn thơ chữ Hán của các danh sỹ đời trước.
Sắc phong của vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 31 - 1770). Bên trên là bức khảm bài thơ thất ngôn bát cú của Mai Khê tú tài Hoàng Mạnh Trí.
Văn thơ của cụ Long Cương Cao Xuân Dục (1843-1923).
Tấm đồng đúc văn thơ của vua Thiệu Trị, đúc năm Thiệu Trị thứ 2 (1842)
Quang Lộc tự Thiếu khanh, Hà Nội Đốc học Vũ Phạm Hàm (1864 - 1906) bái đề.
Quang Lộc tự khanh Tham biện các vụ Bùi Quang Tạo bái đề.
Tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ, đúc năm 1677 triều vua Lê Hy Tông, cao gần 4m, nặng 4 tấn, tay trái bắt quyết, tay phải cầm gươm có rắn quấn chống lên lưng rùa (rắn tượng trưng cho sức mạnh, rùa tượng trưng cho sự trường tồn). Hai bên tượng là đôi câu đối do Phụ chính đại thần, Văn Minh điện Đại học sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902) bái đề.
Trấn Vũ quán khánh - Khánh đồng Trấn Vũ quán, đúc năm 1677 (?).
Tam quan nhìn từ bên trong. Hai cửa hai bên, bên trái đề "Tẫn nhập", bên phải "Huyền xuất" với ý nghĩa vào cửa Tẫn, ra cửa Huyền. Có lẽ lấy ý từ câu Huyền Tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn - Cửa Huyền Tẫn chính là mẹ, là cội rễ của Trời Đất (Đạo đức kinh).