TƯỚNG GIÁP TỪNG ĐẶT CÂU HỎI ... NBCT CÓ ĐỘNG CƠ GÌ?
Khi còn tích cực hoạt động, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng đọc NBCT và nêu: “... Có một cuốn sách lên án chiến tranh. Người viết là Bảo Ninh, con anh Hoàng Tuệ. Động cơ chưa biết như thế nào, nhưng mô tả gian khổ của bộ đội là bấp bênh, vô vọng...”
Có lẽ nếu còn tại thế tướng Giáp bây giờ đã hiểu vì sao có NBCT và vì sao nó được đưa vào SGK và vinh danh.
Có nhiều người lên tiếng bảo vệ sự tồn tại của cuốn NBCT với lý do đó là quyền viết văn của tác giả, quyền bày tỏ cảm xúc nỗi buồn, cần được tôn trọng góc nhìn khác. Hôm nay, người viết cũng đưa ra thêm lý giải cho quan điểm phản đối NBCT của mình.
Sự thật là NBCT được viết vào năm 1987, sau khiến tranh 12 năm. Trước đó, đầu những năm 1980 sau những khuất tất, tai tiếng trong công việc của Bảo Ninh (tên thật là Phương) tại một viện nghiên cứu sinh học, phải khai trừ Đảng, buộc thôi việc.
Là người đôi lúc cũng có xúc cảm trong chuyện đời, cũng từng 4-5 lần thơ hóa tâm tưởng của mình dù là vài ba câu hoặc 1 đoạn ngắn, người viết thấy rằng xúc cảm đó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian không quá lâu, nếu không thể hiện nó ngay, rất khó có lại xúc cảm để viết sau một vài tháng. Đây là quy luật của thế gian, mọi thứ có sinh có diệt, từ vật chất cho đến tinh thần.
Một người trải qua chiến tranh, với những người có tâm hồn văn chương thì cảm xúc thực sự khi trải qua chiến tranh sẽ thường được viết lại ngay từ thời điểm chiến tranh như "Mãi mãi tuổi 20" được viết bởi Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc trong thời gian nhập ngũ, từ cuối năm 1971 đến tháng 5 năm 1972 hoặc chỉ sau khi chiến tranh kết thúc một thời gian không dài. Đó là cảm xúc tự nhiên, hiện thực thực sự của những người trải qua chiến tranh. Còn đối với những người viết về đề tài này cách khá xa thời chiến hàng thập kỷ thì đó không phải là cảm xúc tự nhiên, hiện thực mà nó là nghề văn, nghề viết chữ theo một ý tưởng nào đó, mục đích nào đó, phong cách nào đó và thậm chí một âm mưu nào hoặc được đặt hàng bởi ai đó. Khi ấy, dưới vỏ bọc sáng tạo văn chương, người ta có thể lãng mạn hóa, tiểu thuyết hóa, bi kịch hóa, hài kịch hóa, hư cấu hóa... và nếu không có ý thức, trách nhiệm với cộng đồng, người ta hoàn toàn có thể cài vào một tác phẩm văn học một lối tư duy, một cách nghĩ, một câu chuyện, một tình huống gây tranh cãi, phản cảm ... theo cách mà không có luật nào quy định chi tiết, tỉ mỉ, cụ tỷ đến mức áp dụng đến từng câu, từng từ dùng trong đó. Nhiều sự việc luật pháp cũng khó can thiệp bởi khuôn khổ pháp lý, mà chỉ có thể can thiệp bằng dư luận, bức xúc của số đông.
Mạng sống là quý giá nhất, số lượng người mất và trở thành thương phế binh, không thể sống đời bình thường đã quá đủ nói lên mặt trái của chiến tranh. Không cần tô vẽ một nỗi buồn nào thêm nữa bởi vì một người lính còn sống nếu thực sự có xúc cảm thì sẽ thương đồng đội mình đã chết hoặc trở thành tàn tật, chứ không phải ôm ấp nỗi buồn của mình. Đời người ta, bản năng tự nhiên vốn sống theo hướng tránh khổ, tìm vui, chẳng ai sống mãi với nỗi buồn hay tình yêu quá khứ. Nếu thực sự yêu thương mà bị chia lìa, người ta vẫn sống có buồn những cũng với ký ức yêu thương, còn nếu không yêu thương sâu đậm người ta rất nhanh tìm một mối quan hệ mới. Rất nhiều liền ông cứ nghĩ hoặc nói sẽ yêu mãi rồi khi một cuộc tình hay cuộc hôn nhân kết thúc, họ có mối quan hệ mới một cách nhanh chóng và đầy bất ngờ. Chẳng đáng tin một liền ông mang cảm xúc buồn hàng thập kỷ ngoại trừ liền ông đó bị tự kỷ, trầm cảm. Trường hợp trầm cảm tự kỷ thì càng cần tìm cách chấm dứt cảm xúc đó mới là việc nên làm.
Với những nhận định như trên, người viết thấy rằng, NBCT nó chẳng phải nỗi buồn hiện thực chiến tranh nào cả, nó chẳng phải cảm xúc tự nhiên, chân thực của con người trải qua chiến tranh. Nếu là cảm xúc tự nhiên hiện thực thì nên nhìn với cái nhìn bao dung, cảm thông dù cảm xúc cũng còn có lúc đúng lúc sai. Với trực cảm nội tâm của mình, người viết tin rằng, một nhà văn hiện thực về bi vẫn thấy bi mà thương, bi mà tráng trong đó dù có những xấu ác, buồn đến nao lòng, nó vẫn phảng phất trong đó khát vọng sống về lối sống nhăn văn, nhân ái, nhân tình như chị Dậu hay Lão Hạc... Không ít người không nhận ra ranh giới này và tìm cách bảo vệ quyền được bày tỏ của tác giả, rồi quyền bày tỏ xúc cảm của con người. Nhưng ở đây nó là một kiểu bôi nỗi buồn ra trong một quyển sách theo cách tư duy ngược, có mục đích, có ý đồ của một nghề dùng chữ, nghĩa để phóng đại mặt nào đó của chiến tranh, dùng con chữ để biến chuyện nhỏ thành chuyện lớn, làm mặt trái lấn át mặt phải... Khi người ta làm nghề thì cái nghề đó nó phải được xem xét trong tiêu chí có phục vụ lợi ích số đông hay không. Và đây là lựa chọn và trách nhiệm của câu chuyện định hướng con người ở hiện tại và tương lai.
Giống như một người nghĩ bậy và chửi tục, chửi bậy vì bức xúc. Họ có thể ngồi trong nhà tự nghĩ và tự nói với chính mình mà không ai có thể can thiệp. Nhưng khi ra nơi công cộng thì việc đó phải cân nhắc có ảnh hưởng tới người khác hay không. Trong phòng ngủ riêng tư, nam nữ gần gũi nhau trong sự chia sẻ cảm xúc của tâm hồn và tiếp xúc thể xác với sự thúc đẩy của bản năng nhưng người ta không thể làm điều đó giữa đám đông vì đó là hành vi mà người có nhận thức đúng mực xem là biến thái, bệnh hoạn, bầy đàn ngang loài vật. Cũng như vậy, NBCT với những tình huống gợi dục có chăng nên để là cuốn sách ngoài luồng, đọc tham khảo riêng tư, không thể được đưa cài cắm vào nội dung sách giáo khoa chuẩn mực cho học sinh lớp 9 và lớp 12 một cách lệch lạc, thiếu trách nhiệm như cách Bộ Giáo Dục đưa vào từ 2018.
Nhà nước Việt Nam đang có khẩu hiệu trong giáo dục chú trọng về Đức trong xây dựng Tài của con người. Ở lứa tuổi mới lớn, bắt đầu tò mò về chuyện tính dục, học sinh cần học cách kiếm chế bản năng, giữ mình trong sự thu hút giới tính, để tập cho mình có khả năng khước từ cám dỗ ở tuổi trưởng thành, tránh các câu chuyện lăng nhăng, ngoại tình, ngoài luồng vốn là một trong các lý do phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đình ở hiện tại mà nó cũng là biểu hiện của thiếu Đức của xã hội.
Một cuốn sách được viết có chủ đích theo lối phản tư, dùng ý thức tư duy ngược, nhìn khác đi, phóng đại lên, bi kịch hóa, buồn bã hóa, vô định hóa, rời rạc hóa, không phải cảm xúc văn chương hiện thực tự nhiên đồng thời cài vào nhiều chi tiết dung tục không hợp lứa tuổi thì làm gì có mục đích giáo dục ngoài mục đích phá nát nền giáo dục một cách âm thầm từ từ?