Em cũng yêu thích thế giới quan Phật giáo và có tìm hiểu, chiêm nghiệm từ hồi còn đang là sinh viên. Có điều, đây là lĩnh vực thuộc về tâm thức vô hình nên không dễ mà chia sẻ, bày tỏ. Nhất là khi, giáo lý thì mênh mông, đồ sộ, có nguồn gốc từ xa xưa, gần 2,600 năm rồi, trải qua nhiều thời kỳ biên tập, biên dịch lại bởi ngôn ngữ, địa phương, văn hóa khác nhau và những trải nghiệm, thấy biết của mình thì đôi khi phụ thuộc vào cảm nhận riêng của mình, không phải lúc nào cũng luôn đúng. Mới đây, lúc rảnh rỗi em cũng mới biên một bài post facebook, cụ/mợ có thời gian thì đọc cho vui:
View attachment 9593323
MỘT GÓC NHÌN VỀ CHÁNH PHÁP
Đôi lúc nghe hoặc đọc thấy ai đó đề cập đến “chánh pháp”, “tượng pháp”, “mạt pháp” nhưng bản thân người viết cũng ít khi sử dụng đến những từ như tượng pháp hay mạt pháp dù cũng hay viết lách, bày tỏ quan điểm về chủ đề này. Theo nhiều nguồn thì từ đó được dùng để chia dòng chảy Phật giáo thành ba giai đoạn Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp mà có nguồn gốc từ kinh điển đại thừa (phát triển). Trong kinh điển nguyên thủy không có nhắc đến cụm từ này mà nói đến các pháp có sinh có diệt. Chánh pháp cũng như vậy, có thịnh, có suy, có xuất hiện và sẽ đến lúc đoạn diệt và đề cập đến chánh pháp và tà pháp.
Theo kinh điển ghi chép bởi cả hai nguồn là nguyên thủy và phát triển thì đức Thích Ca sau khi giác ngộ đã cất bước gieo duyên giáo hóa cho rất nhiều đệ tử, chúng sinh trong đó có người thì sau khi được nghe giảng thì ngay lập tức chứng quả, từ sơ quả vào dòng cho đến quả thánh cao nhất trong tứ quả và có người cũng chỉ nhận được pháp học và tiếp tục tu học tiếp.
Vào thời khắc cuối cùng trước khi nhập diệt, Phật có nói với ngài Ananda, trong suốt 45 năm giáo hóa, Ngài luôn thuyết giảng với đôi bàn tay mở, không có gì giấu diếm, ẩn mật gì trong giáo pháp. Và ngài Ananda, đệ tử đa văn bậc nhất, người đã chứng sở quả, và được chọn làm thị giả cho đức Phật suốt 25 năm cuối cùng, luôn gần gũi, thân cận bên cạnh đức Phật, thì chưa chứng thêm quả thánh nào. Mấy tháng sau Phật nhập diệt, ngài Ananda kịp tinh tấn chuyên tâm thực tập, và chứng thánh quả cao nhất và kịp tham gia vài trò quan trọng trong kỳ kiết tập kinh điển đầu tiên của Phật giáo. Không vị tổ nào, thiền sư nào trí tuệ, thiện xảo, khéo léo, tinh tế hơn Phật, nhưng thánh quả là quá trình học, hiểu và thực hành tự thân cho tròn đức hạnh, đúng pháp, với đủ duyên lành thì quả tới, Phật không làm thay được việc này, không có thủ thuật, kỹ thuật ẩn mật gì nơi giáo pháp của Ngài.
Trong cuộc đời giáo hóa, Ngài đều dùng trí tuệ để trình bày hướng dẫn một cách giản dị, gần gũi nhất có thể dù những trạng thái, phẩm chất, lộ trình của tâm thì rất phức tạp, đan xen với đủ thứ chuyện. Vậy thì nên hiểu Chánh Pháp thực sự là gì? Theo sự thấy, biết còn hạn hẹp của người viết, Chánh Pháp là phương tiện, phương pháp học hiểu, thực hành đưa đến kết quả giải thoát mà đức Thích Ca thuyết giảng mà gói gọn trong lộ trình duy nhất là con đường trung đạo hay Bát chánh đạo, với chánh kiến hữu học căn bản đầu tiên là Khổ, Vô thường, Vô ngã, Nhân quả rồi đến Tứ niệm xứ, Tứ thiền, Tứ quả... Chánh pháp do đó hiểu đơn giản là phương pháp học và hành đúng ý Phật muốn nói, không có gì thần bí, ẩn dụ, ẩn danh, ẩn mật gì cả như Ngài nói suốt 45 năm thuyết pháp với đôi bàn tay mở. Chánh pháp càng không phải kết quả là các trạng thái tâm hỉ lạc, khả năng lý luận thông suốt hay đối đáp thiền ngữ; diệu dụng nơi tuệ của các tầng định, mức chứng quả nói chung, đó là các kết quả mà người thực hành dù có đạt tới cũng không được dính mắc, chấp thủ vào. Các trạng thái này vẫn còn có Tâm thấy, biết các Pháp dù các pháp này là các trạng thái cao siêu và vi tế. Còn có sự tồn tại của Tâm (tâm biết ) và Pháp (đối tượng tiếp xúc của tâm) vốn là bản chất tồn tại của tâm thức của các dạng thức sống, dù là tâm của loài hữu hình hay vô hình của chúng sinh ở cảnh giới thấp đến cảnh giới cao. Chỉ tới khi chứng tứ thiền, chứng tứ quả, có được năng lực tam minh, tâm thức nhớ lại vô lượng kiếp, nhận diện hết các tâm chấp thủ lầm lẫn cho đến khởi đầu đời sống luân hồi, chấm dứt lậu hoặc mới tìm được lời giải cuối cùng về bản chất của đời sống và con đường chấm dứt luân hồi. Khi nhập niết bàn, bằng năng lực của định và tuệ thâm sâu, vị đó xóa bỏ cơ chế tồn tại của bản ngã (tâm thức đại diện cho chính mình), chính thức “chết” trong chuỗi luân hồi.
Như vậy, Chánh Pháp nên hiểu là khi nào còn có người đang thực hành Bát chánh đạo phù hợp với ý của Phật, luôn hướng về đích đến vô ngã, dù là người đó đang là bậc sơ cơ tập học, đang cố gắng tránh dữ, làm lành (nửa đầu của Bát chánh đạo) hay đang tinh tấn thực hành thiền định , thực tập đúng nhất về Chánh niệm, Chánh định (nửa sau của Bát chánh đạo) là đều đang trên con đường chánh pháp. Khi thực tập đúng, thì dù là 7 ngày, 7 tuần, 7 tháng, 7 năm, 7 kiếp hay lâu hơn nữa thì tùy nhân duyên, cứ đi là sẽ tới, nước rót đầy thì sẽ tràn. Khi chưa đủ khả năng xóa được bản ngã thì tâm thức còn tồn tại dưới dạng có chấp ngã, và bản chất sự tồn tại này dưới rung động năng lượng. Khi đó tâm thức là sự pha trộn ở thể năng lượng sáng (thiện- tích cực) và tối (bất thiện- tiêu cực), đan xen, trộn lẫn với nhau. Khi hết trạng thái tích cực nó sẽ chuyển sang trạng thái tiêu cực. Người nào ở không, không hoặc ít làm gì lợi lạc là đang tiêu hao dần các trạng thái tích cực và cuối cùng bị trói buộc trong các trạng thái tiêu cực. Giống như người khi hết cảm giác no (tiêu hết thức ăn hoặc dùng hết thực phẩm dự trữ) thì sẽ là cảm giác đói chi phối, ràng buộc. Thân vật lý không có sự an ổn và tâm cũng không có sự bình thản, định tĩnh khi còn có dấu hiệu của chấp ngã dù là vi tế. Người nào sống thuận theo con đường Bát Chánh, thì như lẽ tự nhiên, người đó tự siêng năng tạo tác, tiếp xúc, gặp gỡ, tương tác với thầy lành, bạn tốt để học hỏi, giao lưu, chia sẻ như một cách thức tiếp thêm nguồn năng lượng tích cực, thiện lành cho tâm thức ở ngay hiện tại chứ không phải tìm cầu quả báo, phước báo ở tương lai dù có thể nó sẽ đến vào thời điểm phù hợp. Người nào sớm chọn sống độc cư, lánh đời, lánh người khi tâm chưa đủ khả năng giải quyết bài toán Vô ngã đều dễ rơi vào đoạn kiến, tưởng là tâm đoạn thế tục, tìm cầu giải thoát nhưng rất có thể đằng sau là sự giấu mặt của tâm tham vọng, tâm tham muốn gieo nhân để gặt quả giải thoát, là một kiểu chấp thủ tà kiến, siêu vọng tưởng, dễ lui sụt dần lúc nào không hay.
Phật không độ được người không có duyên với Ngài, mà đôi lúc phải đệ tử mới hóa độ được vì người đó lại có duyên với đệ tử và cũng có những vị đệ tử chứng Tứ quả nhưng đành xin phép Phật nhập niết bàn vì quán sát thấy không có duyên hóa độ ai. Không vị thầy tăng, ni nào có duyên với tất cả chúng sinh. Vì vậy, mỗi người mong muốn học pháp có thể lại có duyên với vị thầy khác nhau. Nhưng đường lối hay hội chúng nào thực tập với tiêu chí chung là thực hành theo Bát chánh đạo hướng về Vô ngã với biểu hiện là luôn có tâm kính Phật, nói cách khác là luôn có tâm dò sóng hướng tới trạng thái tâm có năng lượng ở thể rất cao, thuần tịnh, vô nhiễm tuyệt đối; có tâm hướng ra phụng sự chúng sinh với tâm từ, thay vì chấp thủ đề cao chính mình; và khiêm tốn, khiêm hạ, bớt chấp công, chấp thủ về sự tồn tại của chính mình thì đó là biểu hiện của Chánh Pháp. Đời sống là bất toàn, sự tồn tại của vạn vật là bất toàn, có sinh tồn thì có ít nhiều ảnh hưởng tới đời sống chúng sinh khác, chính đức Thích Ca, người mà công hạnh phủ trùm cõi quả đất mà cũng vẫn phải trải qua chút dư nghiệp, bị đặt điều vu khống, vu oan, bị chửi bới, bị đệ tử Devadatta chia rẽ, ly khai một nhóm tăng đoàn, bị lăn đá làm chảy máu chân và trải qua cơn tháo dạ khi dùng bữa ăn cuối cùng có lẫn nấm độc, giảng bài pháp cuối cùng, nhập thiền, chấm dứt các loại cảm thọ, các loại tưởng vào Niết bàn tịch diệt.
Một người dù chưa làm gì, mới nhận ra chút lầm lỗi của chính mình, khởi tâm ăn năn, sám hối cũng đã là việc làm đúng với Chánh pháp. Nhưng một lỗi chưa đủ, với tâm chí thành tự sẽ nhìn thấy thêm lỗi mình ngày một sâu xa, vi tế hơn từ đó cảm thông với người khác, lỗi lầm của người khác mà khởi tâm thương yêu, muốn gặp gỡ, chia sẻ, tương trợ, cùng nhau làm việc thiện lành, cố gắng thực tập thiền định, giúp nhau đi trong Chánh đạo trong tinh thần Trung đạo lợi người, lợi mình. Một hội chúng đông, nhưng sống với nhau với lòng nhân từ, luôn cố gắng giúp nhau sửa mình thì có nhiều thuận lợi cho một số cá nhân nổi trội hội đủ duyên có thể tiến xa trên con đường Chánh Đạo, để ánh sáng Giáo pháp sẽ còn tiếp tục chiếu sáng hàng nghìn năm sau.