[Funland] Trà đàm về Phật pháp

Trạng thái
Thớt đang đóng

BDS68

Xe lừa
Người OF
Biển số
OF-7171
Ngày cấp bằng
17/7/07
Số km
37,565
Động cơ
9,830,432 Mã lực
Bụi Mơ mọc trước cổng chùa
Khóm Giềng hậu viện còn đùa gió thu
Nửa đêm nghe tiếng chó tru
Sáng ra đã thấy....ông sư nướng dồi.
Em đọc mà không nhịn được cười :))
 

XPQ

Xe ba gác
Biển số
OF-25733
Ngày cấp bằng
13/12/08
Số km
20,473
Động cơ
580,239 Mã lực
Nơi ở
Trỏng
Cảm ơn các bác. Em tìm hiểu các kiến thức Phật pháp chỉ với mục đích tìm hiểu như tìm hiểu 1 môn triết học thôi ạ và thỉnh thoảng nói chuyện với vài người bạn nước ngoài cũng đang đọc về Phật giáo châu Á. Chứ không phải muốn tu tập/ăn chay vì khổ hay trầm cảm gì cả.
Em cũng có nghe nhiều video/sách nhưng chỉ đọc không mà không có đàm đạo thì hơi khó vào. Nếu bác nào cũng thích tìm hiểu về những cái này thì inbox em ạ.
Mục đích của bác như vậy thì nên tự sưu tầm sách để đọc chứ trên OF là chỗ chém gió toàn những trạng thái dở say dở tỉnh nhất là những chủ đề nhạy cảm. Và tiếp cận PP như một môn triết học thì rất thú vị bác ạ, lại lành!
 

anhtrangvn

Xe tăng
Biển số
OF-117009
Ngày cấp bằng
16/10/11
Số km
1,402
Động cơ
412,911 Mã lực
Em cũng yêu thích thế giới quan Phật giáo và có tìm hiểu, chiêm nghiệm từ hồi còn đang là sinh viên. Có điều, đây là lĩnh vực thuộc về tâm thức vô hình nên không dễ mà chia sẻ, bày tỏ. Nhất là khi, giáo lý thì mênh mông, đồ sộ, có nguồn gốc từ xa xưa, gần 2,600 năm rồi, trải qua nhiều thời kỳ biên tập, biên dịch lại bởi ngôn ngữ, địa phương, văn hóa khác nhau và những trải nghiệm, thấy biết của mình thì đôi khi phụ thuộc vào cảm nhận riêng của mình, không phải lúc nào cũng luôn đúng. Mới đây, lúc rảnh rỗi em cũng mới biên một bài post facebook, cụ/mợ có thời gian thì đọc cho vui:
1778811997713.png


MỘT GÓC NHÌN VỀ CHÁNH PHÁP

Đôi lúc nghe hoặc đọc thấy ai đó đề cập đến “chánh pháp”, “tượng pháp”, “mạt pháp” nhưng bản thân người viết cũng ít khi sử dụng đến những từ như tượng pháp hay mạt pháp dù cũng hay viết lách, bày tỏ quan điểm về chủ đề này. Theo nhiều nguồn thì từ đó được dùng để chia dòng chảy Phật giáo thành ba giai đoạn Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp mà có nguồn gốc từ kinh điển đại thừa (phát triển). Trong kinh điển nguyên thủy không có nhắc đến cụm từ này mà nói đến các pháp có sinh có diệt. Chánh pháp cũng như vậy, có thịnh, có suy, có xuất hiện và sẽ đến lúc đoạn diệt và đề cập đến chánh pháp và tà pháp.

Theo kinh điển ghi chép bởi cả hai nguồn là nguyên thủy và phát triển thì đức Thích Ca sau khi giác ngộ đã cất bước gieo duyên giáo hóa cho rất nhiều đệ tử, chúng sinh trong đó có người thì sau khi được nghe giảng thì ngay lập tức chứng quả, từ sơ quả vào dòng cho đến quả thánh cao nhất trong tứ quả và có người cũng chỉ nhận được pháp học và tiếp tục tu học tiếp.
Vào thời khắc cuối cùng trước khi nhập diệt, Phật có nói với ngài Ananda, trong suốt 45 năm giáo hóa, Ngài luôn thuyết giảng với đôi bàn tay mở, không có gì giấu diếm, ẩn mật gì trong giáo pháp. Và ngài Ananda, đệ tử đa văn bậc nhất, người đã chứng sở quả, và được chọn làm thị giả cho đức Phật suốt 25 năm cuối cùng, luôn gần gũi, thân cận bên cạnh đức Phật, thì chưa chứng thêm quả thánh nào. Mấy tháng sau Phật nhập diệt, ngài Ananda kịp tinh tấn chuyên tâm thực tập, và chứng thánh quả cao nhất và kịp tham gia vài trò quan trọng trong kỳ kiết tập kinh điển đầu tiên của Phật giáo. Không vị tổ nào, thiền sư nào trí tuệ, thiện xảo, khéo léo, tinh tế hơn Phật, nhưng thánh quả là quá trình học, hiểu và thực hành tự thân cho tròn đức hạnh, đúng pháp, với đủ duyên lành thì quả tới, Phật không làm thay được việc này, không có thủ thuật, kỹ thuật ẩn mật gì nơi giáo pháp của Ngài.

Trong cuộc đời giáo hóa, Ngài đều dùng trí tuệ để trình bày hướng dẫn một cách giản dị, gần gũi nhất có thể dù những trạng thái, phẩm chất, lộ trình của tâm thì rất phức tạp, đan xen với đủ thứ chuyện. Vậy thì nên hiểu Chánh Pháp thực sự là gì? Theo sự thấy, biết còn hạn hẹp của người viết, Chánh Pháp là phương tiện, phương pháp học hiểu, thực hành đưa đến kết quả giải thoát mà đức Thích Ca thuyết giảng mà gói gọn trong lộ trình duy nhất là con đường trung đạo hay Bát chánh đạo, với chánh kiến hữu học căn bản đầu tiên là Khổ, Vô thường, Vô ngã, Nhân quả rồi đến Tứ niệm xứ, Tứ thiền, Tứ quả... Chánh pháp do đó hiểu đơn giản là phương pháp học và hành đúng ý Phật muốn nói, không có gì thần bí, ẩn dụ, ẩn danh, ẩn mật gì cả như Ngài nói suốt 45 năm thuyết pháp với đôi bàn tay mở. Chánh pháp càng không phải kết quả là các trạng thái tâm hỉ lạc, khả năng lý luận thông suốt hay đối đáp thiền ngữ; diệu dụng nơi tuệ của các tầng định, mức chứng quả nói chung, đó là các kết quả mà người thực hành dù có đạt tới cũng không được dính mắc, chấp thủ vào. Các trạng thái này vẫn còn có Tâm thấy, biết các Pháp dù các pháp này là các trạng thái cao siêu và vi tế. Còn có sự tồn tại của Tâm (tâm biết ) và Pháp (đối tượng tiếp xúc của tâm) vốn là bản chất tồn tại của tâm thức của các dạng thức sống, dù là tâm của loài hữu hình hay vô hình của chúng sinh ở cảnh giới thấp đến cảnh giới cao. Chỉ tới khi chứng tứ thiền, chứng tứ quả, có được năng lực tam minh, tâm thức nhớ lại vô lượng kiếp, nhận diện hết các tâm chấp thủ lầm lẫn cho đến khởi đầu đời sống luân hồi, chấm dứt lậu hoặc mới tìm được lời giải cuối cùng về bản chất của đời sống và con đường chấm dứt luân hồi. Khi nhập niết bàn, bằng năng lực của định và tuệ thâm sâu, vị đó xóa bỏ cơ chế tồn tại của bản ngã (tâm thức đại diện cho chính mình), chính thức “chết” trong chuỗi luân hồi.

Như vậy, Chánh Pháp nên hiểu là khi nào còn có người đang thực hành Bát chánh đạo phù hợp với ý của Phật, luôn hướng về đích đến vô ngã, dù là người đó đang là bậc sơ cơ tập học, đang cố gắng tránh dữ, làm lành (nửa đầu của Bát chánh đạo) hay đang tinh tấn thực hành thiền định , thực tập đúng nhất về Chánh niệm, Chánh định (nửa sau của Bát chánh đạo) là đều đang trên con đường chánh pháp. Khi thực tập đúng, thì dù là 7 ngày, 7 tuần, 7 tháng, 7 năm, 7 kiếp hay lâu hơn nữa thì tùy nhân duyên, cứ đi là sẽ tới, nước rót đầy thì sẽ tràn. Khi chưa đủ khả năng xóa được bản ngã thì tâm thức còn tồn tại dưới dạng có chấp ngã, và bản chất sự tồn tại này dưới rung động năng lượng. Khi đó tâm thức là sự pha trộn ở thể năng lượng sáng (thiện- tích cực) và tối (bất thiện- tiêu cực), đan xen, trộn lẫn với nhau. Khi hết trạng thái tích cực nó sẽ chuyển sang trạng thái tiêu cực. Người nào ở không, không hoặc ít làm gì lợi lạc là đang tiêu hao dần các trạng thái tích cực và cuối cùng bị trói buộc trong các trạng thái tiêu cực. Giống như người khi hết cảm giác no (tiêu hết thức ăn hoặc dùng hết thực phẩm dự trữ) thì sẽ là cảm giác đói chi phối, ràng buộc. Thân vật lý không có sự an ổn và tâm cũng không có sự bình thản, định tĩnh khi còn có dấu hiệu của chấp ngã dù là vi tế. Người nào sống thuận theo con đường Bát Chánh, thì như lẽ tự nhiên, người đó tự siêng năng tạo tác, tiếp xúc, gặp gỡ, tương tác với thầy lành, bạn tốt để học hỏi, giao lưu, chia sẻ như một cách thức tiếp thêm nguồn năng lượng tích cực, thiện lành cho tâm thức ở ngay hiện tại chứ không phải tìm cầu quả báo, phước báo ở tương lai dù có thể nó sẽ đến vào thời điểm phù hợp. Người nào sớm chọn sống độc cư, lánh đời, lánh người khi tâm chưa đủ khả năng giải quyết bài toán Vô ngã đều dễ rơi vào đoạn kiến, tưởng là tâm đoạn thế tục, tìm cầu giải thoát nhưng rất có thể đằng sau là sự giấu mặt của tâm tham vọng, tâm tham muốn gieo nhân để gặt quả giải thoát, là một kiểu chấp thủ tà kiến, siêu vọng tưởng, dễ lui sụt dần lúc nào không hay.

Phật không độ được người không có duyên với Ngài, mà đôi lúc phải đệ tử mới hóa độ được vì người đó lại có duyên với đệ tử và cũng có những vị đệ tử chứng Tứ quả nhưng đành xin phép Phật nhập niết bàn vì quán sát thấy không có duyên hóa độ ai. Không vị thầy tăng, ni nào có duyên với tất cả chúng sinh. Vì vậy, mỗi người mong muốn học pháp có thể lại có duyên với vị thầy khác nhau. Nhưng đường lối hay hội chúng nào thực tập với tiêu chí chung là thực hành theo Bát chánh đạo hướng về Vô ngã với biểu hiện là luôn có tâm kính Phật, nói cách khác là luôn có tâm dò sóng hướng tới trạng thái tâm có năng lượng ở thể rất cao, thuần tịnh, vô nhiễm tuyệt đối; có tâm hướng ra phụng sự chúng sinh với tâm từ, thay vì chấp thủ đề cao chính mình; và khiêm tốn, khiêm hạ, bớt chấp công, chấp thủ về sự tồn tại của chính mình thì đó là biểu hiện của Chánh Pháp. Đời sống là bất toàn, sự tồn tại của vạn vật là bất toàn, có sinh tồn thì có ít nhiều ảnh hưởng tới đời sống chúng sinh khác, chính đức Thích Ca, người mà công hạnh phủ trùm cõi quả đất mà cũng vẫn phải trải qua chút dư nghiệp, bị đặt điều vu khống, vu oan, bị chửi bới, bị đệ tử Devadatta chia rẽ, ly khai một nhóm tăng đoàn, bị lăn đá làm chảy máu chân và trải qua cơn tháo dạ khi dùng bữa ăn cuối cùng có lẫn nấm độc, giảng bài pháp cuối cùng, nhập thiền, chấm dứt các loại cảm thọ, các loại tưởng vào Niết bàn tịch diệt.

Một người dù chưa làm gì, mới nhận ra chút lầm lỗi của chính mình, khởi tâm ăn năn, sám hối cũng đã là việc làm đúng với Chánh pháp. Nhưng một lỗi chưa đủ, với tâm chí thành tự sẽ nhìn thấy thêm lỗi mình ngày một sâu xa, vi tế hơn từ đó cảm thông với người khác, lỗi lầm của người khác mà khởi tâm thương yêu, muốn gặp gỡ, chia sẻ, tương trợ, cùng nhau làm việc thiện lành, cố gắng thực tập thiền định, giúp nhau đi trong Chánh đạo trong tinh thần Trung đạo lợi người, lợi mình. Một hội chúng đông, nhưng sống với nhau với lòng nhân từ, luôn cố gắng giúp nhau sửa mình thì có nhiều thuận lợi cho một số cá nhân nổi trội hội đủ duyên có thể tiến xa trên con đường Chánh Đạo, để ánh sáng Giáo pháp sẽ còn tiếp tục chiếu sáng hàng nghìn năm sau.
 

xe_c@ng_h@i

Xe buýt
Biển số
OF-112625
Ngày cấp bằng
13/9/11
Số km
911
Động cơ
400,037 Mã lực
Đậu phụ nhà cắn đậu phụ chùa hả cụ siêu chã ơi.

Em là chúa ghét các hội. Toàn nhảm nhí dắt díu nhau làm những điều nhảm nhí. Em chỉ thích mỗi cái hội gắp gắp rót rót thôi.
Hội thì làm sao tĩnh tâm đc mợ nhể
 

Mitgau

Xe hơi
Biển số
OF-112811
Ngày cấp bằng
14/9/11
Số km
119
Động cơ
388,113 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Em cũng yêu thích thế giới quan Phật giáo và có tìm hiểu, chiêm nghiệm từ hồi còn đang là sinh viên. Có điều, đây là lĩnh vực thuộc về tâm thức vô hình nên không dễ mà chia sẻ, bày tỏ. Nhất là khi, giáo lý thì mênh mông, đồ sộ, có nguồn gốc từ xa xưa, gần 2,600 năm rồi, trải qua nhiều thời kỳ biên tập, biên dịch lại bởi ngôn ngữ, địa phương, văn hóa khác nhau và những trải nghiệm, thấy biết của mình thì đôi khi phụ thuộc vào cảm nhận riêng của mình, không phải lúc nào cũng luôn đúng. Mới đây, lúc rảnh rỗi em cũng mới biên một bài post facebook, cụ/mợ có thời gian thì đọc cho vui:
View attachment 9593323

MỘT GÓC NHÌN VỀ CHÁNH PHÁP

Đôi lúc nghe hoặc đọc thấy ai đó đề cập đến “chánh pháp”, “tượng pháp”, “mạt pháp” nhưng bản thân người viết cũng ít khi sử dụng đến những từ như tượng pháp hay mạt pháp dù cũng hay viết lách, bày tỏ quan điểm về chủ đề này. Theo nhiều nguồn thì từ đó được dùng để chia dòng chảy Phật giáo thành ba giai đoạn Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp mà có nguồn gốc từ kinh điển đại thừa (phát triển). Trong kinh điển nguyên thủy không có nhắc đến cụm từ này mà nói đến các pháp có sinh có diệt. Chánh pháp cũng như vậy, có thịnh, có suy, có xuất hiện và sẽ đến lúc đoạn diệt và đề cập đến chánh pháp và tà pháp.

Theo kinh điển ghi chép bởi cả hai nguồn là nguyên thủy và phát triển thì đức Thích Ca sau khi giác ngộ đã cất bước gieo duyên giáo hóa cho rất nhiều đệ tử, chúng sinh trong đó có người thì sau khi được nghe giảng thì ngay lập tức chứng quả, từ sơ quả vào dòng cho đến quả thánh cao nhất trong tứ quả và có người cũng chỉ nhận được pháp học và tiếp tục tu học tiếp.
Vào thời khắc cuối cùng trước khi nhập diệt, Phật có nói với ngài Ananda, trong suốt 45 năm giáo hóa, Ngài luôn thuyết giảng với đôi bàn tay mở, không có gì giấu diếm, ẩn mật gì trong giáo pháp. Và ngài Ananda, đệ tử đa văn bậc nhất, người đã chứng sở quả, và được chọn làm thị giả cho đức Phật suốt 25 năm cuối cùng, luôn gần gũi, thân cận bên cạnh đức Phật, thì chưa chứng thêm quả thánh nào. Mấy tháng sau Phật nhập diệt, ngài Ananda kịp tinh tấn chuyên tâm thực tập, và chứng thánh quả cao nhất và kịp tham gia vài trò quan trọng trong kỳ kiết tập kinh điển đầu tiên của Phật giáo. Không vị tổ nào, thiền sư nào trí tuệ, thiện xảo, khéo léo, tinh tế hơn Phật, nhưng thánh quả là quá trình học, hiểu và thực hành tự thân cho tròn đức hạnh, đúng pháp, với đủ duyên lành thì quả tới, Phật không làm thay được việc này, không có thủ thuật, kỹ thuật ẩn mật gì nơi giáo pháp của Ngài.

Trong cuộc đời giáo hóa, Ngài đều dùng trí tuệ để trình bày hướng dẫn một cách giản dị, gần gũi nhất có thể dù những trạng thái, phẩm chất, lộ trình của tâm thì rất phức tạp, đan xen với đủ thứ chuyện. Vậy thì nên hiểu Chánh Pháp thực sự là gì? Theo sự thấy, biết còn hạn hẹp của người viết, Chánh Pháp là phương tiện, phương pháp học hiểu, thực hành đưa đến kết quả giải thoát mà đức Thích Ca thuyết giảng mà gói gọn trong lộ trình duy nhất là con đường trung đạo hay Bát chánh đạo, với chánh kiến hữu học căn bản đầu tiên là Khổ, Vô thường, Vô ngã, Nhân quả rồi đến Tứ niệm xứ, Tứ thiền, Tứ quả... Chánh pháp do đó hiểu đơn giản là phương pháp học và hành đúng ý Phật muốn nói, không có gì thần bí, ẩn dụ, ẩn danh, ẩn mật gì cả như Ngài nói suốt 45 năm thuyết pháp với đôi bàn tay mở. Chánh pháp càng không phải kết quả là các trạng thái tâm hỉ lạc, khả năng lý luận thông suốt hay đối đáp thiền ngữ; diệu dụng nơi tuệ của các tầng định, mức chứng quả nói chung, đó là các kết quả mà người thực hành dù có đạt tới cũng không được dính mắc, chấp thủ vào. Các trạng thái này vẫn còn có Tâm thấy, biết các Pháp dù các pháp này là các trạng thái cao siêu và vi tế. Còn có sự tồn tại của Tâm (tâm biết ) và Pháp (đối tượng tiếp xúc của tâm) vốn là bản chất tồn tại của tâm thức của các dạng thức sống, dù là tâm của loài hữu hình hay vô hình của chúng sinh ở cảnh giới thấp đến cảnh giới cao. Chỉ tới khi chứng tứ thiền, chứng tứ quả, có được năng lực tam minh, tâm thức nhớ lại vô lượng kiếp, nhận diện hết các tâm chấp thủ lầm lẫn cho đến khởi đầu đời sống luân hồi, chấm dứt lậu hoặc mới tìm được lời giải cuối cùng về bản chất của đời sống và con đường chấm dứt luân hồi. Khi nhập niết bàn, bằng năng lực của định và tuệ thâm sâu, vị đó xóa bỏ cơ chế tồn tại của bản ngã (tâm thức đại diện cho chính mình), chính thức “chết” trong chuỗi luân hồi.

Như vậy, Chánh Pháp nên hiểu là khi nào còn có người đang thực hành Bát chánh đạo phù hợp với ý của Phật, luôn hướng về đích đến vô ngã, dù là người đó đang là bậc sơ cơ tập học, đang cố gắng tránh dữ, làm lành (nửa đầu của Bát chánh đạo) hay đang tinh tấn thực hành thiền định , thực tập đúng nhất về Chánh niệm, Chánh định (nửa sau của Bát chánh đạo) là đều đang trên con đường chánh pháp. Khi thực tập đúng, thì dù là 7 ngày, 7 tuần, 7 tháng, 7 năm, 7 kiếp hay lâu hơn nữa thì tùy nhân duyên, cứ đi là sẽ tới, nước rót đầy thì sẽ tràn. Khi chưa đủ khả năng xóa được bản ngã thì tâm thức còn tồn tại dưới dạng có chấp ngã, và bản chất sự tồn tại này dưới rung động năng lượng. Khi đó tâm thức là sự pha trộn ở thể năng lượng sáng (thiện- tích cực) và tối (bất thiện- tiêu cực), đan xen, trộn lẫn với nhau. Khi hết trạng thái tích cực nó sẽ chuyển sang trạng thái tiêu cực. Người nào ở không, không hoặc ít làm gì lợi lạc là đang tiêu hao dần các trạng thái tích cực và cuối cùng bị trói buộc trong các trạng thái tiêu cực. Giống như người khi hết cảm giác no (tiêu hết thức ăn hoặc dùng hết thực phẩm dự trữ) thì sẽ là cảm giác đói chi phối, ràng buộc. Thân vật lý không có sự an ổn và tâm cũng không có sự bình thản, định tĩnh khi còn có dấu hiệu của chấp ngã dù là vi tế. Người nào sống thuận theo con đường Bát Chánh, thì như lẽ tự nhiên, người đó tự siêng năng tạo tác, tiếp xúc, gặp gỡ, tương tác với thầy lành, bạn tốt để học hỏi, giao lưu, chia sẻ như một cách thức tiếp thêm nguồn năng lượng tích cực, thiện lành cho tâm thức ở ngay hiện tại chứ không phải tìm cầu quả báo, phước báo ở tương lai dù có thể nó sẽ đến vào thời điểm phù hợp. Người nào sớm chọn sống độc cư, lánh đời, lánh người khi tâm chưa đủ khả năng giải quyết bài toán Vô ngã đều dễ rơi vào đoạn kiến, tưởng là tâm đoạn thế tục, tìm cầu giải thoát nhưng rất có thể đằng sau là sự giấu mặt của tâm tham vọng, tâm tham muốn gieo nhân để gặt quả giải thoát, là một kiểu chấp thủ tà kiến, siêu vọng tưởng, dễ lui sụt dần lúc nào không hay.

Phật không độ được người không có duyên với Ngài, mà đôi lúc phải đệ tử mới hóa độ được vì người đó lại có duyên với đệ tử và cũng có những vị đệ tử chứng Tứ quả nhưng đành xin phép Phật nhập niết bàn vì quán sát thấy không có duyên hóa độ ai. Không vị thầy tăng, ni nào có duyên với tất cả chúng sinh. Vì vậy, mỗi người mong muốn học pháp có thể lại có duyên với vị thầy khác nhau. Nhưng đường lối hay hội chúng nào thực tập với tiêu chí chung là thực hành theo Bát chánh đạo hướng về Vô ngã với biểu hiện là luôn có tâm kính Phật, nói cách khác là luôn có tâm dò sóng hướng tới trạng thái tâm có năng lượng ở thể rất cao, thuần tịnh, vô nhiễm tuyệt đối; có tâm hướng ra phụng sự chúng sinh với tâm từ, thay vì chấp thủ đề cao chính mình; và khiêm tốn, khiêm hạ, bớt chấp công, chấp thủ về sự tồn tại của chính mình thì đó là biểu hiện của Chánh Pháp. Đời sống là bất toàn, sự tồn tại của vạn vật là bất toàn, có sinh tồn thì có ít nhiều ảnh hưởng tới đời sống chúng sinh khác, chính đức Thích Ca, người mà công hạnh phủ trùm cõi quả đất mà cũng vẫn phải trải qua chút dư nghiệp, bị đặt điều vu khống, vu oan, bị chửi bới, bị đệ tử Devadatta chia rẽ, ly khai một nhóm tăng đoàn, bị lăn đá làm chảy máu chân và trải qua cơn tháo dạ khi dùng bữa ăn cuối cùng có lẫn nấm độc, giảng bài pháp cuối cùng, nhập thiền, chấm dứt các loại cảm thọ, các loại tưởng vào Niết bàn tịch diệt.

Một người dù chưa làm gì, mới nhận ra chút lầm lỗi của chính mình, khởi tâm ăn năn, sám hối cũng đã là việc làm đúng với Chánh pháp. Nhưng một lỗi chưa đủ, với tâm chí thành tự sẽ nhìn thấy thêm lỗi mình ngày một sâu xa, vi tế hơn từ đó cảm thông với người khác, lỗi lầm của người khác mà khởi tâm thương yêu, muốn gặp gỡ, chia sẻ, tương trợ, cùng nhau làm việc thiện lành, cố gắng thực tập thiền định, giúp nhau đi trong Chánh đạo trong tinh thần Trung đạo lợi người, lợi mình. Một hội chúng đông, nhưng sống với nhau với lòng nhân từ, luôn cố gắng giúp nhau sửa mình thì có nhiều thuận lợi cho một số cá nhân nổi trội hội đủ duyên có thể tiến xa trên con đường Chánh Đạo, để ánh sáng Giáo pháp sẽ còn tiếp tục chiếu sáng hàng nghìn năm sau.
Em đang tìm hiểu về Biết ạ. Để em inbox bác
 

X_axe

Xe container
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
7,698
Động cơ
69,044 Mã lực
Cái sự ăn uống và tứ khoai nó cũng vô cùng , ĐK cần nhưng chưa đủ :)

Giờ ngoài 4 khoái còn có thêm món chém gió, du lịch, thể thao, sách báo, film ảnh ...
Quan trọng là chữ "khoái" :) sư ăn thì thấy ngon không thấy khoái. Còn chúng ta người thường ăn vừa ngon vừa khoái
 

anhtrangvn

Xe tăng
Biển số
OF-117009
Ngày cấp bằng
16/10/11
Số km
1,402
Động cơ
412,911 Mã lực
Thời Phật tổ thế gian cúng gì ăn nấy (khất thực) nên không phân biệt mặn chay gì cả. Đến PG bắc truyền mới ăn chay
Chỗ này em hiểu thế này: Ngày xưa lúc đó đời sống còn đơn sơ, vất chất cũng không có dư thừa, tích trữ nhiều. Hàng ngày các sư phải đi bộ vào làng mạc khất thực xin ăn thì người ta cho gì dùng nấy, hầu như không có lựa chọn khác. Nhưng giờ là thời của mua bán, của sự lựa chọn thì ta có thể loại nào có lợi cho sức khỏe mà không tăng nhu cầu sát sinh ở thị trường giết mổ. Thời giờ chủ động mua thì khác với việc thụ động đi xin ăn.
Bản chất việc dùng thịt chúng sinh, thì là có nghiệp sát, nhưng ngược lại, chúng sinh đã bị giết hại, rồi thì phục vụ chút thân mạng cho các sư thì cũng là có chút gieo duyên với giáo pháp. Thế giới bất toàn, không có sự tuyệt đối, nên việc nào có lợi thì nên chọn thôi. Nước uống, hàng ngày cũng có nhiều vi sinh vật nhỏ, vẫn phải nấu chín và uống.
 

X_axe

Xe container
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
7,698
Động cơ
69,044 Mã lực
Chỗ này em hiểu thế này: Ngày xưa lúc đó đời sống còn đơn sơ, vất chất cũng không có dư thừa, tích trữ nhiều. Hàng ngày các sư phải đi bộ vào làng mạc khất thực xin ăn thì người ta cho gì dùng nấy, hầu như không có lựa chọn khác. Nhưng giờ là thời của mua bán, của sự lựa chọn thì ta có thể loại nào có lợi cho sức khỏe mà không tăng nhu cầu sát sinh ở thị trường giết mổ. Thời giờ chủ động mua thì khác với việc thụ động đi xin ăn.
Bản chất việc dùng thịt chúng sinh, thì là có nghiệp sát, nhưng ngược lại, chúng sinh đã bị giết hại, rồi thì phục vụ chút thân mạng cho các sư thì cũng là có chút gieo duyên với giáo pháp. Thế giới bất toàn, không có sự tuyệt đối, nên việc nào có lợi thì nên chọn thôi. Nước uống, hàng ngày cũng có nhiều vi sinh vật nhỏ, vẫn phải nấu chín và uống.
Phật tổ khuyên khất thực cúng gì ăn nấy để hoà với thế gian. Ví dụ không được bỏ qua nhà nghèo mà chọn nhà giàu khất thực, không bỏ món mặn mà chọn món chay. Hôm có hôm không có khi đói meo

Phật dạy (không phải e dạy :) ) quan trọng là luyện tâm tịnh khi ăn không quá nhấn mạnh phân biệt đồ ăn.

Đó là kể chuyện sư tăng khất thực thôi, chứ mình riêng chuyện ăn đã không chịu được "khổ" như thế rồi,

em chã bây giờ ông bà cha mẹ múa may quay cuồng mà nó còn chẳng chịu ăn cho :) nói gì ngon dở chay mặn thừa thiếu
 

Trục

Xe ngựa
Biển số
OF-36688
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
27,306
Động cơ
812,123 Mã lực
Em muốn tìm các câu lạc bộ có các hoạt động giao lưu, trà đàm về Phật pháp trong cuộc sống.
Các bác có nơi nào hay giới thiệu em với ạ.
Đạo do mình ngộ, không ngộ được thì phải có cao Tăng chỉ điểm.
Chốn của cụ là cần tìm Tăng, chứ không tìm Nhân.
 

radiogaga

Xe điện
Biển số
OF-177394
Ngày cấp bằng
18/1/13
Số km
4,237
Động cơ
396,971 Mã lực
Em muốn tìm các câu lạc bộ có các hoạt động giao lưu, trà đàm về Phật pháp trong cuộc sống.
Các bác có nơi nào hay giới thiệu em với ạ.
Tik tok nhiều phòng room online đàm về Phật Pháp lắm
 

anhtrangvn

Xe tăng
Biển số
OF-117009
Ngày cấp bằng
16/10/11
Số km
1,402
Động cơ
412,911 Mã lực
Em đang tìm hiểu về Biết ạ. Để em inbox bác
Em cũng chỉ tìm hiểu, nghe giảng giải, tự thực hành chút chút và chiêm nghiệm thôi chứ cũng chưa đủ khả năng chia sẻ nhiều. Về chủ đề biết, thì cụ/mợ tham khảo thêm bài viết này ạ.

ĐƯỜNG ĐẾN CHÁNH NIỆM HAY NGỘ TÍNH?

Những người tìm hiểu, thực tập chuyển hóa tâm theo thế giới quan Phật giáo đa số rất quan tâm đến chánh niệm vốn là một giai đoạn thực tập đột chuyển trong lộ trình Bát Chánh Đạo. Trước khi đi đến giai đoạn thực tập về chánh niệm nơi tâm, đương nhiên hành giả cần nghiên cứu, tìm hiểu về các sự thật căn bản về khổ; về vô thường, biến hoại, đổi thay; về vô ngã, tính không của thân, tâm và pháp giới; về mối liên quan nhân quả và duyên sinh... Sau khi nghiên cứu tìm hiểu những nguyên lý, giáo lý căn bản, hành giả cũng cần thực hành việc từ bỏ, tránh xa điều xấu, bất thiện đồng thời hướng suy nghĩ, lời nói, hành động về những điều tích cực, thiện lành, chân chánh. Do đặc tính cố hữu nơi tâm, các chủng loài chúng sinh sinh sống, tồn tại bởi tính chấp thủ, chấp chặt nên mọi tạo tác nơi tâm đều có tính lặp lại. Những tạo tác bất thiện hay nói cách khác là Tà, vốn là các trạng thái không thuộc về phần Chánh, trong đó có chánh niệm. Do vậy, tiền đề để đi đến chánh niệm là các trạng thái, tính chất của tâm có tích chất tích cực, chân chánh, hướng thượng luôn cần được hành giả nỗ lực tích lũy. Do tính chấp thủ, chấp chặt, đến đây, ý thức của hành giả lại “nhanh nhảu và khôn ngoan” chấp chặt, chấp thủ luôn là mình đang tích lũy các trạng thái, tính chất tích cực. Do bản chất như vậy, sự thật là nội tâm mỗi người đều chất chứa các trạng thái tích cực và tiêu cực (hay thiện và bất thiện) tầng tầng, lớp lớp đan xen và sinh ra tập khí, tính khí, tích cách nơi mỗi người. Kể cả người sống tốt, sự chấp thủ vi tế khiến cái “ tôi sống tốt” cũng cứ tăng trưởng dần. Những vị thầy hiểu sâu sắc điều này, sẽ luôn hướng dẫn hành giả tạo tác, ghi nhận các trạng thái tâm tích cực đồng thời tạo tác cả các ý thức về không chấp công, về tính khiêm tốn, khiêm hạ, không vơ công về mình.

1778814259983.png
1778814296952.png


Sau khi tìm hiểu và chiêm nghiệm kỹ lưỡng thì dần hành giả cũng hiểu hay biết được bằng tư duy, tư tưởng (“ Tưởng tri”) rằng không có cái ta hay bản ngã thường hằng nơi thân và nơi tâm. Biết bằng tư duy là mới biết ở cấp độ văn, tư trong lộ trình Văn - Tư - Tu, chưa giúp chuyển hóa tâm khỏi đặc tính chấp thủ, chấp chặt của hành giả mà phải sang đến thực hành, tu sửa ở giai đoạn Niệm - Định - Tuệ. Khi thực hành về tâm, thường tốt nhất, tối ưu nhất, là trạng thái yên tĩnh, ổn định khi thiền định dưới tư thế hoa sen kiết già. Một lần nữa nguyên lý trung đạo cần phải theo sát. Về Thân, cơ thể cần ngồi vững chắc, ổn định nhưng buông lỏng, không căng, không gồng, cũng không nên gắng đến mức quá đau vượt quá ngưỡng chịu đựng. Trạng thái tốt nhất là trước khi “cảm giác đau” sinh khởi một cách quá nổi trội và làm tâm không được yên ổn. Cùng với sự thực hành kiên trì, kham nhẫn, giới hạn này sẽ cải thiện, có thể ban đầu chỉ 1 phút, sau sẽ tăng dần theo tháng, năm. Về Tâm, tâm này vốn bản chất là chấp thủ, chấp chặt, luôn sinh khởi đủ chuyện như đề cập ở trên. Hành giả có thể can thiệp bằng ý thức là sẽ quyết định nên chú tâm, đặt tâm ở đâu, vị trí nào khi thực hành. Nếu chú tâm vào trước mặt, trước mũi, cảm giác răng lưỡi, giữa 2 chân mày hay đỉnh đầu hoặc hơi thở tại ví trí ngang tim, phổi thì đều gần khu vực não bộ, vốn là nơi ý thức hoạt động rất mạnh, dễ hình thành thêm sự chấp thủ, chấp chặt nơi tâm rằng ta/tôi đang thực hành. Nếu đặt tâm sâu ở vùng hạ thể, nơi là chỗ ẩn chứa nhiều thần kinh tính dục, dễ kích khởi bản năng, sinh khởi tâm tham dục. Vị trí tối ưu còn lại cũng chính là trọng tâm của cơ thể sinh học là vùng dưới rốn, dưới vùng kết thúc chuyển động thở của phổi, xa phần não vốn hay máy động bởi ý thức và cũng bên trên phần hạ thể ẩn chứa bản năng thuộc về tính dục. Vị trí này cũng nên ở khoảng không quá lệch ra bên ngoài bụng, phía trước mặt, mà cũng không nên quá sâu về phía lưng. Đó là vị trí dường như ổn định, cân bằng nhất của thân và cũng phù hợp nhất để chú tâm, hợp với nguyên lý trung đạo. Với một quá trình tích cực tạo tác các trạng thái tâm tích cực, tránh các ghi nhận trạng thái tiêu cực bao gồm cả việc có đời sống thế gian tạm yên ổn, không có bức bách lớn bởi các nỗi lo từ công việc hay gia đình thì khi thân và tâm ở trạng thái như trên, duy trì thân ổn định, buông thư; nhẹ nhàng an trú tâm ở vị trí trọng tâm, thì hơi thở có xu hướng chậm dần. Các tâm bất thiện ngủ ngầm hoặc hoàn cảnh bất an của hành giả có thể vẫn còn nhưng chưa nổi trội, chưa bức bách mới thuận hợp cho việc thực tập này. Nghèo đói chạy ăn từng bữa, hay giàu có nhưng áp lực quá lớn thì không thuận lợi lắm. Hành giả khéo léo quan sát điều phục nhưng không gắng sức hơi thở chậm, nhẹ, mỏng nhạt dần ( Có những vị thì diễn đạt là chậm – ít – êm). Kiên trì thực hành như trên hàng ngày cho thuần thục, khi hơi thở còn rất chậm, nhẹ và mỏng khi đó tâm và hơi thở tiếp xúc liên tục. Tâm biết hơi thở một cách liên tục, trong khi thân vẫn ở trạng thái ổn định, buông lỏng thì sinh khởi một Cảm Giác Mới, một trạng thái mới mà gần như như Mất Thân, cảm giác được bên trong thân và bên ngoài thông suốt dù thân vẫn ở đó. Đồng thời, tâm dính với hơi thở mỏng nhạt liên tục cũng không sinh khởi ý thức nào về ta, về tôi, về bản ngã. Tâm hành giả biết và ghi nhận trạng thái Không Thân, Không Ta nơi tâm. Đây là trạng thái biết vượt sâu hơn tư duy, tư tưởng, (biết bằng “Thức tri”), biết mà dường như không có sự chấp thủ, chấp chặt, giúp hành giả lần đầu tiên biết về trạng thái thô sơ của Chánh Niệm. Đó là sự ghi nhận, biết về thân và tâm mà vơi bớt sự chấp thủ, chấp chặt của bản ngã ngủ ngầm. Kể từ thời điểm này, những tạo tác nơi tâm của hành giả đã bớt dần chấp ngã, chấp thủ mà vốn trước đó hay làm mọi việc với tâm mong cầu, gieo nhân để gặt quả cho mình. Hành giả cũng dần đối diện, chịu đựng, kham nhẫn được hoàn cảnh bất như ý với nội tâm bớt dính mắc hơn. Hành giả cũng vẫn còn vất vả trong thực hành, vẫn khó duy trì chánh niệm trong đời sống, nhiều khi vẫn mất chánh niệm, chạy theo cảnh hoặc ý thức sinh khởi nổi trội mạnh chi phối, nhất là khi hành thiền.

Cảm giác tâm có chánh niệm liên tục sẽ đi đến trạng thái chánh niệm tỉnh giác rất sâu và sau đó là đi vào các tầng, mức của tứ thiền tùy vào nỗ lực tạo tác các tâm tích cực; tùy thuộc vào các trạng thái tâm xấu ngủ ngầm chờ sinh khởi, trở nên nổi trội và hiện bày nơi tâm hoặc nơi hoàn cảnh; và/hoặc cả người người thầy hướng dẫn để đi tiếp trong lộ trình bát chánh đạo với giai đoạn niệm định tuệ để như thật “Tuệ tri” về Vô Minh hoặc sẽ lạc vào các tà định, tà tuệ mà thoái đọa trở lui thành người thường, phàm phu hoặc thấp kém hơn. Quá trình thực hành thiền gồm Chỉ với cách thức đúng và Quán thấy biết đúng là quá trình an trú, thấy biết như thật về thân, tâm. Tâm càng yên tĩnh, tỉnh giác hành giả càng biết rõ vùng gặp nhau giữa hơi thở và tâm hay thân và tâm tại vị trí trung tâm dần thu về một điểm. Mỗi người phải tự thân tìm thấy vị trí này. Đây là sự thấy biết của trạng thái định và tuệ sâu dần không phải quá trình kiếm tìm của ý thức. Tiếp tục an trú tại điểm này sẽ dần thấy biết được khởi nguồn của các lớp tâm chấp ngã và cuối cùng tuệ tri được bản chất của điểm tâm thức cuối cùng về đời sống của chính mình. Kinh sách diễn đạt về Vô minh lại là chấm dứt, đoạn tận các chấp thủ, rò rỉ, lậu hoặc trong tâm hay nói cách khác là quá trình nhận ra các lỗi lầm sâu thẳm, sâu xa, gốc rễ trong tâm rất vi tế. Khi có chánh niệm, với tâm vô tư khách quan trong sáng, bớt chấp thủ, hành giả lại càng dễ nhận ra lỗi nơi mình để sửa chữa, từ bỏ, đoạn diệt các lỗi lầm từ thô đến tế. Chính vì vậy, chạm đến Chánh niệm, dù là mức độ thô sơ, là bước chuyển đổi quan trọng nhưng vẫn còn rất nhiều việc để làm với một người đang thực hành về tâm. Trong kinh sách bắc tông hay đại thừa, quá trình trên được diễn đạt như là “Ngộ tính”, và có lẽ do khác biệt về ngôn ngữ và diễn đạt, cũng có sơ ngộ, tiểu ngộ, đại ngộ, triệt ngộ. Ngộ là một giai đoạn quan trọng cũng giống như bắt đầu chạm đến chánh niệm, chánh niệm sâu và các trạng thái, tầng mức thiền trình bày trong kinh sách nguyên thủy. Và tính Không tối thượng của thiền tông, có lẽ cũng làm một cách diễn đạt khác của chứng Vô Ngã.

Thực hành sâu về chánh niệm đã khó, thực hành sâu về thiền định càng khó hơn, nên mỗi người cần thận trọng chiêm nghiệm thấy, biết trong trải nghiệm cá nhân cũng như cần có sự thực tập cùng đại chúng với sự hướng dẫn của những vị thầy có kinh nghiệm để kiểm nghiệm tâm của mình. Giáo pháp của Phật giáo nằm ở Phật, Pháp, Tăng được tiếp nối ở các tăng sỹ, cư sỹ gắn với hình bóng các ngôi chùa. Những đường lối, phương pháp nào vô tình hoặc cố ý hướng hành giả dần xa rời, thiếu sự kết nối với tứ chúng, xa lìa bóng dáng chùa chiền đều hết sức thận trọng, tránh rơi vào thực hành sai, lạc đường. Thực tập thấy ra sự thật về bản thân, về chính mình, là quá trình tự thân, không ai làm thay được nhưng không rời xa dòng chảy giáo pháp cũng là một thực hành trong nguyên lý trung đạo mà đức Thích Ca đã thực hành và giác ngộ."
 

X_axe

Xe container
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
7,698
Động cơ
69,044 Mã lực
Đạo khả đạo, phi thường Đạo.

Người ta bảo con Milu nó ngon, bát nhựa mận thế lày, miếng dồi thế kia … sao bỏ vào miệng vẫn cứ nhợn nhợn, thế là em phắn!

Tự ta tìm thôi!
Em hiểu hơi khác :

- chữ Đạo của Lão tử là bản thể tự nhiên

- còn chữ Đạo trong "bát chánh đạo" của PG là con đường rất cụ thể 8 từ chứ không siêu hình như chữ Đạo của Lão tử
 

chattiensinh

Xe tải
Biển số
OF-430741
Ngày cấp bằng
18/6/16
Số km
392
Động cơ
1,891,021 Mã lực
Cụ Đa trước khi nhập niết bàn đã dạy rằng "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, lấy Pháp làm đuốc, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác.” Còn muốn vào club cho xôm tụ thì cạo đầu xin gia nhập giáo hội thôi.
 

tomza

Xe buýt
Biển số
OF-538143
Ngày cấp bằng
22/10/17
Số km
895
Động cơ
42,189 Mã lực
Nơi ở
Chủ yếu trong nhà
Biết gì nói nấy, em cho là biết cái nói.
Biết cóp bết thì em không biết là có biết cái bết hay không biết cái bết mà vẫn nói như là biết, khà khà, em quit ạ
(ý văn học là: biết thì nói, cóp bết làm méo gì, cho nó rặm lông) :D
 
Chỉnh sửa cuối:

XPQ

Xe ba gác
Biển số
OF-25733
Ngày cấp bằng
13/12/08
Số km
20,473
Động cơ
580,239 Mã lực
Nơi ở
Trỏng
Cụ Đa trước khi nhập niết bàn đã dạy rằng "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, lấy Pháp làm đuốc, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác.” Còn muốn vào club cho xôm tụ thì cạo đầu xin gia nhập giáo hội thôi.
Kinh nhất là gặp bọn càng giảng càng thút nút như dải rút lưng quần, nói dài nói dai y rằng là bọn xui dại.
 

Dream Thai

Xe container
Biển số
OF-70813
Ngày cấp bằng
16/8/10
Số km
7,489
Động cơ
533,178 Mã lực
Nơi ở
Vỉa hè
Quan trọng là chữ "khoái" :) sư ăn thì thấy ngon không thấy khoái. Còn chúng ta người thường ăn vừa ngon vừa khoái
Ăn chỉ để tồn tại cũng chán cụ nhỉ :(

Mục đích chính cs là hạnh phúc

Tứ khoái mang lại cho cả cảm giác phấn khởi HP, và hãy sống cho ngày hnay, vì nếu có kiếp trước kiếp sau thì cta cũng đâu có kết nối đc với HỌ, e gọi là HỌ thay vì bản thân mình ở kiếp #, vì ko có kết nối thì ko thể gọi là cta đc :)
 
Chỉnh sửa cuối:

Trục

Xe ngựa
Biển số
OF-36688
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
27,306
Động cơ
812,123 Mã lực
Ý bác là sao ạ? Phải tìm ở Chùa ạ?
Đầu tiên, Đạo = Đường
Cụ/ mợ đã chưa biết tìm đường nào để đi, sao cầu đạo.
Cứ đi đã, đừng vội mợ ạ, có người cho đến khi nhắm mắt, vẫn chưa biết Đạo của mình là gì cơ mà.
Phật giáo chỉ là một đạo trong hằng tỉ đạo, mỗi ta một đạo, sao phải tìm.
 
Trạng thái
Thớt đang đóng
Thông tin thớt
Đang tải
Top