Ha ha !
đọc và gạn thôi cụ, nam sông Trường Giang, là văn minh lúa nước, truyền thuyết Thần Nông gắn với lúa nước và các chủng Bách Việt (đặc trưng là cầm rìu

) sinh sống, văn minh vùng này đậm đặc văn minh lúa nước và ảnh hưởng, trải dài từ vùng này xuôi xuống phía Nam.
Còn chủng sống bắc Trường Giang, cưỡi ngựa, lượn thảo nguyên chăn nuôi săn bắn, do di chuyển nhiều, nên văn minh kém hơn, nhưng thú tính quân sự và đặc trưng đi thôn tính kinh khủng hơn các chủng phía Nam, họ tràn dần xuống nam Trường Giang, hoà huyết thống, thẩm thấu văn hoá hai chiều, Hoa Hạ là từ đây...;
trong các chủng Bách Việt có người Sở (nhắc đến là nhớ bạn Hạng Vũ múa gươm uống rượu biệt Ngu Cơ) hoà huyết cùng nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn, trở thành một chủng cực kỳ thiện chiến và lãng mạn, ...; không rõ nhóm tàn dân của Sở Quốc khi bị người Hán diệt quốc, khi xuôi về phía nam có bao nhiêu chiến binh gia nhập xứ sở của Âu Việt và Lạc Việt, để mà biến một một giống nòi thuần trồng lúa nước, hiền hoà là thế (chữ Việt bộ hạt gạo) sau này lại thiện chiến và lãng mạn đến lạ thường...
Các chủng Âu, Lạc này cùng quá trình người Hán Hoa Hạ phương Bắc tràn xuống, người Âu Lạc xuôi nam dần, các cuộc di cư lớn đa phần từ mạn bán đảo Hợp Phố xuôi thuyền xuống phía nam - nên trống đồng khắc chạm thuyền nhiều ác liệt là vì thế, chủng này chiếm cứ mạn đồng bằng sông Hồng, mang theo kỹ thuật trồng lúa nước, đúc trống đồng, ngắm trăng, ngửi gió lập tiết khí để gieo trồng (Tết), người xứ này rất hiền hoà nhưng cũng cực kỳ thiện chiến khi bị đẩy vào những tình thế phải rút gươm, bản năng chiến binh cũng khá đậm đặc nên cùng với chiều dài lịch sử họ cũng nhẹ nhàng thôn tính đồng hoá một vài vương quốc văn hoá Khờ me và Nam Đảo ở phía nam sông Bến Hải....
nên ngày nay mới có Tết từ Móng Cái đến Cà Mau nuôi cua quê ta...
có đợt, đám hủ nho Việt (hủ hơn cả nho Hán, cụ Trần Đại Sỹ đc coi là đại diện hiếu chiến nhất của nhóm này), cứ thấy cái gì dính đến chữ Việt là nhận là Việt Cộng mình tất, cứ Trống Đồng có người cầm rìu nhẩy nhót là chuẩn Việt C ta rồi...

,...
"Đêm qua đêm mấy đêm nào?
Thuyền trôi vương tử ta vào giữa sông.
Xấu hổ, thân gái má hồng,
Được gần quân tử, mây lòng xuyến xao.
Núi cao, cây cối, cành mềm,
Lòng thương nhớ nọ, người xem bàng hoàng."
(Việt Nhân ca - 528 trước CN)
Bài Việt Nhân Ca của chàng trai nước Sở tán gái trên dòng sông thơ mộng này toát lên người Việt không chỉ có chiến binh và rìu đá, mà còn có tình cảm, thẩm mỹ và sự lãng mạn rất sớm – một đặc trưng xuyên suốt của các cộng đồng Việt cổ, từ văn minh lúa nước cho đến tận hôm nay...vượt xa đám Hoa Hạ gốc Mông Cổ mông muội cưỡi ngựa bắn cung ngoài đại mạc.