(Ngày xuân kể chuyện nghề)
ĐI TRÊN ĐỈNH HẢI VÂN
Có những chuyến đi trong đời, khi qua rồi, người ta mới nhận ra nó không chỉ là một hành trình công việc, mà là một dấu mốc nhỏ âm thầm nằm lại trong ký ức. Với tôi, chuyến leo lên đỉnh núi Hải Vân năm 1995 là một kỷ niệm như thế.
Hồi đấy, Tập đoàn của tôi, cử một nhóm chuyên gia (trong đó có tôi), nằm trong thành phần của đoàn khảo sát của JICA, để chuẩn bị cho dự án Hầm đường bộ Hải Vân. Nhiệm vụ nghe giản đơn: leo lên đỉnh núi, xác định trên thực địa vị trí cửa hầm thông gió – một đường hầm dài hơn 1.810 mét, đào thẳng từ hầm đường bộ lên tận đỉnh để bảo đảm lưu thông không khí cho cả công trình.
Nhưng cái giản đơn trên giấy tờ ấy, khi đặt vào thực tế của núi rừng Hải Vân, lại trở thành một cuộc thử thách đúng nghĩa.
Đèo Hải Vân vốn là nơi mang trong mình bao lớp trầm tích lịch sử.
Trước năm 1975, trên đèo Hải Vân, ta chỉ có 1 đại đội Công binh mà án ngữ toàn bộ tuyến huyết mạch của địch từ Huế vào Đà Nẵng. Và Hải Vân thì thuộc cả 2 tỉnh Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng.
Đây cũng là 1 lý do, để đoàn khảo sát của JICA chúng tôi, được tháp tùng bởi cả PA04 ( Phòng An ninh kinh tế) của Huế và Đà Nẵng, cũng như của PA06 (Phòng An ninh đối ngoại) của 2 tỉnh trên.
Hôm leo lên đỉnh Hải Vân để khảo sát, có 2 xe của đoàn JICA, 2 xe của bên An ninh 2 tỉnh, xe của Bộ Giao thông, 2 xe của 2 Sở Giao thông, xe của TEDI (bên phối thuộc của đoàn JICA), và sáng hôm ấy, cả một đoàn xe hoành tráng và hùng hổ nối đuôi nhau leo lên quốc lộ số 1 cũ.
Gió từ biển thổi ngược lên đèo mang theo hơi muối mằn mặn. Mây trắng bảng lảng trôi ngang sườn núi. Đến lưng chừng, cả đoàn dừng lại. Trước mặt là đỉnh Hải Vân mờ ảo trong màn sương, vừa gần mà vừa xa, vừa hiền hòa lại vừa thách thức.
Tôi nói với phía Việt Nam:
- Bọn tôi sẽ leo lên đến vị trí dự kiến làm cửa hầm thông gió, đứng trên đó nhìn bao quát và chụp ảnh. Nội dung công việc chính chỉ có vậy thôi.
Các cán bộ An ninh, Bộ Giao thông, Sở Giao thông đều nói họ chẳng lạ gì Hải Vân, vậy là chỉ có hai cậu của TEDI, và đoàn JICA là leo lên núi.
Con đường mòn lên đỉnh thật khó gọi là đường. Chỗ có, chỗ không, mất hút giữa lau lách. Đá sắc như lưỡi cưa, lau lách và cây rừng quấn chân người đi. Người Nhật vốn kỷ luật và bền bỉ mà mới chỉ leo được1/3 đường, đã thấy mồ hôi nhễ nhại, mạch máu ở thái dương căng phồng, phải dừng lại uống nước liên tục.
Hai cậu ở TEDI cũng đã oải, bèn nói:
- Hay là ta dừng lại ở đây, chụp vài ảnh. Sau đó về xem ‘không ảnh’ cũng là được rồi.
Câu này của TEDI, tôi không dịch cho đoàn JICA, mà bảo 2 cậu kia:
– Các cậu mệt thì nghỉ. Còn bọn tôi sẽ đi tiếp đúng theo tuyến bản đồ.
Thế là hai cậu kia, dù đã thấm mệt, lại lủi thủi đi theo. Có lẽ lúc ấy, trong lòng họ cũng không muốn mình trở thành kẻ bỏ cuộc giữa đường.
Hồi năm 1995 đó, tôi mới rời quân ngũ được vài năm, vẫn còn trẻ, chưa đến 40, lại luôn có hộp sâm Cao-ly cắt lát theo tiêu chuẩn, kè kè trong ba-lô, thỉnh thoảng tôi lại ngậm một lát.
Có lẽ vì thế, tôi vẫn luôn ‘tiên phong, gương mẫu, đạp qua lau lách, vượt núi băng băng’. Mỗi bước chân tiến lên là một lần tự nhủ: công việc đã nhận thì phải đi đến cùng. Giữa núi rừng lộng gió, tôi chợt thấy mình giống một kẻ lãng du đang tự mở đường cho chính mình.
Gần trưa, chúng tôi lên đến tọa độ dự kiến. Mây tan dần, ánh nắng bất ngờ tràn xuống như một phần thưởng. Trước mắt tôi mở ra một bức tranh rộng lớn đến choáng ngợp.
Phía Nam là Đà Nẵng – thành phố trẻ trung và hiện đại, Cảng Tiên Sa lấp lánh, bán đảo Sơn Trà xanh thẫm như nét vẽ mạnh mẽ trên nền trời. Phía Bắc lại là một thế giới hoàn toàn khác: vịnh Lăng Cô xanh biếc, đầm Lập An phẳng lặng, những mái nhà chài yên bình nép mình bên mép sóng. Núi non, biển cả, mây trời hòa vào nhau thành một tổng thể kỳ vĩ.
Tôi đứng rất lâu giữa gió. Trong lòng bỗng dâng lên một niềm kiêu hãnh lặng lẽ: mình vừa chạm tay vào một phần linh hồn của đất nước.
Đến quá trưa, Đoàn mới xuống đến chỗ để xe, gập lại tất cả các cán bộ tháp tùng, đang ngồi ngáp ruồi dưới chân núi, và đi đến nơi ăn trưa, đâu đó khoảng gần 2 giờ chiều.
Theo quy định, đoàn JICA đi công tác, bắt buộc phải tự túc nơi ăn, chốn ở bằng kinh phí của JICA, không được tơ hào ‘cây kim, sợi chỉ’ của địa phương.
Do có đoàn tháp tùng phía Việt Nam, nên tôi – chức danh là phó đoàn, mời họ cùng dùng cơm trưa.
Cơm trưa cũng đơn giản như bao lần. Chủ đạo vẫn là rau muống xào tỏi, trứng gà chiên, thịt chân giò heo thái mỏng. Hôm đó có khách, nên tôi quyết định gọi thêm món cá thu kho.
Theo đúng nguyên tắc ‘ngoại giao nhân dân’, tôi ngồi cùng mâm với phía đoàn tháp tùng.
Ăn được vài miếng, 1 tay trong đoàn tháp tùng đá chân tôi:
-Có phong bì bồi dưỡng, anh đưa luôn cho bọn tôi. Ăn uống đạm bạc thế này, bọn tôi xin rút lui sớm.
Tôi ngạc nhiên suýt ngẹn.
Vội bỏ miếng trứng rán cắn dở xuống bát, tôi bèn dùng kiến thức được tu dưỡng trong các lớp chính trị, để thuyết trình về:
-Sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế với Việt Nam, là cầu nối nhân đạo và hợp tác phát triển bền vững, giúp giảm gánh nặng nợ công, tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục, giảm nghèo, nâng cao năng lực thể chế, thể hiện tinh thần sẻ chia, hỗ trợ Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng, thích ứng biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế, đồng thời chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý quý báu.
-Vậy nên, không có phong bì cho các việc đó.
Chuyến khảo sát kết thúc. Nhiều năm sau, ngày 27 tháng 8 năm 2000, hầm đường bộ Hải Vân chính thức khởi công. Rồi đến ngày 5 tháng 6 năm 2005, công trình hoàn thành, mở ra một con đường mới xuyên qua lòng núi, thay cho những khúc cua hiểm trở của đèo xưa.
Tôi tin rằng, công trình được hoàn thành tốt đẹp, là do sự lãnh đạo sáng suốt của ‘trên’, và được sự giúp đỡ chí tình của quốc tế, chứ không phải là do bài giảng chính trị ‘về không phong bì’ của tôi hồi năm 1995.
Mỗi lần đi qua hầm, tôi lại nhớ buổi trưa năm 1995 ấy, nhớ con đường mòn gập ghềnh, nhớ mây trắng quấn quanh đỉnh Hải Vân và cả bữa cơm rau muống – và bài giảng chính trị đầy kỷ niệm, và là chút kiêu hãnh lặng thầm của kẻ đi mở đường.