(Ngày xuân kể chuyện nghề - 2)
HẦM ĐƯỜNG BỘ HẢI VÂN RA ĐỜI NHƯ THẾ NÀO
Sáng 5/6/2005, khi dòng xe đầu tiên lăn bánh qua Hầm Hải Vân, sau khi được Thủ tướng Phan Văn Khải, ông Norio Hattori - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam cắt băng khánh thành, thì ít ai biết rằng, vào một buổi trưa đúng mười năm trước, chúng tôi còn lội bộ giữa mây núi Hải Vân để đi tìm vị trí cửa hầm thông gió. Khi đó hầu như chưa ai hình dung nơi đây sẽ có một công trình vĩ đại như hôm nay.
Và phần 2 của ký sự ‘Đi trên đỉnh Hải Vân’, sẽ là câu chuyện kể về ‘Hầm đường bộ Hải Vân ra đời như thế nào’.
****
Gần trưa, chúng tôi lên đến tọa độ dự kiến của ‘Cửa hầm thông gió’. Mây tan dần, ánh nắng mùa xuân bất ngờ ùa xuống như một phần thưởng dành những kẻ bền gan. Trước mắt tôi biển trời mở ra một bức tranh rộng lớn choáng ngợp tâm hồn. Dưới kia cảng Tiên Sa với những đường cong vũ nữ tuyệt đẹp đang khỏa thân lấp lánh dưới nắng. Bán đảo Sơn Trà xanh thẫm bóng núi, như một nét sơn dầu mạnh mẽ vạch ngang nền trời. Tôi nhìn ra hướng Bắc. Vịnh Lăng Cô như một tấm gương in bóng mây xanh biếc. Đầm Lập An phẳng lặng, những mái nhà xóm chài yên bình nép mình bên mép sóng. Núi non, biển cả, mây trời hòa với nhau thành một bức tranh phong cảnh panorama vừa kỳ vĩ vừa mềm mại dịu dàng.
Tôi đứng rất lâu giữa những cơn gió lộng, lòng dâng lên một niềm kiêu hãnh lặng lẽ. Những ngọn gió nghìn năm của đất nước đang thổi qua lay động tâm hồn tôi.
Tôi đưa mắt ngắm nhìn con diều hâu sải đôi cánh rộng, đang lúc lắc cái mỏ vàng, và toan định giơ tay vẫy chào nó một cách hoà bình, thì con diều hâu đột ngột lao vút lên trời xanh, bởi tiếng vang rền trầm đục của ngài Watanabe trưởng đoàn:
-Bim à, ta trao đổi về phương án thiết kế ngay tại thực địa nào.
***
Đó là tháng 2 năm 1995 — thời điểm dự án ‘Hầm đường bộ Hải Vân’ còn hoàn toàn vắng bóng trên các phương tiện truyền thông. Hầu như không có ai biết sẽ có một công trình hoành tráng như bây giờ chúng ta đã thấy.
Đoàn JICA của chúng tôi, theo nhiệm vụ, được gọi là ‘Task Force Team’ – nghĩa đen của tiếng Việt là ‘Đội tiền trạm cho dự án tương lai’.
Năm 1994, chỉ mới có MOU (Biên bản ghi nhớ) giữa hai chính phủ Nhật Bản và Việt Nam, là sẽ có ý định sử dụng vốn ODA của Nhật, cho dự án Hải Vân.
Cuối năm 1994, ‘Task Force Team’ của Hải Vân được thành lập, trong đó có tôi. Tháng 2 năm 1995, ‘Hải Vân Task Force Team’ đi khảo sát vị trí cửa Hầm thông gió, như câu chuyện đang kể.
Sau khi có kết quả và báo cáo của ‘Hải Vân Task Force Team’ về việc đồng ý và viết lên khung, viết lên nét lớn của dự án, thì phía Nhật Bản mới dựa vào đấy, để bắt tay vào làm ‘Dự án tiền khả thi’ vào cuối năm 1995 đó.
Năm 1996, khi ‘Dự án tiền khả thi’ này được chính phủ của 2 nước bỏ phiếu thuận, thì lúc đó mới có thể ký Công hàm của Bộ ngoại giao 2 nước, về việc đưa dự án vào kế hoạch tài trợ vốn ODA. Và từ đó mới có tiền tạm ứng từ nguồn ODA, để làm ‘Dự án khả thi’. Lúc này, tin tức về dự án ‘Hầm đường bộ Hải Vân’ mới có thể xuất hiện rụt rè trên các phương tiện truyền thông.
Sau giai đoạn ‘Dự án khả thi’, sẽ là giai đoạn ‘Đấu thầu thiết kế’, và ‘Đấu thầu thi công’. Lúc này, thì tin tức mới bắt đầu nở rộ trên báo chí. Đó là những năm 1998-1999.
Sau đó là ‘Lễ khởi công’ rầm rộ và hoành tráng vào tháng 8 của năm 2000. Báo chí nhất loạt tốn giấy mực, để cổ động cho dự án. Và người dân cả nước, mới bắt đầu nghe đến tên dự án ‘Hầm đường bộ Hải Vân’.
Đến tháng 6 năm 2005, công trình được khánh thành. Người dân được thụ hưởng một công trình giao thông hiện đại bậc nhất Đông Nam Á ở tại thời điểm đó.
***
Nên nhớ rằng, cho đến năm 1994, nền kỹ thuật xây dựng của Việt Nam, vẫn là theo tiêu chuẩn của ‘Gốt’ (ГОСТ) của Nga, khi lập kế hoạch và tiến độ, sang lắm thì ta lập được trên phần mềm Excel, theo phương pháp sơ đồ Péc, thi công đường hầm thì hoành tráng nhất là ở Công trình thuỷ điện Hoà Bình do Liên Xô giúp đỡ và cầm tay chỉ việc, vẫn chỉ là phương pháp khoan nổ truyền thống. Máy móc thi công vẫn chủ yếu là khoan tay.
Còn ở dự án ‘Hầm đường bộ Hải Vân’, ‘Hải Vân Task Force Team’ yêu cầu phải dùng tiêu chuẩn ASTM. Đây là bộ tiêu chuẩn quốc tế, được ban hành bởi Tổ chức ASTM (Hoa Kỳ) nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu suất cho vật liệu, sản phẩm, hệ thống và dịch vụ trong nhiều ngành công nghiệp, bao gồm cả xây dựng.
Thi công hầm bắt buộc áp dụng phương pháp đào hầm mới của Áo (NATM), áp dụng cho cả hầm thông gió, hầm chính và các hệ thống phụ trợ. Dùng NATM là khi khoan mìn cho nổ đá, các kỹ sư làm vòm cho hầm kết hợp với bê tông phun... để tạo kết cấu tự chống đỡ. Công nghệ này tiết kiệm hơn phương án làm vỏ hầm bằng bê tông cốt thép dày 1 m của Nga ở Sông Đà.
Lập kế hoạch và tiến độ ở dự án Hải Vân, phải dùng phần mềm Primavera P3, và tiến độ theo phương pháp Critical Path Method (CPM). Đây là mô hình quản lý dự án sử dụng các thuật toán để tính toán ước tính thời gian và tạo nên sơ đồ mạng lưới.
Máy thi công phải sử dụng ‘boomer 2 cần’ (Máy khoan 2 cần) xác định vị trí bằng tia laser.
Đây là những điều hoàn toàn còn lạ lẫm với các kỹ sư Việt Nam ở thời điểm đó. Nhưng muốn tiến bộ, muốn theo kịp thế giới, bắt buộc phải áp dụng các biện pháp trên.
Minh chứng:
-Ở dự án Hầm thuỷ điện Sông Đà, tốc độ đào hầm là 80 mét/tháng. Còn ở dự án làm hầm vận tải ở Nghi Sơn của KG chúng tôi, năm 1997 đã là 300 mét/tháng.
***
Quay lại cuộc họp trên thực địa tại của hầm thông gió hôm đấy, ngài Watanabe trưởng đoàn yêu cầu phải xác định nhanh:
- Tuyến đường công vụ và vận hành sau này của hầm thông gió,
-Biện pháp thi công hầm thông gió.
Với tư cách là chuyên gia công binh và là người thấu hiểu tầm quan trọng của tuyến đường quốc lộ số 1 cũ, tuyến đường độc đạo vận tải Bắc – Nam, tôi ra sức bảo vệ biện pháp thi công kết hợp giữa đào từ dưới lên, và từ trên xuống. Vì đây là biện pháp làm giảm thiểu việc vận chuyển chất thải, cũng như cung cấp nguyên vật liệu, trong quá trình thi công đường hầm thông gió, nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực vận tải của tuyến đường quốc lộ số 1 đi qua đèo Hải Vân, vốn đã rất khó khăn.
Sau này, biện pháp đó đã được ghi vào báo cáo để chuyển cho các chuyên gia ở giai đoạn làm ‘Tiền khả thi’.
Công việc khảo sát vị trí của hầm thông gió trên đỉnh đèo Hải Vân, vừa mệt nhọc về thể xác, vừa căng thẳng trí óc khi thảo luận các vấn đề kỹ thuật, nhưng cuối cùng, kết quả là khả quan đối với ‘Hải Vân Task Force Team’.
***
Mặc dù ‘Task Force Team’ luôn vô hình với truyền thông, nhưng chúng tôi vẫn là những con người cụ thể, vẫn cần có phút giây nghỉ ngơi.
Và quá trưa muộn, đoàn chúng tôi hoàn thành công việc, xuống đến chỗ để xe gặp lại các đoàn cán bộ tháp tùng. Tôi, với chức danh là phó đoàn công tác JICA, mời anh em các đoàn cùng kiếm quán dùng cơm trưa.
***
Ngày 5/6/2005, khi làm Lễ khánh thành ‘Hầm đường bộ Hải Vân, thì lúc ấy, những người của ‘Hải Vân Task Force Team’, đã đi đánh giá và nghiên cứu cho công trình khác của xứ Nam, từ rất lâu rồi.
Nếu như những người lính trinh sát mở đường Trường Sơn từ năm 1959 của Thượng tá Võ Bẩm, là những người vô hình, là ‘đi không dấu – nấu không khói – nói không tiếng’. Nhờ có những người lính trinh sát ấy, mà đến khoảng năm 1965, tuyến đường Trường Sơn mới hoành tráng và được ca ngợi qua vô vàn ca khúc về Trường Sơn, làm náo nức lòng các chàng trai lên đường tòng quân cứu nước.
Thì ‘Hải Vân Task Force Team’ cũng như vậy. Họ không chỉ giống như những người lính trinh sát của tuyến đường Trường Sơn hồi năm 1959, mà còn giống như những nhà lập kế hoạch 5 năm cho một quốc gia. Họ đưa ra các ý tưởng lớn cho dự án.
Ngày nay, ngay đến hình ảnh ‘Lễ khánh thành Hầm đường bộ Hải Vân năm 2005’, cũng hầu như đã biến mất khỏi các kho tư liệu truyền thông, thì những người đã góp phần khai sinh ra công trình, vô hình trước thông tin, là đúng lắm rồi.
Công trình thì ở lại, còn những người mở đường lại tiếp tục đi nơi khác.
Nhưng riêng tôi vẫn luôn thấy ấm lòng — như một người từng quen đứng phía sau bản đồ tác chiến hay kế hoạch triển khai dự án, hơn là đứng trước ánh đèn sân khấu. Và ký ức về những ngày đầu trên đỉnh Hải Vân vẫn luôn là một trong những phần đẹp nhất của đời làm nghề. Nơi mà ngày ấy, giữa mây gió trên đỉnh đèo, chúng tôi mới chỉ có trong tay bản đồ, niềm tin, và một con đường còn nằm trong tưởng tượng.
Hình minh họa là ‘Lễ khánh thành’ năm 2005 – Một hình ảnh duy nhất quá hiếm hoi, còn có thể tìm thấy trên truyền thông.
Hình khác là con đường đèo Hải Vân – mãi vẫn là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan’