[Funland] Tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam

techz1

Xe buýt
Biển số
OF-758411
Ngày cấp bằng
25/1/21
Số km
911
Động cơ
66,122 Mã lực
Tuổi
30
Website
www.nhadat81.com
TƯỚNG GIÁP TỪNG ĐẶT CÂU HỎI ... NBCT CÓ ĐỘNG CƠ GÌ?
View attachment 9450360
Khi còn tích cực hoạt động, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng đọc NBCT và nêu: “... Có một cuốn sách lên án chiến tranh. Người viết là Bảo Ninh, con anh Hoàng Tuệ. Động cơ chưa biết như thế nào, nhưng mô tả gian khổ của bộ đội là bấp bênh, vô vọng...”
View attachment 9450361
Có lẽ nếu còn tại thế tướng Giáp bây giờ đã hiểu vì sao có NBCT và vì sao nó được đưa vào SGK và vinh danh.
Có nhiều người lên tiếng bảo vệ sự tồn tại của cuốn NBCT với lý do đó là quyền viết văn của tác giả, quyền bày tỏ cảm xúc nỗi buồn, cần được tôn trọng góc nhìn khác. Hôm nay, người viết cũng đưa ra thêm lý giải cho quan điểm phản đối NBCT của mình.
Sự thật là NBCT được viết vào năm 1987, sau khiến tranh 12 năm. Trước đó, đầu những năm 1980 sau những khuất tất, tai tiếng trong công việc của Bảo Ninh (tên thật là Phương) tại một viện nghiên cứu sinh học, phải khai trừ Đảng, buộc thôi việc.
Là người đôi lúc cũng có xúc cảm trong chuyện đời, cũng từng 4-5 lần thơ hóa tâm tưởng của mình dù là vài ba câu hoặc 1 đoạn ngắn, người viết thấy rằng xúc cảm đó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian không quá lâu, nếu không thể hiện nó ngay, rất khó có lại xúc cảm để viết sau một vài tháng. Đây là quy luật của thế gian, mọi thứ có sinh có diệt, từ vật chất cho đến tinh thần.
Một người trải qua chiến tranh, với những người có tâm hồn văn chương thì cảm xúc thực sự khi trải qua chiến tranh sẽ thường được viết lại ngay từ thời điểm chiến tranh như "Mãi mãi tuổi 20" được viết bởi Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc trong thời gian nhập ngũ, từ cuối năm 1971 đến tháng 5 năm 1972 hoặc chỉ sau khi chiến tranh kết thúc một thời gian không dài. Đó là cảm xúc tự nhiên, hiện thực thực sự của những người trải qua chiến tranh. Còn đối với những người viết về đề tài này cách khá xa thời chiến hàng thập kỷ thì đó không phải là cảm xúc tự nhiên, hiện thực mà nó là nghề văn, nghề viết chữ theo một ý tưởng nào đó, mục đích nào đó, phong cách nào đó và thậm chí một âm mưu nào hoặc được đặt hàng bởi ai đó. Khi ấy, dưới vỏ bọc sáng tạo văn chương, người ta có thể lãng mạn hóa, tiểu thuyết hóa, bi kịch hóa, hài kịch hóa, hư cấu hóa... và nếu không có ý thức, trách nhiệm với cộng đồng, người ta hoàn toàn có thể cài vào một tác phẩm văn học một lối tư duy, một cách nghĩ, một câu chuyện, một tình huống gây tranh cãi, phản cảm ... theo cách mà không có luật nào quy định chi tiết, tỉ mỉ, cụ tỷ đến mức áp dụng đến từng câu, từng từ dùng trong đó. Nhiều sự việc luật pháp cũng khó can thiệp bởi khuôn khổ pháp lý, mà chỉ có thể can thiệp bằng dư luận, bức xúc của số đông.
Mạng sống là quý giá nhất, số lượng người mất và trở thành thương phế binh, không thể sống đời bình thường đã quá đủ nói lên mặt trái của chiến tranh. Không cần tô vẽ một nỗi buồn nào thêm nữa bởi vì một người lính còn sống nếu thực sự có xúc cảm thì sẽ thương đồng đội mình đã chết hoặc trở thành tàn tật, chứ không phải ôm ấp nỗi buồn của mình. Đời người ta, bản năng tự nhiên vốn sống theo hướng tránh khổ, tìm vui, chẳng ai sống mãi với nỗi buồn hay tình yêu quá khứ. Nếu thực sự yêu thương mà bị chia lìa, người ta vẫn sống có buồn những cũng với ký ức yêu thương, còn nếu không yêu thương sâu đậm người ta rất nhanh tìm một mối quan hệ mới. Rất nhiều liền ông cứ nghĩ hoặc nói sẽ yêu mãi rồi khi một cuộc tình hay cuộc hôn nhân kết thúc, họ có mối quan hệ mới một cách nhanh chóng và đầy bất ngờ. Chẳng đáng tin một liền ông mang cảm xúc buồn hàng thập kỷ ngoại trừ liền ông đó bị tự kỷ, trầm cảm. Trường hợp trầm cảm tự kỷ thì càng cần tìm cách chấm dứt cảm xúc đó mới là việc nên làm.
Với những nhận định như trên, người viết thấy rằng, NBCT nó chẳng phải nỗi buồn hiện thực chiến tranh nào cả, nó chẳng phải cảm xúc tự nhiên, chân thực của con người trải qua chiến tranh. Nếu là cảm xúc tự nhiên hiện thực thì nên nhìn với cái nhìn bao dung, cảm thông dù cảm xúc cũng còn có lúc đúng lúc sai. Với trực cảm nội tâm của mình, người viết tin rằng, một nhà văn hiện thực về bi vẫn thấy bi mà thương, bi mà tráng trong đó dù có những xấu ác, buồn đến nao lòng, nó vẫn phảng phất trong đó khát vọng sống về lối sống nhăn văn, nhân ái, nhân tình như chị Dậu hay Lão Hạc... Không ít người không nhận ra ranh giới này và tìm cách bảo vệ quyền được bày tỏ của tác giả, rồi quyền bày tỏ xúc cảm của con người. Nhưng ở đây nó là một kiểu bôi nỗi buồn ra trong một quyển sách theo cách tư duy ngược, có mục đích, có ý đồ của một nghề dùng chữ, nghĩa để phóng đại mặt nào đó của chiến tranh, dùng con chữ để biến chuyện nhỏ thành chuyện lớn, làm mặt trái lấn át mặt phải... Khi người ta làm nghề thì cái nghề đó nó phải được xem xét trong tiêu chí có phục vụ lợi ích số đông hay không. Và đây là lựa chọn và trách nhiệm của câu chuyện định hướng con người ở hiện tại và tương lai.
Giống như một người nghĩ bậy và chửi tục, chửi bậy vì bức xúc. Họ có thể ngồi trong nhà tự nghĩ và tự nói với chính mình mà không ai có thể can thiệp. Nhưng khi ra nơi công cộng thì việc đó phải cân nhắc có ảnh hưởng tới người khác hay không. Trong phòng ngủ riêng tư, nam nữ gần gũi nhau trong sự chia sẻ cảm xúc của tâm hồn và tiếp xúc thể xác với sự thúc đẩy của bản năng nhưng người ta không thể làm điều đó giữa đám đông vì đó là hành vi mà người có nhận thức đúng mực xem là biến thái, bệnh hoạn, bầy đàn ngang loài vật. Cũng như vậy, NBCT với những tình huống gợi dục có chăng nên để là cuốn sách ngoài luồng, đọc tham khảo riêng tư, không thể được đưa cài cắm vào nội dung sách giáo khoa chuẩn mực cho học sinh lớp 9 và lớp 12 một cách lệch lạc, thiếu trách nhiệm như cách Bộ Giáo Dục đưa vào từ 2018.
Nhà nước Việt Nam đang có khẩu hiệu trong giáo dục chú trọng về Đức trong xây dựng Tài của con người. Ở lứa tuổi mới lớn, bắt đầu tò mò về chuyện tính dục, học sinh cần học cách kiếm chế bản năng, giữ mình trong sự thu hút giới tính, để tập cho mình có khả năng khước từ cám dỗ ở tuổi trưởng thành, tránh các câu chuyện lăng nhăng, ngoại tình, ngoài luồng vốn là một trong các lý do phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đình ở hiện tại mà nó cũng là biểu hiện của thiếu Đức của xã hội.
Một cuốn sách được viết có chủ đích theo lối phản tư, dùng ý thức tư duy ngược, nhìn khác đi, phóng đại lên, bi kịch hóa, buồn bã hóa, vô định hóa, rời rạc hóa, không phải cảm xúc văn chương hiện thực tự nhiên đồng thời cài vào nhiều chi tiết dung tục không hợp lứa tuổi thì làm gì có mục đích giáo dục ngoài mục đích phá nát nền giáo dục một cách âm thầm từ từ?

Đồng ý với cụ là các thể loại này đưa vào giáo dục THPT sớm thì làm lệch lạc tư tưởng các cháu, giảm đạo đức xã hội.

Em hết ý kiến.
 

belo

Xe điện
Biển số
OF-76592
Ngày cấp bằng
29/10/10
Số km
3,779
Động cơ
801,962 Mã lực
Nơi ở
Da nang
TƯỚNG GIÁP TỪNG ĐẶT CÂU HỎI ... NBCT CÓ ĐỘNG CƠ GÌ?
View attachment 9450360
Khi còn tích cực hoạt động, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng đọc NBCT và nêu: “... Có một cuốn sách lên án chiến tranh. Người viết là Bảo Ninh, con anh Hoàng Tuệ. Động cơ chưa biết như thế nào, nhưng mô tả gian khổ của bộ đội là bấp bênh, vô vọng...”
View attachment 9450361
Có lẽ nếu còn tại thế tướng Giáp bây giờ đã hiểu vì sao có NBCT và vì sao nó được đưa vào SGK và vinh danh.
Có nhiều người lên tiếng bảo vệ sự tồn tại của cuốn NBCT với lý do đó là quyền viết văn của tác giả, quyền bày tỏ cảm xúc nỗi buồn, cần được tôn trọng góc nhìn khác. Hôm nay, người viết cũng đưa ra thêm lý giải cho quan điểm phản đối NBCT của mình.
Sự thật là NBCT được viết vào năm 1987, sau khiến tranh 12 năm. Trước đó, đầu những năm 1980 sau những khuất tất, tai tiếng trong công việc của Bảo Ninh (tên thật là Phương) tại một viện nghiên cứu sinh học, phải khai trừ Đảng, buộc thôi việc.
Là người đôi lúc cũng có xúc cảm trong chuyện đời, cũng từng 4-5 lần thơ hóa tâm tưởng của mình dù là vài ba câu hoặc 1 đoạn ngắn, người viết thấy rằng xúc cảm đó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian không quá lâu, nếu không thể hiện nó ngay, rất khó có lại xúc cảm để viết sau một vài tháng. Đây là quy luật của thế gian, mọi thứ có sinh có diệt, từ vật chất cho đến tinh thần.
Một người trải qua chiến tranh, với những người có tâm hồn văn chương thì cảm xúc thực sự khi trải qua chiến tranh sẽ thường được viết lại ngay từ thời điểm chiến tranh như "Mãi mãi tuổi 20" được viết bởi Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc trong thời gian nhập ngũ, từ cuối năm 1971 đến tháng 5 năm 1972 hoặc chỉ sau khi chiến tranh kết thúc một thời gian không dài. Đó là cảm xúc tự nhiên, hiện thực thực sự của những người trải qua chiến tranh. Còn đối với những người viết về đề tài này cách khá xa thời chiến hàng thập kỷ thì đó không phải là cảm xúc tự nhiên, hiện thực mà nó là nghề văn, nghề viết chữ theo một ý tưởng nào đó, mục đích nào đó, phong cách nào đó và thậm chí một âm mưu nào hoặc được đặt hàng bởi ai đó. Khi ấy, dưới vỏ bọc sáng tạo văn chương, người ta có thể lãng mạn hóa, tiểu thuyết hóa, bi kịch hóa, hài kịch hóa, hư cấu hóa... và nếu không có ý thức, trách nhiệm với cộng đồng, người ta hoàn toàn có thể cài vào một tác phẩm văn học một lối tư duy, một cách nghĩ, một câu chuyện, một tình huống gây tranh cãi, phản cảm ... theo cách mà không có luật nào quy định chi tiết, tỉ mỉ, cụ tỷ đến mức áp dụng đến từng câu, từng từ dùng trong đó. Nhiều sự việc luật pháp cũng khó can thiệp bởi khuôn khổ pháp lý, mà chỉ có thể can thiệp bằng dư luận, bức xúc của số đông.
Mạng sống là quý giá nhất, số lượng người mất và trở thành thương phế binh, không thể sống đời bình thường đã quá đủ nói lên mặt trái của chiến tranh. Không cần tô vẽ một nỗi buồn nào thêm nữa bởi vì một người lính còn sống nếu thực sự có xúc cảm thì sẽ thương đồng đội mình đã chết hoặc trở thành tàn tật, chứ không phải ôm ấp nỗi buồn của mình. Đời người ta, bản năng tự nhiên vốn sống theo hướng tránh khổ, tìm vui, chẳng ai sống mãi với nỗi buồn hay tình yêu quá khứ. Nếu thực sự yêu thương mà bị chia lìa, người ta vẫn sống có buồn những cũng với ký ức yêu thương, còn nếu không yêu thương sâu đậm người ta rất nhanh tìm một mối quan hệ mới. Rất nhiều liền ông cứ nghĩ hoặc nói sẽ yêu mãi rồi khi một cuộc tình hay cuộc hôn nhân kết thúc, họ có mối quan hệ mới một cách nhanh chóng và đầy bất ngờ. Chẳng đáng tin một liền ông mang cảm xúc buồn hàng thập kỷ ngoại trừ liền ông đó bị tự kỷ, trầm cảm. Trường hợp trầm cảm tự kỷ thì càng cần tìm cách chấm dứt cảm xúc đó mới là việc nên làm.
Với những nhận định như trên, người viết thấy rằng, NBCT nó chẳng phải nỗi buồn hiện thực chiến tranh nào cả, nó chẳng phải cảm xúc tự nhiên, chân thực của con người trải qua chiến tranh. Nếu là cảm xúc tự nhiên hiện thực thì nên nhìn với cái nhìn bao dung, cảm thông dù cảm xúc cũng còn có lúc đúng lúc sai. Với trực cảm nội tâm của mình, người viết tin rằng, một nhà văn hiện thực về bi vẫn thấy bi mà thương, bi mà tráng trong đó dù có những xấu ác, buồn đến nao lòng, nó vẫn phảng phất trong đó khát vọng sống về lối sống nhăn văn, nhân ái, nhân tình như chị Dậu hay Lão Hạc... Không ít người không nhận ra ranh giới này và tìm cách bảo vệ quyền được bày tỏ của tác giả, rồi quyền bày tỏ xúc cảm của con người. Nhưng ở đây nó là một kiểu bôi nỗi buồn ra trong một quyển sách theo cách tư duy ngược, có mục đích, có ý đồ của một nghề dùng chữ, nghĩa để phóng đại mặt nào đó của chiến tranh, dùng con chữ để biến chuyện nhỏ thành chuyện lớn, làm mặt trái lấn át mặt phải... Khi người ta làm nghề thì cái nghề đó nó phải được xem xét trong tiêu chí có phục vụ lợi ích số đông hay không. Và đây là lựa chọn và trách nhiệm của câu chuyện định hướng con người ở hiện tại và tương lai.
Giống như một người nghĩ bậy và chửi tục, chửi bậy vì bức xúc. Họ có thể ngồi trong nhà tự nghĩ và tự nói với chính mình mà không ai có thể can thiệp. Nhưng khi ra nơi công cộng thì việc đó phải cân nhắc có ảnh hưởng tới người khác hay không. Trong phòng ngủ riêng tư, nam nữ gần gũi nhau trong sự chia sẻ cảm xúc của tâm hồn và tiếp xúc thể xác với sự thúc đẩy của bản năng nhưng người ta không thể làm điều đó giữa đám đông vì đó là hành vi mà người có nhận thức đúng mực xem là biến thái, bệnh hoạn, bầy đàn ngang loài vật. Cũng như vậy, NBCT với những tình huống gợi dục có chăng nên để là cuốn sách ngoài luồng, đọc tham khảo riêng tư, không thể được đưa cài cắm vào nội dung sách giáo khoa chuẩn mực cho học sinh lớp 9 và lớp 12 một cách lệch lạc, thiếu trách nhiệm như cách Bộ Giáo Dục đưa vào từ 2018.
Nhà nước Việt Nam đang có khẩu hiệu trong giáo dục chú trọng về Đức trong xây dựng Tài của con người. Ở lứa tuổi mới lớn, bắt đầu tò mò về chuyện tính dục, học sinh cần học cách kiếm chế bản năng, giữ mình trong sự thu hút giới tính, để tập cho mình có khả năng khước từ cám dỗ ở tuổi trưởng thành, tránh các câu chuyện lăng nhăng, ngoại tình, ngoài luồng vốn là một trong các lý do phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đình ở hiện tại mà nó cũng là biểu hiện của thiếu Đức của xã hội.
Một cuốn sách được viết có chủ đích theo lối phản tư, dùng ý thức tư duy ngược, nhìn khác đi, phóng đại lên, bi kịch hóa, buồn bã hóa, vô định hóa, rời rạc hóa, không phải cảm xúc văn chương hiện thực tự nhiên đồng thời cài vào nhiều chi tiết dung tục không hợp lứa tuổi thì làm gì có mục đích giáo dục ngoài mục đích phá nát nền giáo dục một cách âm thầm từ từ?
Nói chung là các cụ lên án quyển này cũng hơi muộn, khi nó đã được đưa vào sgk từ 2018. Lúc đó thì không thấy ai ý kiến mấy. Giờ nó được giải thưởng nghê thuật thì lại phản đối ầm ầm. Quả là phản ứng ngược đời.
Đáng lý, lúc đưa vào sgk phải phản đối mới đúng, còn được giải thì kệ nó chứ.
 

anhtrangvn

Xe tăng
Biển số
OF-117009
Ngày cấp bằng
16/10/11
Số km
1,329
Động cơ
411,736 Mã lực
Nói chung là các cụ lên án quyển này cũng hơi muộn, khi nó đã được đưa vào sgk từ 2018. Lúc đó thì không thấy ai ý kiến mấy. Giờ nó được giải thưởng nghê thuật thì lại phản đối ầm ầm. Quả là phản ứng ngược đời.
Đáng lý, lúc đưa vào sgk phải phản đối mới đúng, còn được giải thì kệ nó chứ.
Em lâu nay có để ý đâu. Sau vụ vinh danh mới để ý theo dõi, xong rồi cộng đồng mạng đào ra nó đã được đưa vào SGK rồi mới biết.
 

.Bo My

Xe cút kít
Biển số
OF-795404
Ngày cấp bằng
1/11/21
Số km
15,312
Động cơ
351,005 Mã lực
Nói chung là các cụ lên án quyển này cũng hơi muộn, khi nó đã được đưa vào sgk từ 2018. Lúc đó thì không thấy ai ý kiến mấy. Giờ nó được giải thưởng nghê thuật thì lại phản đối ầm ầm. Quả là phản ứng ngược đời.
Đáng lý, lúc đưa vào sgk phải phản đối mới đúng, còn được giải thì kệ nó chứ.
Lúc đó có ai giới thiệu tác giả là bị khai trừ Đ nhưng vẫn viết sách tốt đâum :D
 

cà rốt xanh

Xe buýt
Biển số
OF-75417
Ngày cấp bằng
14/10/10
Số km
524
Động cơ
-58,728 Mã lực
NBCT là một tiểu thuyết vô cùng giá trị viết vè chủ đề chiến tranh. Bằng chứng:
1. Đc tái bản 26 lần
2. Đc nhiều nước trên TG mua bản quyền và chuyển ngữ, thậm chí có ý tưởng chuyển thể thành Phim
3. Đc bộ VH vinh danh
4. Đc đưa vào sách giáo khoa (các trích đoạn)
5. Đc Đại tướng VNG khuyên nên đọc, để biết phải làm gì
1767012707571.png


1767012739005.png


=))=))=))=))=))=))
 

BopCoi

Xe buýt
Biển số
OF-187425
Ngày cấp bằng
29/3/13
Số km
786
Động cơ
327,896 Mã lực
Mời các cụ thẩm bài viết của người có chuyên môn, một nhà văn - nhà phê bình viết về NBCT. Đọc mãi mấy bài của các bác chưa phân biệt được thế nào là tiểu thuyết, thế nào là sử ký bàn về NBCT chán lắm.

“Nỗi buồn chiến tranh”: Bảo Ninh đã viết về cuộc chiến tranh và người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam qua nhân vật Kiên như thế nào?

Các trích dẫn lấy từ bản in đầu tiên của cuốn tiểu thuyết với tên gọi “Thân phận của tình yêu”, NXB Hội Nhà văn, 1990. Sách này đóng dấu thư viện của Trường Sĩ quan Chính trị, tôi không còn nhớ đã có mặt ở tủ sách của tôi trong trường hợp nào. Những chỗ in chữ to là tôi nhấn mạnh. Tôi dùng bản in đầu tiên để không ai đổ vấy rằng những lần in sau có thể tác giả đã cắt sửa. Và những ai muốn tranh luận thì cũng phải căn cứ vào văn bản đầu tiên này của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.

1. Bảo Ninh đã gọi rõ ràng là cuộc chiến tranh chống Mỹ.

“Và dù sao mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính CHỐNG MỸ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.” (tr. 78)

2. Bảo Ninh đã viết về sự sung sướng và tự hào của người lính ngày chiến thắng.

“Rồi anh lại nhớ tới những ngày xuân, khi toàn quân B3 từ vùng duyên hải Phan Rang hành quân ngược lên đèo Ngoạn Mục, qua thủy điện Đa Nhim, qua Đơn Dương, Đức Trọng, xuống Di Linh để ra đường 14 đi xuống Lộc Ninh, quặt trở lại để đánh vào Tây Sài Gòn kết thúc chiến tranh. Cuộc hành quân muôn một trong đời lính bộ binh, vùn vụt tiến quân bằng xe cơ giới xuyên qua đất trời vô tận của thảo nguyên… Khi bình minh đến trên đồng cỏ, quân lính tỉnh dậy trên xe, mặt bạc đi vì gió và vì sương, hỏi nhau đêm qua đã vượt qua được những vùng đất nào, bây giờ đang ở đâu đây… sung sướng tự hào vì tốc độ của chiến thắng. Hạnh phúc. Ngỡ ngàng. Ngây ngất.” (tr. 170)

3. Bảo Ninh đòi hỏi phải trân trọng biết ơn máu xương bao đồng đội đổ xuống để có hoà bình.

Cái câu “hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” hay bị trích ra để phê phán là nằm trong đoạn đối thoại dưới đây của Kiên và Sơn anh lính lái xe đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Cứ một câu chán nản của Kiên là một câu tích cực của Sơn đáp lại. Đó là phép viết văn của Bảo Ninh.

“– Giá có cách gì thông tin cho họ biết là đã thắng lợi rồi cho họ an lòng nhỉ?

– Ôi giời Có nói được thì cũng nói làm gì cơ. Dưới âm ty người ta chẳng nhớ chiến tranh là cái trò gì nữa đâu. Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.

– Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ phút hòa bình là giờ phút phục sinh tất cả những người đã chết trận nhỉ.

– Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa-bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.

– Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt sẽ còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu làm gì? Hòa bình làm gì?” (tr. 44)


4. Bảo Ninh, vẫn với bút pháp như vậy, nên sau khi để ông bố dượng dặn dò Kiên khi anh đến chào dượng vào lính (một đoạn văn sâu sắc, nhưng cũng hay bị lấy ra phê phán), đã diễn tả ý nghĩ của Kiên khi nghe lời dặn đó.

“– Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?

Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu. Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và vô bổ, thậm chí lầm lạc.” (tr. 61-62)

5. Bảo Ninh viết về Kiên là người lính dẫu tâm hồn đã bị chết lặng “ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn của đời sống thời chiến (tức chứng kiến Phương bị hiếp trên tàu hoả – PXN) không thể ngóc đầu lên được nữa”, nhưng anh vẫn vào trận với tư cách người lính can trường thực thụ:

“trong suốt mười năm sau đấy với khẩu tiểu liên trong tay, ANH ĐÃ LUÔN LUÔN Ở HÀNG ĐẦU QUÂN XUNG KÍCH, CÙNG ĐỒNG ĐỘI TỪNG BƯỚC KIÊN TRÌ VƯỢT QUA NGÀN DẶM CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN LỚN LAO ĐẦY NHỮNG THĂNG TRẦM ĐỂ ĐẠT TỚI ĐỈNH CAO THẮNG LỢI, ĐÃ TỪNG ĐƯỢC TẮM MÌNH TRONG HẠNH PHÚC CỦA THỜI THANH XUÂN GIỮA GIÓ BÃO CHIẾN TRƯỜNG VỚI BAO NIỀM ĐAM MÊ CHOÁNG NGỢP LÒNG NGƯỜI.” (tr. 211-212).

6.Bảo Ninh thông qua Kiên đã nhận về mình “thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh” để nhắc những người sống nhớ cái giá của chiến tranh, cái giá của thắng lợi, cái giá của sự được sống làm người bình thường, không bị chiến tranh bóp nát thể xác và tâm hồn.

“NẾU KHÔNG NHỜ CÓ HOÀ CÙNG BIẾT BAO ĐỒNG ĐỘI THÂN YÊU RUỘT THỊT, VÔ SỐ VÀ VÔ DANH, NHỮNG NGƯỜI LÍNH THƯỜNG, NHỮNG LIỆT SĨ CỦA LÒNG NHÂN, ĐÃ LÀM SÁNG DANH ĐẤT NƯỚC NÀY VÀ ĐÃ LÀM NÊN VẺ ĐẸP TINH THẦN CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN, thì đối với Kiên, chiến tranh với bộ mặt gớm guốc của nó, với những móng vuốt của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất kỳ ai đã phải trải qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi không thể tha thứ cho mình. BẢN THÂN ANH NẾU KHÔNG NHỜ ĐƯỢC SỰ CHE CHỞ ĐÙM BỌC, ĐƯỢC CƯU MANG VÀ ĐƯỢC CỨU RỖI TRONG TÌNH ĐỒNG ĐỘI BÁC ÁI THÌ ẮT RẰNG ĐÃ CHẾT TỪ LÂU, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp.” (tr. 227)

7. Bảo Ninh đã viết rất xúc động thiêng liêng sự siêu thoát của người lính khi được đồng đội bốc mộ để quy tập về nghĩa trang.

“Kiên nhớ: ở thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy, một hôm tổ của anh đào trúng một ngôi mộ kết. Mộ nổi lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc bờ sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị ngập. Thế nhưng thật khó lòng mà hiểu nổi nguyên nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài quách, chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống như thế. Nằm trong một cái túi nilông dày giống bao đựng xác của quân Mỹ nhưng trong suốt, người chiến sĩ như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say, khuôn mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da thịt tuồng như còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ phút chốc cái túi đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã siêu thoát. Màu trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống và trong đó bày ra trọn vẹn một bộ hài cốt màu vàng sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng hoàng. KHÔNG AI BẢO AI TẤT CẢ ĐỀU QUỲ XUỐNG, ĐƯA CAO TAY LÊN VỚI THEO BÓNG HỒN THIÊNG LIÊNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI ĐÃ VỀ THẦN. ĐÚNG LÚC BẤY GIỜ TRÊN VÒM TRỜI BAO LA, CUỒN CUỘN GIÓ MÂY MIỀN CÁNH BẮC, MỘT ĐÀN THIÊN ĐƯỜNG CÁNH ĐEN VỪA TỪ HƯỚNG BIỂN LÊN, ĐỘI HÌNH CHỮ V ĐỀU TĂM TẮP, NHỊP NHÀNG VỖ CÁNH, THONG THẢ VÀ TRANG TRỌNG BAY VƯỢT QUA MIỀN NÚI NON TRÙNG ĐIỆP.” (tr. 95-96).

8. Đặc biệt Bảo Ninh đã để Kiên tẩn đòn một gã thanh niên dám xúc phạm đến đồng đội mình, đến quân đội, và đến Phương.

Tại các trang 175 – 178 hồi ức của Kiên đã nhớ lại một lần đánh nhau trong tiệm cà phê. Tiệm đó có chủ quán là một trung sĩ, cũng một lính trận trở về. Những người lính cũ thường hay đến đó gặp gỡ, chuyện trò. Một hôm đang như thế thì có mấy thanh niên vào quán. Kiên nhớ lại: “Bọn họ đi cúp tới. Dựng xe, không khoá, có lẽ cũng chỉ định tạt vào uống cà phê thôi. Ba bốn người gì đó. Họ ăn mặc diện, trông không có gì dữ tợn. Thậm chí thoáng tưởng như là các ca sĩ của băng nhạc nhẹ, nhưng là loại người ta chẳng nên dây. Đó là những tên ác ôn kín đáo, trác táng và nguy hiểm, đặc biệt là khi chúng ở vào cùng cỡ tuổi ba mươi như Kiên khi ấy. Những tên như thế thường có vũ khí, không súng thì dao, và dẫu không vũ khí, chúng cũng là những con thú, Kiên biết.” Mấy thanh niên ấy vào quán uống cà phê và nói chuyện rì rầm. Nhưng trong quán lúc đó đang có Vượng, một cựu binh thiết giáp đã từng bốn năm trời lái T54 hoành hành ở Miền Đông. Vượng đang say hát ầm ĩ cho nguôi nỗi ám ảnh chiến tranh. Thấy thế một thanh niên trong bọn thay vì phản đối với chủ quán hay quát kẻ say im miệng lại buông ra một nhận xét:

“- Đồ rác rưởi, một thằng cha đầy lòng tự hào chiến thắng đấy. Thật đúng là thắng lợi của bọn dã man, bọn ăn lông ở lỗ, bọn nhà quê An Nam mít đối với văn minh và tiến hoá. Đồ rác rưởi!”

Nghe thế Kiên lập tức lên tiếng thẳng thừng:

“- TÔI CHO RẰNG: ANH MỚI LÀ ĐỒ RÁC RƯỞI KHI NÓI NHƯ VẬY.”

Và khi tên kia phản ứng lại Kiên bằng cách lôi Phương vào chuyện và xúc phạm Phương một cách đê tiện, bẩn thỉu, thì Kiên đã ra đòn ngay. “Thành ra Kiên không đợi hắn ở chỗ vòi phun nữa mà nện ngay ở cửa tiệm. Không ai can thiệp cả, kể cả mấy tên trong hội. Hết đấm lại đá, rồi ghế phạng vào đầu, như điên, như cuồng. Kiên kéo thân hình tả tơi, bê bết máu của ca sĩ Hưng ra vỉa hè, dúi cái mặt bị đánh vỡ của hắn xuống rãnh cống.”

*

Để kết luận bài này, cũng như ở bài trước “Nỗi buồn chiến tranh: Ai hiếp Phương?”, tôi phải nói rằng tôi làm cái việc trích lục các đoạn trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” như thế này là việc chẳng đặng đừng, nhưng tôi phải làm thế là để muốn nhắc những người quy kết, chụp mũ tác phẩm này của Bảo Ninh hãy đọc sách đã, đọc thật kỹ, đọc đúng cách một tác phẩm văn học, và có nói gì thì hãy nói trên văn bản tiểu thuyết. Nếu không, tôi xin nhắc lại điều đã nói, các vị sẽ là kẻ “hiếp” NBCT, “hiếp” văn chương.

Hà Nội, 22 – 25.12.2025.

PHẠM XUÂN NGUYÊN

 
Chỉnh sửa cuối:

Đông Gioăng

Xe điện
Biển số
OF-834575
Ngày cấp bằng
28/5/23
Số km
2,172
Động cơ
256,338 Mã lực
Đúng là so sánh VBLN vs. NBX hơi bị chênh lệch. Hay ta so sánh VBLN với “Ông Cố Vấn” (OCV) của nhà văn Hữu Mai cụ nhỉ. Cả 2 đều có chung không, thời gian, nhân vật chính cũng leo cao luồn sâu từ xuất phát điểm tín đồ đạo Công giáo. Một anh cắp súng và 1 cụ ôm ca táp ….
OCV là nhà văn viết về chính trị lại trong môi trường tôn giáo nên giọng văn mượt mà nhẹ nhàng hơn. Mô tả rất chi tiết và đầy đủ diễn biến nội tâm nhân vật và thiên về đấu trí chiều sâu. Viết về đối phương cũng nhẹ nhàng và người hơn, tỷ như đoạn nói về dragon lady - TLX. Tuy mang tính tình báo, nhưng độ giật gân nó ko cao mà thiên về độ trầm ngâm suy luận chiều sâu. Âu cũng là tính cách của tác giả. Nhưng em vẫn có cảm giác thiếu thiếu ở câu chuyện tình báo. Nhân vật chính toàn bích quá, trọn vẹn quá, mô phạm khuôn khổ nên kém … hấp dẫn, nó đều đều hỏng dzui :) . Chưa kể kín kẽ theo kiểu văn học chính qui, tròn trịa ko lối thoát :P . Nghe nói cũng đoạt giải , nhưng ko phải là cái giải 50 năm vừa rồi. Tác giả cũng đầu tư sưu tầm rất nhiều, với lợi thế là nhà văn quân đội, ông có nhiều nguồn tiếp cận mà ko phải nhiều người có được. Viết rất bài bản, có chiều sâu và đầy đủ cho từng sự kiện.
VBLN vẫn có vẻ là tay ngang, dù viết cũng có nghề, nhưng nội tâm nhân vật khá hời hợt, chủ yếu ở hành động, đồng ý, cụ Lý mượn bối cảnh, tài liệu bên ngoài, kể cả trước tác của người khác cho vào tác phẩm khá nhiều. Nhưng em đọc thấy cuốn hơn, có khi cũng tại vì phim. Hơn nữa cũng vì phong cách Nam bộ, 1 phát ăn ngay, không nói lằng nhằng phức tạp. Em thích tác phẩm này hơn, nhưng khá bực mấy đoạn s.e.x. mà cụ ấy bỏ vào, chối bỏ xừ, không ngửi được :)) .
Trong ÔCV-Hồ sơ 1 điệp viên của cụ Hữu Mai, bản in 1987, em đọc hồi còn thiếu niên, em vô cùng ấn tượng với 2 chi tiết:
1. Cụ Nhạ là người gợi ý, đồng thời là người lên danh sách đoàn sứ quan VNCH đi Mẽo, cụ bổ luôn cụ Huỳnh văn Trọng (người của ta) làm trưởng đoàn. Vợ chồng tổng Thiệu còn phải ngỏ lời cho đệ lọ đệ chai đi cùng để làm áp phe, hòng có tí dắt lưng khi thoái vị. Vụ này có trong sử
2. Cụ Nhạ để tổng Thiệu năn nỉ cụ mới đi Honolulu cố vấn sau cánh gà cho Thiệu gặp tổng Giôn,
vụ cụ Nhạ đi Honolulu e không thể đối chiếu thông tin sử nào, trong sách thì có nói rõ cụ Nhạ xin phép tổ chức ok cụ mới đi
 
Chỉnh sửa cuối:
Biển số
OF-739045
Ngày cấp bằng
11/8/20
Số km
393
Động cơ
66,352 Mã lực
Tuổi
45
Mời các cụ thẩm bài viết của người có chuyên môn, một nhà văn - nhà phê bình viết về NBCT. Đọc mãi mấy bài của các bác chưa phân biệt được thế nào là tiểu thuyết, thế nào là sử ký bàn về NBCT chán lắm.

“Nỗi buồn chiến tranh”: Bảo Ninh đã viết về cuộc chiến tranh và người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam qua nhân vật Kiên như thế nào?

Các trích dẫn lấy từ bản in đầu tiên của cuốn tiểu thuyết với tên gọi “Thân phận của tình yêu”, NXB Hội Nhà văn, 1990. Sách này đóng dấu thư viện của Trường Sĩ quan Chính trị, tôi không còn nhớ đã có mặt ở tủ sách của tôi trong trường hợp nào. Những chỗ in chữ to là tôi nhấn mạnh. Tôi dùng bản in đầu tiên để không ai đổ vấy rằng những lần in sau có thể tác giả đã cắt sửa. Và những ai muốn tranh luận thì cũng phải căn cứ vào văn bản đầu tiên này của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.

1. Bảo Ninh đã gọi rõ ràng là cuộc chiến tranh chống Mỹ.

“Và dù sao mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính CHỐNG MỸ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.” (tr. 78)

2. Bảo Ninh đã viết về sự sung sướng và tự hào của người lính ngày chiến thắng.

“Rồi anh lại nhớ tới những ngày xuân, khi toàn quân B3 từ vùng duyên hải Phan Rang hành quân ngược lên đèo Ngoạn Mục, qua thủy điện Đa Nhim, qua Đơn Dương, Đức Trọng, xuống Di Linh để ra đường 14 đi xuống Lộc Ninh, quặt trở lại để đánh vào Tây Sài Gòn kết thúc chiến tranh. Cuộc hành quân muôn một trong đời lính bộ binh, vùn vụt tiến quân bằng xe cơ giới xuyên qua đất trời vô tận của thảo nguyên… Khi bình minh đến trên đồng cỏ, quân lính tỉnh dậy trên xe, mặt bạc đi vì gió và vì sương, hỏi nhau đêm qua đã vượt qua được những vùng đất nào, bây giờ đang ở đâu đây… sung sướng tự hào vì tốc độ của chiến thắng. Hạnh phúc. Ngỡ ngàng. Ngây ngất.” (tr. 170)

3. Bảo Ninh đòi hỏi phải trân trọng biết ơn máu xương bao đồng đội đổ xuống để có hoà bình.

Cái câu “hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” hay bị trích ra để phê phán là nằm trong đoạn đối thoại dưới đây của Kiên và Sơn anh lính lái xe đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Cứ một câu chán nản của Kiên là một câu tích cực của Sơn đáp lại. Đó là phép viết văn của Bảo Ninh.

“– Giá có cách gì thông tin cho họ biết là đã thắng lợi rồi cho họ an lòng nhỉ?

– Ôi giời Có nói được thì cũng nói làm gì cơ. Dưới âm ty người ta chẳng nhớ chiến tranh là cái trò gì nữa đâu. Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.

– Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ phút hòa bình là giờ phút phục sinh tất cả những người đã chết trận nhỉ.

– Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa-bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.

– Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt sẽ còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu làm gì? Hòa bình làm gì?” (tr. 44)


4. Bảo Ninh, vẫn với bút pháp như vậy, nên sau khi để ông bố dượng dặn dò Kiên khi anh đến chào dượng vào lính (một đoạn văn sâu sắc, nhưng cũng hay bị lấy ra phê phán), đã diễn tả ý nghĩ của Kiên khi nghe lời dặn đó.

“– Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?

Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu. Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và vô bổ, thậm chí lầm lạc.” (tr. 61-62)

5. Bảo Ninh viết về Kiên là người lính dẫu tâm hồn đã bị chết lặng “ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn của đời sống thời chiến (tức chứng kiến Phương bị hiếp trên tàu hoả – PXN) không thể ngóc đầu lên được nữa”, nhưng anh vẫn vào trận với tư cách người lính can trường thực thụ:

“trong suốt mười năm sau đấy với khẩu tiểu liên trong tay, ANH ĐÃ LUÔN LUÔN Ở HÀNG ĐẦU QUÂN XUNG KÍCH, CÙNG ĐỒNG ĐỘI TỪNG BƯỚC KIÊN TRÌ VƯỢT QUA NGÀN DẶM CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN LỚN LAO ĐẦY NHỮNG THĂNG TRẦM ĐỂ ĐẠT TỚI ĐỈNH CAO THẮNG LỢI, ĐÃ TỪNG ĐƯỢC TẮM MÌNH TRONG HẠNH PHÚC CỦA THỜI THANH XUÂN GIỮA GIÓ BÃO CHIẾN TRƯỜNG VỚI BAO NIỀM ĐAM MÊ CHOÁNG NGỢP LÒNG NGƯỜI.” (tr. 211-212).

6.Bảo Ninh thông qua Kiên đã nhận về mình “thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh” để nhắc những người sống nhớ cái giá của chiến tranh, cái giá của thắng lợi, cái giá của sự được sống làm người bình thường, không bị chiến tranh bóp nát thể xác và tâm hồn.

“NẾU KHÔNG NHỜ CÓ HOÀ CÙNG BIẾT BAO ĐỒNG ĐỘI THÂN YÊU RUỘT THỊT, VÔ SỐ VÀ VÔ DANH, NHỮNG NGƯỜI LÍNH THƯỜNG, NHỮNG LIỆT SĨ CỦA LÒNG NHÂN, ĐÃ LÀM SÁNG DANH ĐẤT NƯỚC NÀY VÀ ĐÃ LÀM NÊN VẺ ĐẸP TINH THẦN CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN, thì đối với Kiên, chiến tranh với bộ mặt gớm guốc của nó, với những móng vuốt của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất kỳ ai đã phải trải qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi không thể tha thứ cho mình. BẢN THÂN ANH NẾU KHÔNG NHỜ ĐƯỢC SỰ CHE CHỞ ĐÙM BỌC, ĐƯỢC CƯU MANG VÀ ĐƯỢC CỨU RỖI TRONG TÌNH ĐỒNG ĐỘI BÁC ÁI THÌ ẮT RẰNG ĐÃ CHẾT TỪ LÂU, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp.” (tr. 227)

7. Bảo Ninh đã viết rất xúc động thiêng liêng sự siêu thoát của người lính khi được đồng đội bốc mộ để quy tập về nghĩa trang.

“Kiên nhớ: ở thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy, một hôm tổ của anh đào trúng một ngôi mộ kết. Mộ nổi lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc bờ sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị ngập. Thế nhưng thật khó lòng mà hiểu nổi nguyên nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài quách, chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống như thế. Nằm trong một cái túi nilông dày giống bao đựng xác của quân Mỹ nhưng trong suốt, người chiến sĩ như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say, khuôn mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da thịt tuồng như còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ phút chốc cái túi đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã siêu thoát. Màu trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống và trong đó bày ra trọn vẹn một bộ hài cốt màu vàng sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng hoàng. KHÔNG AI BẢO AI TẤT CẢ ĐỀU QUỲ XUỐNG, ĐƯA CAO TAY LÊN VỚI THEO BÓNG HỒN THIÊNG LIÊNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI ĐÃ VỀ THẦN. ĐÚNG LÚC BẤY GIỜ TRÊN VÒM TRỜI BAO LA, CUỒN CUỘN GIÓ MÂY MIỀN CÁNH BẮC, MỘT ĐÀN THIÊN ĐƯỜNG CÁNH ĐEN VỪA TỪ HƯỚNG BIỂN LÊN, ĐỘI HÌNH CHỮ V ĐỀU TĂM TẮP, NHỊP NHÀNG VỖ CÁNH, THONG THẢ VÀ TRANG TRỌNG BAY VƯỢT QUA MIỀN NÚI NON TRÙNG ĐIỆP.” (tr. 95-96).

8. Đặc biệt Bảo Ninh đã để Kiên tẩn đòn một gã thanh niên dám xúc phạm đến đồng đội mình, đến quân đội, và đến Phương.

Tại các trang 175 – 178 hồi ức của Kiên đã nhớ lại một lần đánh nhau trong tiệm cà phê. Tiệm đó có chủ quán là một trung sĩ, cũng một lính trận trở về. Những người lính cũ thường hay đến đó gặp gỡ, chuyện trò. Một hôm đang như thế thì có mấy thanh niên vào quán. Kiên nhớ lại: “Bọn họ đi cúp tới. Dựng xe, không khoá, có lẽ cũng chỉ định tạt vào uống cà phê thôi. Ba bốn người gì đó. Họ ăn mặc diện, trông không có gì dữ tợn. Thậm chí thoáng tưởng như là các ca sĩ của băng nhạc nhẹ, nhưng là loại người ta chẳng nên dây. Đó là những tên ác ôn kín đáo, trác táng và nguy hiểm, đặc biệt là khi chúng ở vào cùng cỡ tuổi ba mươi như Kiên khi ấy. Những tên như thế thường có vũ khí, không súng thì dao, và dẫu không vũ khí, chúng cũng là những con thú, Kiên biết.” Mấy thanh niên ấy vào quán uống cà phê và nói chuyện rì rầm. Nhưng trong quán lúc đó đang có Vượng, một cựu binh thiết giáp đã từng bốn năm trời lái T54 hoành hành ở Miền Đông. Vượng đang say hát ầm ĩ cho nguôi nỗi ám ảnh chiến tranh. Thấy thế một thanh niên trong bọn thay vì phản đối với chủ quán hay quát kẻ say im miệng lại buông ra một nhận xét:

“- Đồ rác rưởi, một thằng cha đầy lòng tự hào chiến thắng đấy. Thật đúng là thắng lợi của bọn dã man, bọn ăn lông ở lỗ, bọn nhà quê An Nam mít đối với văn minh và tiến hoá. Đồ rác rưởi!”

Nghe thế Kiên lập tức lên tiếng thẳng thừng:

“- TÔI CHO RẰNG: ANH MỚI LÀ ĐỒ RÁC RƯỞI KHI NÓI NHƯ VẬY.”

Và khi tên kia phản ứng lại Kiên bằng cách lôi Phương vào chuyện và xúc phạm Phương một cách đê tiện, bẩn thỉu, thì Kiên đã ra đòn ngay. “Thành ra Kiên không đợi hắn ở chỗ vòi phun nữa mà nện ngay ở cửa tiệm. Không ai can thiệp cả, kể cả mấy tên trong hội. Hết đấm lại đá, rồi ghế phạng vào đầu, như điên, như cuồng. Kiên kéo thân hình tả tơi, bê bết máu của ca sĩ Hưng ra vỉa hè, dúi cái mặt bị đánh vỡ của hắn xuống rãnh cống.”

*

Để kết luận bài này, cũng như ở bài trước “Nỗi buồn chiến tranh: Ai hiếp Phương?”, tôi phải nói rằng tôi làm cái việc trích lục các đoạn trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” như thế này là việc chẳng đặng đừng, nhưng tôi phải làm thế là để muốn nhắc những người quy kết, chụp mũ tác phẩm này của Bảo Ninh hãy đọc sách đã, đọc thật kỹ, đọc đúng cách một tác phẩm văn học, và có nói gì thì hãy nói trên văn bản tiểu thuyết. Nếu không, tôi xin nhắc lại điều đã nói, các vị sẽ là kẻ “hiếp” NBCT, “hiếp” văn chương.

Hà Nội, 22 – 25.12.2025.

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Nói nhiều làm gì; văn của một con Tốt, kẻ phản trắc, chọn cách làm nổi tiếng cho bản thân bằng cách đốt đền, bôi bẩn thần tượng. Khác gì con trẻ bây giờ muốn nổi tiếng thì tạo scadal bằng clip sex hoặc kiểu tổng tài vừa rồi ấy.
 

Kiên Khùng

Xe container
Biển số
OF-785718
Ngày cấp bằng
27/7/21
Số km
7,317
Động cơ
161,930 Mã lực
Mời các cụ thẩm bài viết của người có chuyên môn, một nhà văn - nhà phê bình viết về NBCT. Đọc mãi mấy bài của các bác chưa phân biệt được thế nào là tiểu thuyết, thế nào là sử ký bàn về NBCT chán lắm.

“Nỗi buồn chiến tranh”: Bảo Ninh đã viết về cuộc chiến tranh và người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam qua nhân vật Kiên như thế nào?

Các trích dẫn lấy từ bản in đầu tiên của cuốn tiểu thuyết với tên gọi “Thân phận của tình yêu”, NXB Hội Nhà văn, 1990. Sách này đóng dấu thư viện của Trường Sĩ quan Chính trị, tôi không còn nhớ đã có mặt ở tủ sách của tôi trong trường hợp nào. Những chỗ in chữ to là tôi nhấn mạnh. Tôi dùng bản in đầu tiên để không ai đổ vấy rằng những lần in sau có thể tác giả đã cắt sửa. Và những ai muốn tranh luận thì cũng phải căn cứ vào văn bản đầu tiên này của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.

1. Bảo Ninh đã gọi rõ ràng là cuộc chiến tranh chống Mỹ.

“Và dù sao mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính CHỐNG MỸ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.” (tr. 78)

2. Bảo Ninh đã viết về sự sung sướng và tự hào của người lính ngày chiến thắng.

“Rồi anh lại nhớ tới những ngày xuân, khi toàn quân B3 từ vùng duyên hải Phan Rang hành quân ngược lên đèo Ngoạn Mục, qua thủy điện Đa Nhim, qua Đơn Dương, Đức Trọng, xuống Di Linh để ra đường 14 đi xuống Lộc Ninh, quặt trở lại để đánh vào Tây Sài Gòn kết thúc chiến tranh. Cuộc hành quân muôn một trong đời lính bộ binh, vùn vụt tiến quân bằng xe cơ giới xuyên qua đất trời vô tận của thảo nguyên… Khi bình minh đến trên đồng cỏ, quân lính tỉnh dậy trên xe, mặt bạc đi vì gió và vì sương, hỏi nhau đêm qua đã vượt qua được những vùng đất nào, bây giờ đang ở đâu đây… sung sướng tự hào vì tốc độ của chiến thắng. Hạnh phúc. Ngỡ ngàng. Ngây ngất.” (tr. 170)

3. Bảo Ninh đòi hỏi phải trân trọng biết ơn máu xương bao đồng đội đổ xuống để có hoà bình.

Cái câu “hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” hay bị trích ra để phê phán là nằm trong đoạn đối thoại dưới đây của Kiên và Sơn anh lính lái xe đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Cứ một câu chán nản của Kiên là một câu tích cực của Sơn đáp lại. Đó là phép viết văn của Bảo Ninh.

“– Giá có cách gì thông tin cho họ biết là đã thắng lợi rồi cho họ an lòng nhỉ?

– Ôi giời Có nói được thì cũng nói làm gì cơ. Dưới âm ty người ta chẳng nhớ chiến tranh là cái trò gì nữa đâu. Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.

– Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ phút hòa bình là giờ phút phục sinh tất cả những người đã chết trận nhỉ.

– Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa-bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.

– Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt sẽ còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu làm gì? Hòa bình làm gì?” (tr. 44)


4. Bảo Ninh, vẫn với bút pháp như vậy, nên sau khi để ông bố dượng dặn dò Kiên khi anh đến chào dượng vào lính (một đoạn văn sâu sắc, nhưng cũng hay bị lấy ra phê phán), đã diễn tả ý nghĩ của Kiên khi nghe lời dặn đó.

“– Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?

Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu. Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và vô bổ, thậm chí lầm lạc.” (tr. 61-62)

5. Bảo Ninh viết về Kiên là người lính dẫu tâm hồn đã bị chết lặng “ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn của đời sống thời chiến (tức chứng kiến Phương bị hiếp trên tàu hoả – PXN) không thể ngóc đầu lên được nữa”, nhưng anh vẫn vào trận với tư cách người lính can trường thực thụ:

“trong suốt mười năm sau đấy với khẩu tiểu liên trong tay, ANH ĐÃ LUÔN LUÔN Ở HÀNG ĐẦU QUÂN XUNG KÍCH, CÙNG ĐỒNG ĐỘI TỪNG BƯỚC KIÊN TRÌ VƯỢT QUA NGÀN DẶM CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN LỚN LAO ĐẦY NHỮNG THĂNG TRẦM ĐỂ ĐẠT TỚI ĐỈNH CAO THẮNG LỢI, ĐÃ TỪNG ĐƯỢC TẮM MÌNH TRONG HẠNH PHÚC CỦA THỜI THANH XUÂN GIỮA GIÓ BÃO CHIẾN TRƯỜNG VỚI BAO NIỀM ĐAM MÊ CHOÁNG NGỢP LÒNG NGƯỜI.” (tr. 211-212).

6.Bảo Ninh thông qua Kiên đã nhận về mình “thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh” để nhắc những người sống nhớ cái giá của chiến tranh, cái giá của thắng lợi, cái giá của sự được sống làm người bình thường, không bị chiến tranh bóp nát thể xác và tâm hồn.

“NẾU KHÔNG NHỜ CÓ HOÀ CÙNG BIẾT BAO ĐỒNG ĐỘI THÂN YÊU RUỘT THỊT, VÔ SỐ VÀ VÔ DANH, NHỮNG NGƯỜI LÍNH THƯỜNG, NHỮNG LIỆT SĨ CỦA LÒNG NHÂN, ĐÃ LÀM SÁNG DANH ĐẤT NƯỚC NÀY VÀ ĐÃ LÀM NÊN VẺ ĐẸP TINH THẦN CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN, thì đối với Kiên, chiến tranh với bộ mặt gớm guốc của nó, với những móng vuốt của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất kỳ ai đã phải trải qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi không thể tha thứ cho mình. BẢN THÂN ANH NẾU KHÔNG NHỜ ĐƯỢC SỰ CHE CHỞ ĐÙM BỌC, ĐƯỢC CƯU MANG VÀ ĐƯỢC CỨU RỖI TRONG TÌNH ĐỒNG ĐỘI BÁC ÁI THÌ ẮT RẰNG ĐÃ CHẾT TỪ LÂU, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp.” (tr. 227)

7. Bảo Ninh đã viết rất xúc động thiêng liêng sự siêu thoát của người lính khi được đồng đội bốc mộ để quy tập về nghĩa trang.

“Kiên nhớ: ở thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy, một hôm tổ của anh đào trúng một ngôi mộ kết. Mộ nổi lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc bờ sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị ngập. Thế nhưng thật khó lòng mà hiểu nổi nguyên nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài quách, chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống như thế. Nằm trong một cái túi nilông dày giống bao đựng xác của quân Mỹ nhưng trong suốt, người chiến sĩ như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say, khuôn mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da thịt tuồng như còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ phút chốc cái túi đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã siêu thoát. Màu trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống và trong đó bày ra trọn vẹn một bộ hài cốt màu vàng sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng hoàng. KHÔNG AI BẢO AI TẤT CẢ ĐỀU QUỲ XUỐNG, ĐƯA CAO TAY LÊN VỚI THEO BÓNG HỒN THIÊNG LIÊNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI ĐÃ VỀ THẦN. ĐÚNG LÚC BẤY GIỜ TRÊN VÒM TRỜI BAO LA, CUỒN CUỘN GIÓ MÂY MIỀN CÁNH BẮC, MỘT ĐÀN THIÊN ĐƯỜNG CÁNH ĐEN VỪA TỪ HƯỚNG BIỂN LÊN, ĐỘI HÌNH CHỮ V ĐỀU TĂM TẮP, NHỊP NHÀNG VỖ CÁNH, THONG THẢ VÀ TRANG TRỌNG BAY VƯỢT QUA MIỀN NÚI NON TRÙNG ĐIỆP.” (tr. 95-96).

8. Đặc biệt Bảo Ninh đã để Kiên tẩn đòn một gã thanh niên dám xúc phạm đến đồng đội mình, đến quân đội, và đến Phương.

Tại các trang 175 – 178 hồi ức của Kiên đã nhớ lại một lần đánh nhau trong tiệm cà phê. Tiệm đó có chủ quán là một trung sĩ, cũng một lính trận trở về. Những người lính cũ thường hay đến đó gặp gỡ, chuyện trò. Một hôm đang như thế thì có mấy thanh niên vào quán. Kiên nhớ lại: “Bọn họ đi cúp tới. Dựng xe, không khoá, có lẽ cũng chỉ định tạt vào uống cà phê thôi. Ba bốn người gì đó. Họ ăn mặc diện, trông không có gì dữ tợn. Thậm chí thoáng tưởng như là các ca sĩ của băng nhạc nhẹ, nhưng là loại người ta chẳng nên dây. Đó là những tên ác ôn kín đáo, trác táng và nguy hiểm, đặc biệt là khi chúng ở vào cùng cỡ tuổi ba mươi như Kiên khi ấy. Những tên như thế thường có vũ khí, không súng thì dao, và dẫu không vũ khí, chúng cũng là những con thú, Kiên biết.” Mấy thanh niên ấy vào quán uống cà phê và nói chuyện rì rầm. Nhưng trong quán lúc đó đang có Vượng, một cựu binh thiết giáp đã từng bốn năm trời lái T54 hoành hành ở Miền Đông. Vượng đang say hát ầm ĩ cho nguôi nỗi ám ảnh chiến tranh. Thấy thế một thanh niên trong bọn thay vì phản đối với chủ quán hay quát kẻ say im miệng lại buông ra một nhận xét:

“- Đồ rác rưởi, một thằng cha đầy lòng tự hào chiến thắng đấy. Thật đúng là thắng lợi của bọn dã man, bọn ăn lông ở lỗ, bọn nhà quê An Nam mít đối với văn minh và tiến hoá. Đồ rác rưởi!”

Nghe thế Kiên lập tức lên tiếng thẳng thừng:

“- TÔI CHO RẰNG: ANH MỚI LÀ ĐỒ RÁC RƯỞI KHI NÓI NHƯ VẬY.”

Và khi tên kia phản ứng lại Kiên bằng cách lôi Phương vào chuyện và xúc phạm Phương một cách đê tiện, bẩn thỉu, thì Kiên đã ra đòn ngay. “Thành ra Kiên không đợi hắn ở chỗ vòi phun nữa mà nện ngay ở cửa tiệm. Không ai can thiệp cả, kể cả mấy tên trong hội. Hết đấm lại đá, rồi ghế phạng vào đầu, như điên, như cuồng. Kiên kéo thân hình tả tơi, bê bết máu của ca sĩ Hưng ra vỉa hè, dúi cái mặt bị đánh vỡ của hắn xuống rãnh cống.”

*

Để kết luận bài này, cũng như ở bài trước “Nỗi buồn chiến tranh: Ai hiếp Phương?”, tôi phải nói rằng tôi làm cái việc trích lục các đoạn trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” như thế này là việc chẳng đặng đừng, nhưng tôi phải làm thế là để muốn nhắc những người quy kết, chụp mũ tác phẩm này của Bảo Ninh hãy đọc sách đã, đọc thật kỹ, đọc đúng cách một tác phẩm văn học, và có nói gì thì hãy nói trên văn bản tiểu thuyết. Nếu không, tôi xin nhắc lại điều đã nói, các vị sẽ là kẻ “hiếp” NBCT, “hiếp” văn chương.

Hà Nội, 22 – 25.12.2025.

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Nói với cha nội Nguyên này giúp tôi rằng:
1. Nếu 100% chữ của NBCT là cứt đái, thì không thể tồn tại nổi. Vì không ai ngửi được.
2. BBC, RFI và các cái loa rè chõ mõm vào quậy VN luôn dùng 1 công thức: 9 phần cơm 1 phần cứt.
Tóm lại sẽ có lý do để biện hộ. Nhưng đọng lại là mùi cứt sau khi ăn xong.
NBCT cũng thế. HÂP không phải không biết cách trộn cứt vào cơm.
Xin lỗi cứt và cơm. Cứt thực ra vẫn có ích. Nó làm phân bón thì tốt.
Còn NBCT dính vào đâu thì chỗ đó hư hoại, bội phản, hèn hạ, tàn bạo, vô nhân tính.
3. Hiếp NBCT thì gớm òm. Nhưng giết là việc phải làm. Đây là việc chẳng đặng đừng.
Nếu các cụ đã gồng hết cỡ, moi hết hóc bò tó các tình tiết để giảm nhẹ tội của tác giả và những kẻ đẩy nó lên bục nhận giải, nhồi vào đầu thế hệ trẻ, thì đừng mong lòng xót thương từ những người bị xúc phạm.
Thế nhé!
 

belo

Xe điện
Biển số
OF-76592
Ngày cấp bằng
29/10/10
Số km
3,779
Động cơ
801,962 Mã lực
Nơi ở
Da nang
Mời các cụ thẩm bài viết của người có chuyên môn, một nhà văn - nhà phê bình viết về NBCT. Đọc mãi mấy bài của các bác chưa phân biệt được thế nào là tiểu thuyết, thế nào là sử ký bàn về NBCT chán lắm.

“Nỗi buồn chiến tranh”: Bảo Ninh đã viết về cuộc chiến tranh và người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam qua nhân vật Kiên như thế nào?

Các trích dẫn lấy từ bản in đầu tiên của cuốn tiểu thuyết với tên gọi “Thân phận của tình yêu”, NXB Hội Nhà văn, 1990. Sách này đóng dấu thư viện của Trường Sĩ quan Chính trị, tôi không còn nhớ đã có mặt ở tủ sách của tôi trong trường hợp nào. Những chỗ in chữ to là tôi nhấn mạnh. Tôi dùng bản in đầu tiên để không ai đổ vấy rằng những lần in sau có thể tác giả đã cắt sửa. Và những ai muốn tranh luận thì cũng phải căn cứ vào văn bản đầu tiên này của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.

1. Bảo Ninh đã gọi rõ ràng là cuộc chiến tranh chống Mỹ.

“Và dù sao mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính CHỐNG MỸ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.” (tr. 78)

2. Bảo Ninh đã viết về sự sung sướng và tự hào của người lính ngày chiến thắng.

“Rồi anh lại nhớ tới những ngày xuân, khi toàn quân B3 từ vùng duyên hải Phan Rang hành quân ngược lên đèo Ngoạn Mục, qua thủy điện Đa Nhim, qua Đơn Dương, Đức Trọng, xuống Di Linh để ra đường 14 đi xuống Lộc Ninh, quặt trở lại để đánh vào Tây Sài Gòn kết thúc chiến tranh. Cuộc hành quân muôn một trong đời lính bộ binh, vùn vụt tiến quân bằng xe cơ giới xuyên qua đất trời vô tận của thảo nguyên… Khi bình minh đến trên đồng cỏ, quân lính tỉnh dậy trên xe, mặt bạc đi vì gió và vì sương, hỏi nhau đêm qua đã vượt qua được những vùng đất nào, bây giờ đang ở đâu đây… sung sướng tự hào vì tốc độ của chiến thắng. Hạnh phúc. Ngỡ ngàng. Ngây ngất.” (tr. 170)

3. Bảo Ninh đòi hỏi phải trân trọng biết ơn máu xương bao đồng đội đổ xuống để có hoà bình.

Cái câu “hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” hay bị trích ra để phê phán là nằm trong đoạn đối thoại dưới đây của Kiên và Sơn anh lính lái xe đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Cứ một câu chán nản của Kiên là một câu tích cực của Sơn đáp lại. Đó là phép viết văn của Bảo Ninh.

“– Giá có cách gì thông tin cho họ biết là đã thắng lợi rồi cho họ an lòng nhỉ?

– Ôi giời Có nói được thì cũng nói làm gì cơ. Dưới âm ty người ta chẳng nhớ chiến tranh là cái trò gì nữa đâu. Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.

– Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ phút hòa bình là giờ phút phục sinh tất cả những người đã chết trận nhỉ.

– Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa-bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.

– Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt sẽ còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu làm gì? Hòa bình làm gì?” (tr. 44)


4. Bảo Ninh, vẫn với bút pháp như vậy, nên sau khi để ông bố dượng dặn dò Kiên khi anh đến chào dượng vào lính (một đoạn văn sâu sắc, nhưng cũng hay bị lấy ra phê phán), đã diễn tả ý nghĩ của Kiên khi nghe lời dặn đó.

“– Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?

Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu. Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và vô bổ, thậm chí lầm lạc.” (tr. 61-62)

5. Bảo Ninh viết về Kiên là người lính dẫu tâm hồn đã bị chết lặng “ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn của đời sống thời chiến (tức chứng kiến Phương bị hiếp trên tàu hoả – PXN) không thể ngóc đầu lên được nữa”, nhưng anh vẫn vào trận với tư cách người lính can trường thực thụ:

“trong suốt mười năm sau đấy với khẩu tiểu liên trong tay, ANH ĐÃ LUÔN LUÔN Ở HÀNG ĐẦU QUÂN XUNG KÍCH, CÙNG ĐỒNG ĐỘI TỪNG BƯỚC KIÊN TRÌ VƯỢT QUA NGÀN DẶM CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN LỚN LAO ĐẦY NHỮNG THĂNG TRẦM ĐỂ ĐẠT TỚI ĐỈNH CAO THẮNG LỢI, ĐÃ TỪNG ĐƯỢC TẮM MÌNH TRONG HẠNH PHÚC CỦA THỜI THANH XUÂN GIỮA GIÓ BÃO CHIẾN TRƯỜNG VỚI BAO NIỀM ĐAM MÊ CHOÁNG NGỢP LÒNG NGƯỜI.” (tr. 211-212).

6.Bảo Ninh thông qua Kiên đã nhận về mình “thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh” để nhắc những người sống nhớ cái giá của chiến tranh, cái giá của thắng lợi, cái giá của sự được sống làm người bình thường, không bị chiến tranh bóp nát thể xác và tâm hồn.

“NẾU KHÔNG NHỜ CÓ HOÀ CÙNG BIẾT BAO ĐỒNG ĐỘI THÂN YÊU RUỘT THỊT, VÔ SỐ VÀ VÔ DANH, NHỮNG NGƯỜI LÍNH THƯỜNG, NHỮNG LIỆT SĨ CỦA LÒNG NHÂN, ĐÃ LÀM SÁNG DANH ĐẤT NƯỚC NÀY VÀ ĐÃ LÀM NÊN VẺ ĐẸP TINH THẦN CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN, thì đối với Kiên, chiến tranh với bộ mặt gớm guốc của nó, với những móng vuốt của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất kỳ ai đã phải trải qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi không thể tha thứ cho mình. BẢN THÂN ANH NẾU KHÔNG NHỜ ĐƯỢC SỰ CHE CHỞ ĐÙM BỌC, ĐƯỢC CƯU MANG VÀ ĐƯỢC CỨU RỖI TRONG TÌNH ĐỒNG ĐỘI BÁC ÁI THÌ ẮT RẰNG ĐÃ CHẾT TỪ LÂU, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp.” (tr. 227)

7. Bảo Ninh đã viết rất xúc động thiêng liêng sự siêu thoát của người lính khi được đồng đội bốc mộ để quy tập về nghĩa trang.

“Kiên nhớ: ở thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy, một hôm tổ của anh đào trúng một ngôi mộ kết. Mộ nổi lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc bờ sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị ngập. Thế nhưng thật khó lòng mà hiểu nổi nguyên nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài quách, chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống như thế. Nằm trong một cái túi nilông dày giống bao đựng xác của quân Mỹ nhưng trong suốt, người chiến sĩ như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say, khuôn mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da thịt tuồng như còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ phút chốc cái túi đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã siêu thoát. Màu trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống và trong đó bày ra trọn vẹn một bộ hài cốt màu vàng sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng hoàng. KHÔNG AI BẢO AI TẤT CẢ ĐỀU QUỲ XUỐNG, ĐƯA CAO TAY LÊN VỚI THEO BÓNG HỒN THIÊNG LIÊNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI ĐÃ VỀ THẦN. ĐÚNG LÚC BẤY GIỜ TRÊN VÒM TRỜI BAO LA, CUỒN CUỘN GIÓ MÂY MIỀN CÁNH BẮC, MỘT ĐÀN THIÊN ĐƯỜNG CÁNH ĐEN VỪA TỪ HƯỚNG BIỂN LÊN, ĐỘI HÌNH CHỮ V ĐỀU TĂM TẮP, NHỊP NHÀNG VỖ CÁNH, THONG THẢ VÀ TRANG TRỌNG BAY VƯỢT QUA MIỀN NÚI NON TRÙNG ĐIỆP.” (tr. 95-96).

8. Đặc biệt Bảo Ninh đã để Kiên tẩn đòn một gã thanh niên dám xúc phạm đến đồng đội mình, đến quân đội, và đến Phương.

Tại các trang 175 – 178 hồi ức của Kiên đã nhớ lại một lần đánh nhau trong tiệm cà phê. Tiệm đó có chủ quán là một trung sĩ, cũng một lính trận trở về. Những người lính cũ thường hay đến đó gặp gỡ, chuyện trò. Một hôm đang như thế thì có mấy thanh niên vào quán. Kiên nhớ lại: “Bọn họ đi cúp tới. Dựng xe, không khoá, có lẽ cũng chỉ định tạt vào uống cà phê thôi. Ba bốn người gì đó. Họ ăn mặc diện, trông không có gì dữ tợn. Thậm chí thoáng tưởng như là các ca sĩ của băng nhạc nhẹ, nhưng là loại người ta chẳng nên dây. Đó là những tên ác ôn kín đáo, trác táng và nguy hiểm, đặc biệt là khi chúng ở vào cùng cỡ tuổi ba mươi như Kiên khi ấy. Những tên như thế thường có vũ khí, không súng thì dao, và dẫu không vũ khí, chúng cũng là những con thú, Kiên biết.” Mấy thanh niên ấy vào quán uống cà phê và nói chuyện rì rầm. Nhưng trong quán lúc đó đang có Vượng, một cựu binh thiết giáp đã từng bốn năm trời lái T54 hoành hành ở Miền Đông. Vượng đang say hát ầm ĩ cho nguôi nỗi ám ảnh chiến tranh. Thấy thế một thanh niên trong bọn thay vì phản đối với chủ quán hay quát kẻ say im miệng lại buông ra một nhận xét:

“- Đồ rác rưởi, một thằng cha đầy lòng tự hào chiến thắng đấy. Thật đúng là thắng lợi của bọn dã man, bọn ăn lông ở lỗ, bọn nhà quê An Nam mít đối với văn minh và tiến hoá. Đồ rác rưởi!”

Nghe thế Kiên lập tức lên tiếng thẳng thừng:

“- TÔI CHO RẰNG: ANH MỚI LÀ ĐỒ RÁC RƯỞI KHI NÓI NHƯ VẬY.”

Và khi tên kia phản ứng lại Kiên bằng cách lôi Phương vào chuyện và xúc phạm Phương một cách đê tiện, bẩn thỉu, thì Kiên đã ra đòn ngay. “Thành ra Kiên không đợi hắn ở chỗ vòi phun nữa mà nện ngay ở cửa tiệm. Không ai can thiệp cả, kể cả mấy tên trong hội. Hết đấm lại đá, rồi ghế phạng vào đầu, như điên, như cuồng. Kiên kéo thân hình tả tơi, bê bết máu của ca sĩ Hưng ra vỉa hè, dúi cái mặt bị đánh vỡ của hắn xuống rãnh cống.”

*

Để kết luận bài này, cũng như ở bài trước “Nỗi buồn chiến tranh: Ai hiếp Phương?”, tôi phải nói rằng tôi làm cái việc trích lục các đoạn trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” như thế này là việc chẳng đặng đừng, nhưng tôi phải làm thế là để muốn nhắc những người quy kết, chụp mũ tác phẩm này của Bảo Ninh hãy đọc sách đã, đọc thật kỹ, đọc đúng cách một tác phẩm văn học, và có nói gì thì hãy nói trên văn bản tiểu thuyết. Nếu không, tôi xin nhắc lại điều đã nói, các vị sẽ là kẻ “hiếp” NBCT, “hiếp” văn chương.

Hà Nội, 22 – 25.12.2025.

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Thì cụ nào thích đọc cái gì nó ra cái đấy.
Bài của cụ dẫn hay ạ. Nhưng muốn đưa vào giảng dạy, thầy cô giáo cũng phải tầm cỡ vậy, mới có tác dụng tốt.
Hôm nọ, có mấy cụ khen Lolita, chân thiện mỹ. Thế mà Mỹ nó có cho dạy ở cấp 3 đâu.
 

belo

Xe điện
Biển số
OF-76592
Ngày cấp bằng
29/10/10
Số km
3,779
Động cơ
801,962 Mã lực
Nơi ở
Da nang
Nói với cha nội Nguyên này giúp tôi rằng:
1. Nếu 100% chữ của NBCT là cứt đái, thì không thể tồn tại nổi. Vì không ai ngửi được.
2. BBC, RFI và các cái loa rè chõ mõm vào quậy VN luôn dùng 1 công thức: 9 phần cơm 1 phần cứt.
Tóm lại sẽ có lý do để biện hộ. Nhưng đọng lại là mùi cứt sau khi ăn xong.
NBCT cũng thế. HÂP không phải không biết cách trộn cứt vào cơm.
Xin lỗi cứt và cơm. Cứt thực ra vẫn có ích. Nó làm phân bón thì tốt.
Còn NBCT dính vào đâu thì chỗ đó hư hoại, bội phản, hèn hạ, tàn bạo, vô nhân tính.
3. Hiếp NBCT thì gớm òm. Nhưng giết là việc phải làm. Đây là việc chẳng đặng đừng.
Nếu các cụ đã gồng hết cỡ, moi hết hóc bò tó các tình tiết để giảm nhẹ tội của tác giả và những kẻ đẩy nó lên bục nhận giải, nhồi vào đầu thế hệ trẻ, thì đừng mong lòng xót thương từ những người bị xúc phạm.
Thế nhé!
Cụ khoe bản thân là học sinh giỏi văn tỉnh cơ mà cụ. Sao lại viết ghê vậy.
 
Chỉnh sửa cuối:

Kiên Khùng

Xe container
Biển số
OF-785718
Ngày cấp bằng
27/7/21
Số km
7,317
Động cơ
161,930 Mã lực
Cụ kheo bản thân là học sinh giỏi văn tỉnh cơ mà cụ. Sao lại viết ghê vậy.
Nếu cụ cảm thấy như vậy, thì bởi do tôi giỏi truyền đạt cái cảm giác mà tôi mắc phải khi đọc NBCT đấy.
Nó trần trụi như vậy cụ ạ.
 

theanh90

Xe điện
Biển số
OF-69327
Ngày cấp bằng
28/7/10
Số km
2,019
Động cơ
463,618 Mã lực
Mời các cụ thẩm bài viết của người có chuyên môn, một nhà văn - nhà phê bình viết về NBCT. Đọc mãi mấy bài của các bác chưa phân biệt được thế nào là tiểu thuyết, thế nào là sử ký bàn về NBCT chán lắm.

“Nỗi buồn chiến tranh”: Bảo Ninh đã viết về cuộc chiến tranh và người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam qua nhân vật Kiên như thế nào?

Các trích dẫn lấy từ bản in đầu tiên của cuốn tiểu thuyết với tên gọi “Thân phận của tình yêu”, NXB Hội Nhà văn, 1990. Sách này đóng dấu thư viện của Trường Sĩ quan Chính trị, tôi không còn nhớ đã có mặt ở tủ sách của tôi trong trường hợp nào. Những chỗ in chữ to là tôi nhấn mạnh. Tôi dùng bản in đầu tiên để không ai đổ vấy rằng những lần in sau có thể tác giả đã cắt sửa. Và những ai muốn tranh luận thì cũng phải căn cứ vào văn bản đầu tiên này của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.

1. Bảo Ninh đã gọi rõ ràng là cuộc chiến tranh chống Mỹ.

“Và dù sao mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính CHỐNG MỸ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.” (tr. 78)

2. Bảo Ninh đã viết về sự sung sướng và tự hào của người lính ngày chiến thắng.

“Rồi anh lại nhớ tới những ngày xuân, khi toàn quân B3 từ vùng duyên hải Phan Rang hành quân ngược lên đèo Ngoạn Mục, qua thủy điện Đa Nhim, qua Đơn Dương, Đức Trọng, xuống Di Linh để ra đường 14 đi xuống Lộc Ninh, quặt trở lại để đánh vào Tây Sài Gòn kết thúc chiến tranh. Cuộc hành quân muôn một trong đời lính bộ binh, vùn vụt tiến quân bằng xe cơ giới xuyên qua đất trời vô tận của thảo nguyên… Khi bình minh đến trên đồng cỏ, quân lính tỉnh dậy trên xe, mặt bạc đi vì gió và vì sương, hỏi nhau đêm qua đã vượt qua được những vùng đất nào, bây giờ đang ở đâu đây… sung sướng tự hào vì tốc độ của chiến thắng. Hạnh phúc. Ngỡ ngàng. Ngây ngất.” (tr. 170)

3. Bảo Ninh đòi hỏi phải trân trọng biết ơn máu xương bao đồng đội đổ xuống để có hoà bình.

Cái câu “hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” hay bị trích ra để phê phán là nằm trong đoạn đối thoại dưới đây của Kiên và Sơn anh lính lái xe đội quy tập hài cốt liệt sĩ. Cứ một câu chán nản của Kiên là một câu tích cực của Sơn đáp lại. Đó là phép viết văn của Bảo Ninh.

“– Giá có cách gì thông tin cho họ biết là đã thắng lợi rồi cho họ an lòng nhỉ?

– Ôi giời Có nói được thì cũng nói làm gì cơ. Dưới âm ty người ta chẳng nhớ chiến tranh là cái trò gì nữa đâu. Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.

– Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ phút hòa bình là giờ phút phục sinh tất cả những người đã chết trận nhỉ.

– Hừ, hòa-bình! Mẹ kiếp, hòa-bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.

– Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt sẽ còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu làm gì? Hòa bình làm gì?” (tr. 44)


4. Bảo Ninh, vẫn với bút pháp như vậy, nên sau khi để ông bố dượng dặn dò Kiên khi anh đến chào dượng vào lính (một đoạn văn sâu sắc, nhưng cũng hay bị lấy ra phê phán), đã diễn tả ý nghĩ của Kiên khi nghe lời dặn đó.

“– Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ, ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ cho con được bây giờ?

Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu. Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và vô bổ, thậm chí lầm lạc.” (tr. 61-62)

5. Bảo Ninh viết về Kiên là người lính dẫu tâm hồn đã bị chết lặng “ngay sau cảm nhận đầu tiên về tính chất hung tàn của đời sống thời chiến (tức chứng kiến Phương bị hiếp trên tàu hoả – PXN) không thể ngóc đầu lên được nữa”, nhưng anh vẫn vào trận với tư cách người lính can trường thực thụ:

“trong suốt mười năm sau đấy với khẩu tiểu liên trong tay, ANH ĐÃ LUÔN LUÔN Ở HÀNG ĐẦU QUÂN XUNG KÍCH, CÙNG ĐỒNG ĐỘI TỪNG BƯỚC KIÊN TRÌ VƯỢT QUA NGÀN DẶM CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN LỚN LAO ĐẦY NHỮNG THĂNG TRẦM ĐỂ ĐẠT TỚI ĐỈNH CAO THẮNG LỢI, ĐÃ TỪNG ĐƯỢC TẮM MÌNH TRONG HẠNH PHÚC CỦA THỜI THANH XUÂN GIỮA GIÓ BÃO CHIẾN TRƯỜNG VỚI BAO NIỀM ĐAM MÊ CHOÁNG NGỢP LÒNG NGƯỜI.” (tr. 211-212).

6.Bảo Ninh thông qua Kiên đã nhận về mình “thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh” để nhắc những người sống nhớ cái giá của chiến tranh, cái giá của thắng lợi, cái giá của sự được sống làm người bình thường, không bị chiến tranh bóp nát thể xác và tâm hồn.

“NẾU KHÔNG NHỜ CÓ HOÀ CÙNG BIẾT BAO ĐỒNG ĐỘI THÂN YÊU RUỘT THỊT, VÔ SỐ VÀ VÔ DANH, NHỮNG NGƯỜI LÍNH THƯỜNG, NHỮNG LIỆT SĨ CỦA LÒNG NHÂN, ĐÃ LÀM SÁNG DANH ĐẤT NƯỚC NÀY VÀ ĐÃ LÀM NÊN VẺ ĐẸP TINH THẦN CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN, thì đối với Kiên, chiến tranh với bộ mặt gớm guốc của nó, với những móng vuốt của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân nhất của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất kỳ ai đã phải trải qua, đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thường, mãi mãi không thể tha thứ cho mình. BẢN THÂN ANH NẾU KHÔNG NHỜ ĐƯỢC SỰ CHE CHỞ ĐÙM BỌC, ĐƯỢC CƯU MANG VÀ ĐƯỢC CỨU RỖI TRONG TÌNH ĐỒNG ĐỘI BÁC ÁI THÌ ẮT RẰNG ĐÃ CHẾT TỪ LÂU, không vì bị giết chết cũng sẽ tự giết mình bằng cách nào đó để thoát khỏi gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực mà thân phận con sâu cái kiến của người lính phải cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp.” (tr. 227)

7. Bảo Ninh đã viết rất xúc động thiêng liêng sự siêu thoát của người lính khi được đồng đội bốc mộ để quy tập về nghĩa trang.

“Kiên nhớ: ở thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy, một hôm tổ của anh đào trúng một ngôi mộ kết. Mộ nổi lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc bờ sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị ngập. Thế nhưng thật khó lòng mà hiểu nổi nguyên nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài quách, chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống như thế. Nằm trong một cái túi nilông dày giống bao đựng xác của quân Mỹ nhưng trong suốt, người chiến sĩ như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say, khuôn mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da thịt tuồng như còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ phút chốc cái túi đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã siêu thoát. Màu trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống và trong đó bày ra trọn vẹn một bộ hài cốt màu vàng sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng hoàng. KHÔNG AI BẢO AI TẤT CẢ ĐỀU QUỲ XUỐNG, ĐƯA CAO TAY LÊN VỚI THEO BÓNG HỒN THIÊNG LIÊNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI ĐÃ VỀ THẦN. ĐÚNG LÚC BẤY GIỜ TRÊN VÒM TRỜI BAO LA, CUỒN CUỘN GIÓ MÂY MIỀN CÁNH BẮC, MỘT ĐÀN THIÊN ĐƯỜNG CÁNH ĐEN VỪA TỪ HƯỚNG BIỂN LÊN, ĐỘI HÌNH CHỮ V ĐỀU TĂM TẮP, NHỊP NHÀNG VỖ CÁNH, THONG THẢ VÀ TRANG TRỌNG BAY VƯỢT QUA MIỀN NÚI NON TRÙNG ĐIỆP.” (tr. 95-96).

8. Đặc biệt Bảo Ninh đã để Kiên tẩn đòn một gã thanh niên dám xúc phạm đến đồng đội mình, đến quân đội, và đến Phương.

Tại các trang 175 – 178 hồi ức của Kiên đã nhớ lại một lần đánh nhau trong tiệm cà phê. Tiệm đó có chủ quán là một trung sĩ, cũng một lính trận trở về. Những người lính cũ thường hay đến đó gặp gỡ, chuyện trò. Một hôm đang như thế thì có mấy thanh niên vào quán. Kiên nhớ lại: “Bọn họ đi cúp tới. Dựng xe, không khoá, có lẽ cũng chỉ định tạt vào uống cà phê thôi. Ba bốn người gì đó. Họ ăn mặc diện, trông không có gì dữ tợn. Thậm chí thoáng tưởng như là các ca sĩ của băng nhạc nhẹ, nhưng là loại người ta chẳng nên dây. Đó là những tên ác ôn kín đáo, trác táng và nguy hiểm, đặc biệt là khi chúng ở vào cùng cỡ tuổi ba mươi như Kiên khi ấy. Những tên như thế thường có vũ khí, không súng thì dao, và dẫu không vũ khí, chúng cũng là những con thú, Kiên biết.” Mấy thanh niên ấy vào quán uống cà phê và nói chuyện rì rầm. Nhưng trong quán lúc đó đang có Vượng, một cựu binh thiết giáp đã từng bốn năm trời lái T54 hoành hành ở Miền Đông. Vượng đang say hát ầm ĩ cho nguôi nỗi ám ảnh chiến tranh. Thấy thế một thanh niên trong bọn thay vì phản đối với chủ quán hay quát kẻ say im miệng lại buông ra một nhận xét:

“- Đồ rác rưởi, một thằng cha đầy lòng tự hào chiến thắng đấy. Thật đúng là thắng lợi của bọn dã man, bọn ăn lông ở lỗ, bọn nhà quê An Nam mít đối với văn minh và tiến hoá. Đồ rác rưởi!”

Nghe thế Kiên lập tức lên tiếng thẳng thừng:

“- TÔI CHO RẰNG: ANH MỚI LÀ ĐỒ RÁC RƯỞI KHI NÓI NHƯ VẬY.”

Và khi tên kia phản ứng lại Kiên bằng cách lôi Phương vào chuyện và xúc phạm Phương một cách đê tiện, bẩn thỉu, thì Kiên đã ra đòn ngay. “Thành ra Kiên không đợi hắn ở chỗ vòi phun nữa mà nện ngay ở cửa tiệm. Không ai can thiệp cả, kể cả mấy tên trong hội. Hết đấm lại đá, rồi ghế phạng vào đầu, như điên, như cuồng. Kiên kéo thân hình tả tơi, bê bết máu của ca sĩ Hưng ra vỉa hè, dúi cái mặt bị đánh vỡ của hắn xuống rãnh cống.”

*

Để kết luận bài này, cũng như ở bài trước “Nỗi buồn chiến tranh: Ai hiếp Phương?”, tôi phải nói rằng tôi làm cái việc trích lục các đoạn trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” như thế này là việc chẳng đặng đừng, nhưng tôi phải làm thế là để muốn nhắc những người quy kết, chụp mũ tác phẩm này của Bảo Ninh hãy đọc sách đã, đọc thật kỹ, đọc đúng cách một tác phẩm văn học, và có nói gì thì hãy nói trên văn bản tiểu thuyết. Nếu không, tôi xin nhắc lại điều đã nói, các vị sẽ là kẻ “hiếp” NBCT, “hiếp” văn chương.

Hà Nội, 22 – 25.12.2025.

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Cụ xem có nhà phê bình nào từng thực sự phê bình tác phẩm này không để em xem nó hay ở chỗ nào mà quốc tế lại tôn vinh nó. Chứ giờ người ta cứ tranh luận ý này ý kia em lại thấy nó đi vào tiểu tiết quá kể cả bên khen lẫn bên chê.
 

BopCoi

Xe buýt
Biển số
OF-187425
Ngày cấp bằng
29/3/13
Số km
786
Động cơ
327,896 Mã lực
Cụ xem có nhà phê bình nào từng thực sự phê bình tác phẩm này không để em xem nó hay ở chỗ nào mà quốc tế lại tôn vinh nó. Chứ giờ người ta cứ tranh luận ý này ý kia em lại thấy nó đi vào tiểu tiết quá kể cả bên khen lẫn bên chê.
Vậy cụ thẩm bài viết của giáo sư, tiến sỹ lý luận phê bình văn học của ĐH sư phạm Hà Nội viết từ 2022 nhé:

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH – MỘT CÁCH VIẾT KHÁC VỀ CHIẾN TRANH

Đăng trong Tháng Tám 3, 2022 bởi Trần Đình Sử

Đã hơn ba mươi năm từ ngày tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (tên ban đầu là Thân phận của tình yêu) của nhà văn Bảo Ninh (tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê Bảo Ninh, Quảng Bình) ra đời và nổi tiếng khắp thế giới. Nó được xem là “cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam”, “cuốn sách chạm vào mẫu số chung của nhân loại”, “thành tựu lớn nhất của văn học đổi mới”… Tiểu thuyết đã được dịch ra 15 thứ tiếng, và có những thứ tiếng có hai phiên bản, giới thiệu ở 18 nước trên thế giới. Trên tờ quảng cáo bản dịch tiếng Trung ghi rõ, “Bốn lần được đề cử giải Nobel”. Nhiều người đã đem Nỗi buồn chiếntranh của Bảo Ninh đặt cùng hàng với Phía Tây không có gì lạ của Remarque, Người đọc của Bernhard Schlink (Đức), Người đua diều của Khaled Hosseini (Ba tư). Đã có rất nhiều bài phê bình và cả những luận văn về tác phẩm này, hầu như không còn gì để viết nữa. Nhưng phần nào đó, số phận tác phẩm vẫn chưa xong xuôi. Vẫn còn những ý kiến trái chiều. Tác phẩm sau khi xuất bản đã được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1991, rồi bị cấm từ năm 1993 đến 2005, đến 2006 lại được phép xuất bản trở lại. Năm 2011 được giải thưởng châu Á của Nhật Bản (Nikkei Asia Prizes). Nhưng ở Việt Nam cho đến nay tác phẩm vẫn chưa lọt vào Giải thưởng nhà nước, vì thiếu một ít phiếu bầu, mặc dù theo tôi, nó đã xứng đáng từ lâu, đã được liệt vào hàng kinh điển thế giới. Một số trường Đại học ở Mĩ liệt vào loại sách bắt buộc phải đọc. Nhà văn Diêm Liên Khoa cũng liệt vào sách phải đọc đôi với học viên lớp sáng tác mà ông phụ trách. Nhưng đã đưa vào chuyện bầu chọn, thì cũng phải chấp nhận ý kiến của một vài ủy viên hội đồng.

Bảo Ninh là nhà văn cựu chiến binh, tuy quê Quảng Bình, nhưng sinh năm 1952 tại Nghệ An, trong một gia đình nhiều đời nho gia, bố là nhà ngữ học nổi tiếng Hoàng Tuệ, từng làm viện trưởng, Viện ngôn ngữ học, nghiên cứu về chuẩn tiếng Việt và nhiều vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ của nhà nước. Sau năm 1975 Hoàng Ấu Phương được giải ngũ, học trường viết văn Nguyễn Du khóa ba, bắt đầu viết văn từ năm 1987. Thời đi bộ đội Phương từng đọc tiểu thuyết Phía tây không có gì lạ (hoặc Mặt trận phía tây vẫn yên tĩnh) của nhà văn Erich Maria Remrque (1898-1970) viết về thế chiến lần thứ nhất. Sau hòa bình thân phụ nhà văn là Hoàng Tuệ sau chuyến đi Pháp có mang về tập tiểu thuyểt Cuộc đời và số phận của Grossman (1905 – 1964), viết về cuộc sống người dân xô viết trong chiến tranh chống phát xít. Cả hai cuốn sách có tính phản tư về lịch sử đều có ảnh hưởng đến tư tưởng và nghệ thuật của Bảo Ninh.

Nỗi buồn chiến tranh thuộc loại tiểu thuyết chỉ có một nhân vật chính là Kiên xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Các nhân vật khác đều là phụ, xuất hiện thấp thoáng trong các tình tiết. Kiên là nhân vật chính mang ba vai: Anh là người chiến sĩ sống sót sau chiến tranh của một đơn vị, là người không thể tự giải thoát khỏi các hồi tưởng về cuộc chiến tranh vừa qua và các đồng đội đã mất như một chứng bệnh trầm cảm. Kiên là người đánh mất mối tình đẹp đẽ của mình. Kiên là người viết tiểu thuyết với ý thức sứ mệnh. Với ba vai đó, tiểu thuyết thể hiện ba nội dung cơ bản: Cuộc chiến tranh khốc liệt với vô vàn chết chóc, biến dạng nhân tính. Chiến tranh và sư hủy diệt hạnh phúc đời thường. Ý thức về chuyện viết văn về đề tài chiến tranh, muốn vượt qua truyền thống cũ.

Vấn đề đầu tiên đối với nhà văn là viết về chiến tranh như thế nào? Khi bắt đầu tiểu thuyết Kiên đã tự nêu câu hỏi: “Vì sao anh lại chọn chiến tranh và vì sao nhất thiết phải là nó?” (tr. 70) Anh chọn nó chính là để thay đổi nó. Vấn đề chính là ở chỗ, cách nhìn về chiến tranh. Cuốn sách đã đi ngược lại với truyền thống thể hiện chiến tranh đã thành công thức truyền thống. Một số người cho rằng, viết như thế là “xúc phạm” người đã khuất, vì không viết họ như những anh hùng. Nhưng chiến tranh là một đề tài rộng lớn, mà các hành động anh hùng trong chiến đấu chỉ là một phương diện. Chiến tranh còn là chết chóc, là hủy diệt, là mất mát đau thương là nhũng điều không thể không viết. Đất nước ta ở vào một vị trí địa chính trị thế nào đó mà thường phải đương đầu với chiến tranh và buộc phải sống còn. Có nhân vật nổi tiếng đã có lần do thói quen, buột mồm nói với một thủ tướng nước ngoài, rằng nước tôi tự hào đã đánh thắng mấy đế quốc to, vị thủ tướng kia đã trả lời, nước tôi cũng tự hào là xưa nay không phải đánh nhau với ai cả. Câu trả lời cho thấy, hòa bình quý giá hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào. Đó cũng là tư tưởng của Hồ Chí Minh khi ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19-12 năm 1946. Từ cuộc kháng chiến chống Pháp, sang cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiểu thuyết về chiến tranh ở Việt nam ra đời trong nhu cầu giáo dục truyền thống anh hùng. Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc, Hồ Phương, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Chu Lai,Nam Hà …và biết bao nhà văn Việt Nam khác đã sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh như thế. Trước đó đã có biết bao tác phẩm phản ánh chiến tranh vệ quốc của Liên Xô, Trung Quốc cũng nhằm giáo dục truyền thống anh hùng. Các tiểu thuyết chiến tranh, do yêu cầu tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đầu và chiến thắng đều thể hiện nhất loạt, ta thắng địch thua, ta chính nghĩa, địch phi nghĩa. Ta dũng cảm, địch hèn nhát. Trong chiến tranh chỉ ta là người, còn địch là thú vật. Mà đã chính nghĩa thì hi sinh là chuyện đương nhiên, là lương tâm và tất yếu, chỉ biết rằng cuối cùng ta phải thắng, địch phải thua. Đó là công thức chung, nhưng chỉ là một chiều. Có cách hiểu chiến tranh như trẩy hội. Có nhà thơ đã viết “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Lại có nhà thơ viết “Vui gì hơn làm người lính đi đầu, Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa”. Ông cũng thấy “máu và hoa”, nhưng với ông, máu cũng như hoa, tô thắm ngọn cờ, vẫn cái nhìn một chiều.

Là nhà văn, Bảo Ninh nghĩ: “Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà văn tự xem mình là kẻ có khả năng, có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế thái đặng tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình, những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định, vừa đổi thay không ngừng của đời sống con người, một đời sống tuy ngắn ngủi và khá là ảm đạm, nhiều buồn đau và bất hạnh, song lại cũng hàm chứa vô cùng tận những lẽ đời đáng sống, những giá trị cao quý, những vẻ đẹp tuyệt vời, hạnh phúc và niềm vui.”[1] Cái khó ở đây là ở chỗ, đối với “những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định, vừa đổi thay không ngừng” nhiều người chỉ thấy mặt cố định, mà không thấy sự đổi thay của chúng.

Là người lính đã trải qua chiến tranh, nhà văn Bảo Ninh, sau khi chiến tranh đã kết thúc, đã nói lên một tiếng nói khác, có phần ngược lại: “Nỗi buồn chiến tranh”. Là nhân chứng của chiến tranh, là người đã chứng kiến biết bao chiến sĩ của ta đã hi sinh thảm khốc, ông đã thấy những giá trị đổi thay. Trong cuộc tọa đàm về tiểu thuyết này tại báo Văn Nghệ sau khi được giải, số 37 năm 1991, tôi đã nói, cuốn tiểu thuyết đã “lộn trái cuộc chiến tranh, để cho ta thấy, chiến tranh như là chiến tranh”. Hào quang vẫn còn, nhưng chiến tranh cũng chỉ là chiến tranh. Trong chiến tranh các chiến sĩ chỉ là những công cụ giết người, bên này không giết được bên kia thì bị bên kia tiêu diệt. Mà bên kia nhiều khi cũng là người mình. Bao lực, dã man, khốc liệt, mất hết nhân tính là bản tính của chiến tranh. Tuy nhiên Nỗi buồn chiến tranh là tiểu thuyết đã vượt lên chiến tranh. Ở đây chiến tranh chỉ là bối cảnh, còn nội dung tiểu thuyết là nỗi buồn đau triền miên mà chiến tranh để lại. Đó là nỗi buồn của chết chóc hủy diệt, nỗi buồn của tuổi trẻ phôi pha, nỗi đau của tình yêu tan vỡ. Trong phỏng vấn của nhà văn nước ngài, Bảo Ninh cho biết, tiểu thuyết về chiến tranh đương thời phần lớn là công thức, thuyết huấn và giải tạo. Hồi còn ở bộ đội Bảo Ninh còn là người thủ thư của đơn vị. Những quyển sách như thế các chiến sĩ không đọc, có người đem vứt đi, có khi sách không liên can gì chiến tranh thì được đọc, ví như cuốn truyện ngắn Bút kí của người đi săn của Ivan Turgenev. Nhà văn Nga K. Simonov từng nói: “Viết về chiến tranh rất khó, viết về chiến tranh như về ngày hội, long trọng và nhẹ nhàng thì không nên. Đó sẽ là giả dối. Chỉ viết về những ngày đêm khói lửa, chỉ viết về sự bẩn thỉu, lầy lội của chiến hào và sự lạnh lẽo của băng tuyết, chỉ viết về cái chết và máu- điều đó cũng giả dối nốt mặc dù nó là sự thật, nhưng chỉ viết về điều đó- mà quên đi tâm hồn, trái tim của những con người đang chiến đấu trong cuộc chiến tranh này”.Viết về chiến tranh là viết về thể nghiệm đời sống đau đớn của những người trải qua chiến tranh, đó là quan điểm nhân văn. Nhân vật chính của tiểu thuyết Bảo Ninh là Kiên đã suy nghĩ theo hướng khác: không đi học sĩ quan để “làm hạt giống cho cho những vụ mùa chiến tranh liên miên”, “sẵn sàng chịu mọi tai họa của chiến tranh, tuy nhiên không bao giờ là những người chủ chiến.” (tr.25). Đối diện với “đại gia đình những người tử trận, họ chung nhau một số phận”. “Không có người vinh kẻ nhục, không người hùng kẻ nhát, không có người đáng sống và kẻ đáng chết. Chỉ có người tên tuổi còn đó, người thì thời gian đã xóa mất rồi, và người thì chỉ còn chút xương, người thì đọng chút bùn lỏng. Dằng đặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết,lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn chiến tranh.” (tr. 33). Trong tiểu thuyết ông viết: “Chính nghĩa đã thắng, cái thiện cũng đã đánh bại cái ác, nhưng đồng thời, cái chết, bạo lực, sự tàn sát cũng thắng.” Trong bộ phim The Vietnam War của PBS (Mĩ), Bảo Ninh được phỏng vấn và ông trả lời: “Chiến tranhkhông có kẻ thắng, chỉ có hủy diệt, tan nát và vỡ vụn.” Một chỗ khác ông viết: “Đứng trước chiến tranh, mọi người đều là kẻ thua trận.” Rõ ràng quan điểm nhà văn là nhất quán. Tư tưởng của Bảo Ninh cũng gặp nhiều đồng điệu của đồng nghiệp. Nhà thơ Nguyễn Duy trong một tác phẩm đã viết: “Xét cho cùng sau mỗi cuộc chiến tranh, Phe nào thắng thì nhân dân đều bại.”[2] Với ý tưởng đó nhà văn đã thay đổi cách nhìn và cách viết.

Nhà văn Kiên trong tiểu thuyết không chấp nhận viết về chiến tranh theo kiểu “nhằm vào đầu nhau mà khạc đạn.” trong “thâm tâm luôn muốn viết về chiến tranh sao cho khác trước.”(tr.70). Ông không miêu tả, kể chuyện về cuộc chiến, không kể lại bất cứ trận đánh nào, mà kể về suy nghĩ, cách ứng xử về cuộc chiến. Hiện lên trước mắt ta là nhân vật Kiên, người lính trinh sát năm xưa nay đi tìm và quy tập hài cốt các đồng đội đã hi sinh, với vô vàn hồi tưởng về những đồng đội và những cái chết, hồi tưởng về người yêu và tình yêu đã mất, với khát vọng viết lại “nội dung của lời trăng trối” của người lính chống Mĩ (tr.91). Ông không viết về chiến tranh, nên thoát khỏi khuôn sáo chủ nghĩa anh hùng của một thời. Trong tiểu thuyết của ông không có nhân vật nào xuất hiện như là anh hùng chiến trận cả. Ông không viết về thắng lợi như các tác phẩm viết để tuyên truyền. Ông cũng không viết theo kiểu con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn…”(tr. 72).

Ông từ bỏ phương pháp hiện thực xã chủ nghĩa với nhân vật điển hình, con người mới, chủ nghĩa anh hùng, hoàn cảnh điển hình, chi tiết điển hình trong quá trình phát triển của lịch sử, mà viết theo dòng chảy của hồi ức và tâm trạng. Chi tiết hiện thực của ông rất nhiều, nhưng không sắp xếp theo thứ tự lí tính. Truyện của ông không có cốt truyện, không có trật tự thời gian tuyến tính, không có kết cục rõ ràng. Nhân vật của ông không sống hân hoan với thời đại mới sau chiến thắng chấn động địa cầu, mà sống với quá khứ. “Không phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không phải là những hi vọng về tương lai tốt đẹp đã cứu giúp tôi, mà trái lại, những tấm thảm kịch của quá khứ đã nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần cho tôi thoát khỏi vô tận những những tấn trò đời hôm nay.” (tr. 59). Người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông không điều khiển được cái viết, “không phải là anh, mà là một cái gì đấy đối lập, thậm chí thù nghịch với anh đang viết, đang không ngừng vi phạm, không ngừng lật ngược tất cả những những giáo điều cùng tất cả những tín niệm văn chương và nhân sinh sâu bền nhất của anh. Và hoàn toàn không cưỡng nổi, mỗi ngày Kiên một dấn mình thêm vào vòng xoáy của nghịch lí hiểm nghèo ấy của bút pháp.” (tr. 62). “Trong từng chương một Kiên viết về chiến tranh một cách rất tùy ý như thể ấy là một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới, như thể cuộc chiến của riêng anh” (tr. 63). “Ngấm ngầm anh tin mình tồn tại ở đời với một thiên mệnh vô danh, thiêng liêng và cao cả, song tuyệt đối bí ẩn.” Kiên là một trường hợp điển hình của chứng PTSD, chứng rối loạn tâm lí hậu chấn thương, và nhờ hồi tưởng, nhờ viết tiểu thuyết mà đã vượt qua cơn bệnh. Nhưng Kiên vẫn không phải là người đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết, mà phải là một người khác tỉnh táo hơn. Khi được hỏi, mối quan hệ giữa nhân vật Kiên và Bảo Ninh như thế nào, thì nhà văn trả lời:“Kiên là nhân vật hư cấu, hoàn toàn không phải tôi, đời sống và chiến đấu của anh ta cực kì khác tôi, nhưng Kiên cũng chính là tôi.” Kiên là nhân vật hư cấu, nhưng Kiên cũng chính là Bảo Ninh. Bảo Ninh đã thay đổi cách viết về chiến tranh. Những ai đã đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh sẽ không thể nào viết lại chiến tranh theo kiểu cũ được nữa.

Toàn bộ tiểu thuyết được kể bằng ngôi thứ ba với điểm nhìn duy nhất của Kiên, và nhiều khi Kiên gạt bỏ luôn ngôi thứ ba để đứng ra kể chuyện xưng “tôi” theo ngôi thứ nhất, nhất là khi nói về cách viết tiểu thuyết. Chỉ có chương cuối cùng là lời của một người đọc đặc biệt xưng “tôi” biên tập lại bản thảo dang dở và đánh giá đúng bản thảo. Cái “tôi” này cũng chẳng phải ai xa lạ, rất có thể là cái “tôi” đã xuất hiện trong văn bản. Người đọc xưng “tôi” này đã vượt qua các định kiến của những người hàng xóm, coi Kiên là “nhà văn phường”, một kẻ dị biệt, thị dân, tiểu tư sản, cực đoan, bạc nhược, để hiểu được “có chung một nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ.” Toàn bộ tiểu thuyết được thể hiện bằng những hồi tưởng đứt đoạn của Kiên. Bảo Ninh thích dùng lối tạt lùi (Flashback) để nhớ lại một chi tiết ngắn của quá khứ, làm cho cả tiểu thuyết được dệt bằng các đoạn hồi tưởng ngắn và suy ngẫm. Sẽ là ngây thơ nếu ai đó tin vào lời của nhà văn Kiên trong truyện, để tin rằng tiểu thuyết viết lộn xộn, tuỳ tiện vô thức. Chính những tạt lùi ngắn ngủi đã băm vụn cuộc chiến đã qua, để không tái hiện hoàn chỉnh nó nữa, vì ai cũng đã biết hết, mà chỉ tái hiện các mảnh vụn, những mảnh ghép làm nên “cuộc chiến của riêng Kiên” và nỗi buồn của anh mà mọi người chưa biết. Điểm nhìn của nhân vật Kiên và của người kể chuyện Kiên không trùng khít, bởi điểm nhìn sau hàm chứa một thái độ phản tư, phân tích những gì đã nhìn thấy và hồi tưởng, một điểm nhìn hậu chiến, điểm nhìn của người đã ra khỏi cuộc chiến và suy tư về nó, vượt lên nó. Nhìn bề ngoài. tất cả các chương của cuốn tiểu thuyết đều song hành trên một mặt bằng thời gian, bất cứ lúc nào Kiên đều có thể trở đi trở lại với những thời điểm quen thuộc với anh trong cuộc chiến, như thể thời gian không trôi qua. Nhưng đọc kĩ, sẽ thấy, cốt truyện chủ yếu là câu chuyện viết tiểu thuyết của Kiên. Từ chuyện đi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ, Kiên nảy ra ý muốn kể lại lời trăng trối của những người đã mất, rồi tiếp theo là chuyện viết, cách viết, viết thâu đêm, viết rồi bỏ, chuyện vô vàn cái chết, chuyện gia đình của Kiên, chuyện tình tan vỡ của Kiên, chuyện Kiên bất lực với câu chuyện và biến mất, và kết thúc bằng môt ai đó biên tập tiểu thuyết và tiểu thuyết đã hoàn thành. Một siêu tiểu thuyết (metafiction), trong tiểu thuyết hàm chứa một tiểu thuyết, tiểu thuyết về ý thức đổi mới cách viết một đề tài. Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh mang một chủ đề kép. Nó không chỉ nêu một cách nhìn khác về chiến tranh, mà còn đề xuất một cách viết về đề tài chiến tranh, đề xuất một đổi thay về phương pháp sáng tác nữa.

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh còn là một tiểu thuyết xuất sắc về ngôn ngữ văn học. Toàn bộ tác phẩm không phải lời kể chuyện thông thường, mà là lời độc thoại của nhân vật mà người kể chuyện mượn để làm điểm tựa, lời của nhân vật Kiên. Vì thế đọc tiểu thuyết như là đọc lời bộc bạch, trữ tình, tâm sự của một tâm hồn. “Giấc mơ lay thức tâm hồn Kiên. Thì ra, anh, Kiên cũng có một thời trai trẻ trung, cái thời mà giờ đây khó lòng mường tượng lại được nữa, cái thời mà toàn bộ con người anh, nhân tính và nhân dạng, còn chưa bị bạo lực của chiến tranh hủy hoại, cái thời anh cũng ngập lòng ham muốn, cũng biết say sưa, si mê, cũng trải những cơn bồng bột, và cũng ngốc nghếch ngẩn ngơ, cũng từng ta nát cả cõi lòng vì tình yêu thương đau khổ, vì ghen tuông tủi hờn và cũng đáng được ưu ái như các bạn anh bây giờ. Chao ôi, chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của giòng giống con người!” Câu văn dài với nhiều thành phần phụ, với các từ trùng điệp, lặp lại, ngân nga như thơ, như ru người đọc vào hồi tưởng mà chìm ẩn trong nhịp điệu ấy là nỗi niềm tiếc nuối vô hạn và nỗi buồn sâu thẳm. Có người tiếc là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh giàu chất trữ tình quá. Theo ông có lẽ phải viết với lời văn giễu nhại. Ý kiến đó theo tôi không đúng. Người ta có thể giễu nhại một cuộc cách mạng văn hóa kệch cỡm, nhưng không thể giễu nhại một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, thống nhất đất nước. Nhưng khúc trữ tình với khúc ai ca cũng có khác nhau. Nỗi buồn chiến tranh vẫn chỉ là nỗi buồn, nỗi đau, mà chưa phải là thể loại khúc ca, bài ca.

Hà Nội, 1 tháng 5 năm 2022.
 
  • Vodka
Reactions: XPQ
Biển số
OF-883291
Ngày cấp bằng
16/6/25
Số km
250
Động cơ
10,612 Mã lực
Tac phẩm của Chu Lai hơi giống con người ổng ở ngoài

Hơi gồng ạ
Cụ nhận xét rất chuẩn.

Em không thích giọng văn của CL lắm vì đọc nó hơi " kịch "và gồng lên hơi quá. Cảm giác đọc rất mệt. Nhất là cuốn 3 lần và 1 lần.
 

theanh90

Xe điện
Biển số
OF-69327
Ngày cấp bằng
28/7/10
Số km
2,019
Động cơ
463,618 Mã lực
Vậy cụ thẩm bài viết của giáo sư, tiến sỹ lý luận phê bình văn học của ĐH sư phạm Hà Nội viết từ 2022 nhé:

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH – MỘT CÁCH VIẾT KHÁC VỀ CHIẾN TRANH

Đăng trong Tháng Tám 3, 2022 bởi Trần Đình Sử

Đã hơn ba mươi năm từ ngày tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (tên ban đầu là Thân phận của tình yêu) của nhà văn Bảo Ninh (tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê Bảo Ninh, Quảng Bình) ra đời và nổi tiếng khắp thế giới. Nó được xem là “cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam”, “cuốn sách chạm vào mẫu số chung của nhân loại”, “thành tựu lớn nhất của văn học đổi mới”… Tiểu thuyết đã được dịch ra 15 thứ tiếng, và có những thứ tiếng có hai phiên bản, giới thiệu ở 18 nước trên thế giới. Trên tờ quảng cáo bản dịch tiếng Trung ghi rõ, “Bốn lần được đề cử giải Nobel”. Nhiều người đã đem Nỗi buồn chiếntranh của Bảo Ninh đặt cùng hàng với Phía Tây không có gì lạ của Remarque, Người đọc của Bernhard Schlink (Đức), Người đua diều của Khaled Hosseini (Ba tư). Đã có rất nhiều bài phê bình và cả những luận văn về tác phẩm này, hầu như không còn gì để viết nữa. Nhưng phần nào đó, số phận tác phẩm vẫn chưa xong xuôi. Vẫn còn những ý kiến trái chiều. Tác phẩm sau khi xuất bản đã được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1991, rồi bị cấm từ năm 1993 đến 2005, đến 2006 lại được phép xuất bản trở lại. Năm 2011 được giải thưởng châu Á của Nhật Bản (Nikkei Asia Prizes). Nhưng ở Việt Nam cho đến nay tác phẩm vẫn chưa lọt vào Giải thưởng nhà nước, vì thiếu một ít phiếu bầu, mặc dù theo tôi, nó đã xứng đáng từ lâu, đã được liệt vào hàng kinh điển thế giới. Một số trường Đại học ở Mĩ liệt vào loại sách bắt buộc phải đọc. Nhà văn Diêm Liên Khoa cũng liệt vào sách phải đọc đôi với học viên lớp sáng tác mà ông phụ trách. Nhưng đã đưa vào chuyện bầu chọn, thì cũng phải chấp nhận ý kiến của một vài ủy viên hội đồng.

Bảo Ninh là nhà văn cựu chiến binh, tuy quê Quảng Bình, nhưng sinh năm 1952 tại Nghệ An, trong một gia đình nhiều đời nho gia, bố là nhà ngữ học nổi tiếng Hoàng Tuệ, từng làm viện trưởng, Viện ngôn ngữ học, nghiên cứu về chuẩn tiếng Việt và nhiều vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ của nhà nước. Sau năm 1975 Hoàng Ấu Phương được giải ngũ, học trường viết văn Nguyễn Du khóa ba, bắt đầu viết văn từ năm 1987. Thời đi bộ đội Phương từng đọc tiểu thuyết Phía tây không có gì lạ (hoặc Mặt trận phía tây vẫn yên tĩnh) của nhà văn Erich Maria Remrque (1898-1970) viết về thế chiến lần thứ nhất. Sau hòa bình thân phụ nhà văn là Hoàng Tuệ sau chuyến đi Pháp có mang về tập tiểu thuyểt Cuộc đời và số phận của Grossman (1905 – 1964), viết về cuộc sống người dân xô viết trong chiến tranh chống phát xít. Cả hai cuốn sách có tính phản tư về lịch sử đều có ảnh hưởng đến tư tưởng và nghệ thuật của Bảo Ninh.

Nỗi buồn chiến tranh thuộc loại tiểu thuyết chỉ có một nhân vật chính là Kiên xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Các nhân vật khác đều là phụ, xuất hiện thấp thoáng trong các tình tiết. Kiên là nhân vật chính mang ba vai: Anh là người chiến sĩ sống sót sau chiến tranh của một đơn vị, là người không thể tự giải thoát khỏi các hồi tưởng về cuộc chiến tranh vừa qua và các đồng đội đã mất như một chứng bệnh trầm cảm. Kiên là người đánh mất mối tình đẹp đẽ của mình. Kiên là người viết tiểu thuyết với ý thức sứ mệnh. Với ba vai đó, tiểu thuyết thể hiện ba nội dung cơ bản: Cuộc chiến tranh khốc liệt với vô vàn chết chóc, biến dạng nhân tính. Chiến tranh và sư hủy diệt hạnh phúc đời thường. Ý thức về chuyện viết văn về đề tài chiến tranh, muốn vượt qua truyền thống cũ.

Vấn đề đầu tiên đối với nhà văn là viết về chiến tranh như thế nào? Khi bắt đầu tiểu thuyết Kiên đã tự nêu câu hỏi: “Vì sao anh lại chọn chiến tranh và vì sao nhất thiết phải là nó?” (tr. 70) Anh chọn nó chính là để thay đổi nó. Vấn đề chính là ở chỗ, cách nhìn về chiến tranh. Cuốn sách đã đi ngược lại với truyền thống thể hiện chiến tranh đã thành công thức truyền thống. Một số người cho rằng, viết như thế là “xúc phạm” người đã khuất, vì không viết họ như những anh hùng. Nhưng chiến tranh là một đề tài rộng lớn, mà các hành động anh hùng trong chiến đấu chỉ là một phương diện. Chiến tranh còn là chết chóc, là hủy diệt, là mất mát đau thương là nhũng điều không thể không viết. Đất nước ta ở vào một vị trí địa chính trị thế nào đó mà thường phải đương đầu với chiến tranh và buộc phải sống còn. Có nhân vật nổi tiếng đã có lần do thói quen, buột mồm nói với một thủ tướng nước ngoài, rằng nước tôi tự hào đã đánh thắng mấy đế quốc to, vị thủ tướng kia đã trả lời, nước tôi cũng tự hào là xưa nay không phải đánh nhau với ai cả. Câu trả lời cho thấy, hòa bình quý giá hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào. Đó cũng là tư tưởng của Hồ Chí Minh khi ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19-12 năm 1946. Từ cuộc kháng chiến chống Pháp, sang cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiểu thuyết về chiến tranh ở Việt nam ra đời trong nhu cầu giáo dục truyền thống anh hùng. Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc, Hồ Phương, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Chu Lai,Nam Hà …và biết bao nhà văn Việt Nam khác đã sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh như thế. Trước đó đã có biết bao tác phẩm phản ánh chiến tranh vệ quốc của Liên Xô, Trung Quốc cũng nhằm giáo dục truyền thống anh hùng. Các tiểu thuyết chiến tranh, do yêu cầu tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đầu và chiến thắng đều thể hiện nhất loạt, ta thắng địch thua, ta chính nghĩa, địch phi nghĩa. Ta dũng cảm, địch hèn nhát. Trong chiến tranh chỉ ta là người, còn địch là thú vật. Mà đã chính nghĩa thì hi sinh là chuyện đương nhiên, là lương tâm và tất yếu, chỉ biết rằng cuối cùng ta phải thắng, địch phải thua. Đó là công thức chung, nhưng chỉ là một chiều. Có cách hiểu chiến tranh như trẩy hội. Có nhà thơ đã viết “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Lại có nhà thơ viết “Vui gì hơn làm người lính đi đầu, Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa”. Ông cũng thấy “máu và hoa”, nhưng với ông, máu cũng như hoa, tô thắm ngọn cờ, vẫn cái nhìn một chiều.

Là nhà văn, Bảo Ninh nghĩ: “Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà văn tự xem mình là kẻ có khả năng, có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế thái đặng tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình, những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định, vừa đổi thay không ngừng của đời sống con người, một đời sống tuy ngắn ngủi và khá là ảm đạm, nhiều buồn đau và bất hạnh, song lại cũng hàm chứa vô cùng tận những lẽ đời đáng sống, những giá trị cao quý, những vẻ đẹp tuyệt vời, hạnh phúc và niềm vui.”[1] Cái khó ở đây là ở chỗ, đối với “những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định, vừa đổi thay không ngừng” nhiều người chỉ thấy mặt cố định, mà không thấy sự đổi thay của chúng.

Là người lính đã trải qua chiến tranh, nhà văn Bảo Ninh, sau khi chiến tranh đã kết thúc, đã nói lên một tiếng nói khác, có phần ngược lại: “Nỗi buồn chiến tranh”. Là nhân chứng của chiến tranh, là người đã chứng kiến biết bao chiến sĩ của ta đã hi sinh thảm khốc, ông đã thấy những giá trị đổi thay. Trong cuộc tọa đàm về tiểu thuyết này tại báo Văn Nghệ sau khi được giải, số 37 năm 1991, tôi đã nói, cuốn tiểu thuyết đã “lộn trái cuộc chiến tranh, để cho ta thấy, chiến tranh như là chiến tranh”. Hào quang vẫn còn, nhưng chiến tranh cũng chỉ là chiến tranh. Trong chiến tranh các chiến sĩ chỉ là những công cụ giết người, bên này không giết được bên kia thì bị bên kia tiêu diệt. Mà bên kia nhiều khi cũng là người mình. Bao lực, dã man, khốc liệt, mất hết nhân tính là bản tính của chiến tranh. Tuy nhiên Nỗi buồn chiến tranh là tiểu thuyết đã vượt lên chiến tranh. Ở đây chiến tranh chỉ là bối cảnh, còn nội dung tiểu thuyết là nỗi buồn đau triền miên mà chiến tranh để lại. Đó là nỗi buồn của chết chóc hủy diệt, nỗi buồn của tuổi trẻ phôi pha, nỗi đau của tình yêu tan vỡ. Trong phỏng vấn của nhà văn nước ngài, Bảo Ninh cho biết, tiểu thuyết về chiến tranh đương thời phần lớn là công thức, thuyết huấn và giải tạo. Hồi còn ở bộ đội Bảo Ninh còn là người thủ thư của đơn vị. Những quyển sách như thế các chiến sĩ không đọc, có người đem vứt đi, có khi sách không liên can gì chiến tranh thì được đọc, ví như cuốn truyện ngắn Bút kí của người đi săn của Ivan Turgenev. Nhà văn Nga K. Simonov từng nói: “Viết về chiến tranh rất khó, viết về chiến tranh như về ngày hội, long trọng và nhẹ nhàng thì không nên. Đó sẽ là giả dối. Chỉ viết về những ngày đêm khói lửa, chỉ viết về sự bẩn thỉu, lầy lội của chiến hào và sự lạnh lẽo của băng tuyết, chỉ viết về cái chết và máu- điều đó cũng giả dối nốt mặc dù nó là sự thật, nhưng chỉ viết về điều đó- mà quên đi tâm hồn, trái tim của những con người đang chiến đấu trong cuộc chiến tranh này”.Viết về chiến tranh là viết về thể nghiệm đời sống đau đớn của những người trải qua chiến tranh, đó là quan điểm nhân văn. Nhân vật chính của tiểu thuyết Bảo Ninh là Kiên đã suy nghĩ theo hướng khác: không đi học sĩ quan để “làm hạt giống cho cho những vụ mùa chiến tranh liên miên”, “sẵn sàng chịu mọi tai họa của chiến tranh, tuy nhiên không bao giờ là những người chủ chiến.” (tr.25). Đối diện với “đại gia đình những người tử trận, họ chung nhau một số phận”. “Không có người vinh kẻ nhục, không người hùng kẻ nhát, không có người đáng sống và kẻ đáng chết. Chỉ có người tên tuổi còn đó, người thì thời gian đã xóa mất rồi, và người thì chỉ còn chút xương, người thì đọng chút bùn lỏng. Dằng đặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết,lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn chiến tranh.” (tr. 33). Trong tiểu thuyết ông viết: “Chính nghĩa đã thắng, cái thiện cũng đã đánh bại cái ác, nhưng đồng thời, cái chết, bạo lực, sự tàn sát cũng thắng.” Trong bộ phim The Vietnam War của PBS (Mĩ), Bảo Ninh được phỏng vấn và ông trả lời: “Chiến tranhkhông có kẻ thắng, chỉ có hủy diệt, tan nát và vỡ vụn.” Một chỗ khác ông viết: “Đứng trước chiến tranh, mọi người đều là kẻ thua trận.” Rõ ràng quan điểm nhà văn là nhất quán. Tư tưởng của Bảo Ninh cũng gặp nhiều đồng điệu của đồng nghiệp. Nhà thơ Nguyễn Duy trong một tác phẩm đã viết: “Xét cho cùng sau mỗi cuộc chiến tranh, Phe nào thắng thì nhân dân đều bại.”[2] Với ý tưởng đó nhà văn đã thay đổi cách nhìn và cách viết.

Nhà văn Kiên trong tiểu thuyết không chấp nhận viết về chiến tranh theo kiểu “nhằm vào đầu nhau mà khạc đạn.” trong “thâm tâm luôn muốn viết về chiến tranh sao cho khác trước.”(tr.70). Ông không miêu tả, kể chuyện về cuộc chiến, không kể lại bất cứ trận đánh nào, mà kể về suy nghĩ, cách ứng xử về cuộc chiến. Hiện lên trước mắt ta là nhân vật Kiên, người lính trinh sát năm xưa nay đi tìm và quy tập hài cốt các đồng đội đã hi sinh, với vô vàn hồi tưởng về những đồng đội và những cái chết, hồi tưởng về người yêu và tình yêu đã mất, với khát vọng viết lại “nội dung của lời trăng trối” của người lính chống Mĩ (tr.91). Ông không viết về chiến tranh, nên thoát khỏi khuôn sáo chủ nghĩa anh hùng của một thời. Trong tiểu thuyết của ông không có nhân vật nào xuất hiện như là anh hùng chiến trận cả. Ông không viết về thắng lợi như các tác phẩm viết để tuyên truyền. Ông cũng không viết theo kiểu con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn…”(tr. 72).

Ông từ bỏ phương pháp hiện thực xã chủ nghĩa với nhân vật điển hình, con người mới, chủ nghĩa anh hùng, hoàn cảnh điển hình, chi tiết điển hình trong quá trình phát triển của lịch sử, mà viết theo dòng chảy của hồi ức và tâm trạng. Chi tiết hiện thực của ông rất nhiều, nhưng không sắp xếp theo thứ tự lí tính. Truyện của ông không có cốt truyện, không có trật tự thời gian tuyến tính, không có kết cục rõ ràng. Nhân vật của ông không sống hân hoan với thời đại mới sau chiến thắng chấn động địa cầu, mà sống với quá khứ. “Không phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không phải là những hi vọng về tương lai tốt đẹp đã cứu giúp tôi, mà trái lại, những tấm thảm kịch của quá khứ đã nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần cho tôi thoát khỏi vô tận những những tấn trò đời hôm nay.” (tr. 59). Người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông không điều khiển được cái viết, “không phải là anh, mà là một cái gì đấy đối lập, thậm chí thù nghịch với anh đang viết, đang không ngừng vi phạm, không ngừng lật ngược tất cả những những giáo điều cùng tất cả những tín niệm văn chương và nhân sinh sâu bền nhất của anh. Và hoàn toàn không cưỡng nổi, mỗi ngày Kiên một dấn mình thêm vào vòng xoáy của nghịch lí hiểm nghèo ấy của bút pháp.” (tr. 62). “Trong từng chương một Kiên viết về chiến tranh một cách rất tùy ý như thể ấy là một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới, như thể cuộc chiến của riêng anh” (tr. 63). “Ngấm ngầm anh tin mình tồn tại ở đời với một thiên mệnh vô danh, thiêng liêng và cao cả, song tuyệt đối bí ẩn.” Kiên là một trường hợp điển hình của chứng PTSD, chứng rối loạn tâm lí hậu chấn thương, và nhờ hồi tưởng, nhờ viết tiểu thuyết mà đã vượt qua cơn bệnh. Nhưng Kiên vẫn không phải là người đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết, mà phải là một người khác tỉnh táo hơn. Khi được hỏi, mối quan hệ giữa nhân vật Kiên và Bảo Ninh như thế nào, thì nhà văn trả lời:“Kiên là nhân vật hư cấu, hoàn toàn không phải tôi, đời sống và chiến đấu của anh ta cực kì khác tôi, nhưng Kiên cũng chính là tôi.” Kiên là nhân vật hư cấu, nhưng Kiên cũng chính là Bảo Ninh. Bảo Ninh đã thay đổi cách viết về chiến tranh. Những ai đã đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh sẽ không thể nào viết lại chiến tranh theo kiểu cũ được nữa.

Toàn bộ tiểu thuyết được kể bằng ngôi thứ ba với điểm nhìn duy nhất của Kiên, và nhiều khi Kiên gạt bỏ luôn ngôi thứ ba để đứng ra kể chuyện xưng “tôi” theo ngôi thứ nhất, nhất là khi nói về cách viết tiểu thuyết. Chỉ có chương cuối cùng là lời của một người đọc đặc biệt xưng “tôi” biên tập lại bản thảo dang dở và đánh giá đúng bản thảo. Cái “tôi” này cũng chẳng phải ai xa lạ, rất có thể là cái “tôi” đã xuất hiện trong văn bản. Người đọc xưng “tôi” này đã vượt qua các định kiến của những người hàng xóm, coi Kiên là “nhà văn phường”, một kẻ dị biệt, thị dân, tiểu tư sản, cực đoan, bạc nhược, để hiểu được “có chung một nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ.” Toàn bộ tiểu thuyết được thể hiện bằng những hồi tưởng đứt đoạn của Kiên. Bảo Ninh thích dùng lối tạt lùi (Flashback) để nhớ lại một chi tiết ngắn của quá khứ, làm cho cả tiểu thuyết được dệt bằng các đoạn hồi tưởng ngắn và suy ngẫm. Sẽ là ngây thơ nếu ai đó tin vào lời của nhà văn Kiên trong truyện, để tin rằng tiểu thuyết viết lộn xộn, tuỳ tiện vô thức. Chính những tạt lùi ngắn ngủi đã băm vụn cuộc chiến đã qua, để không tái hiện hoàn chỉnh nó nữa, vì ai cũng đã biết hết, mà chỉ tái hiện các mảnh vụn, những mảnh ghép làm nên “cuộc chiến của riêng Kiên” và nỗi buồn của anh mà mọi người chưa biết. Điểm nhìn của nhân vật Kiên và của người kể chuyện Kiên không trùng khít, bởi điểm nhìn sau hàm chứa một thái độ phản tư, phân tích những gì đã nhìn thấy và hồi tưởng, một điểm nhìn hậu chiến, điểm nhìn của người đã ra khỏi cuộc chiến và suy tư về nó, vượt lên nó. Nhìn bề ngoài. tất cả các chương của cuốn tiểu thuyết đều song hành trên một mặt bằng thời gian, bất cứ lúc nào Kiên đều có thể trở đi trở lại với những thời điểm quen thuộc với anh trong cuộc chiến, như thể thời gian không trôi qua. Nhưng đọc kĩ, sẽ thấy, cốt truyện chủ yếu là câu chuyện viết tiểu thuyết của Kiên. Từ chuyện đi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ, Kiên nảy ra ý muốn kể lại lời trăng trối của những người đã mất, rồi tiếp theo là chuyện viết, cách viết, viết thâu đêm, viết rồi bỏ, chuyện vô vàn cái chết, chuyện gia đình của Kiên, chuyện tình tan vỡ của Kiên, chuyện Kiên bất lực với câu chuyện và biến mất, và kết thúc bằng môt ai đó biên tập tiểu thuyết và tiểu thuyết đã hoàn thành. Một siêu tiểu thuyết (metafiction), trong tiểu thuyết hàm chứa một tiểu thuyết, tiểu thuyết về ý thức đổi mới cách viết một đề tài. Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh mang một chủ đề kép. Nó không chỉ nêu một cách nhìn khác về chiến tranh, mà còn đề xuất một cách viết về đề tài chiến tranh, đề xuất một đổi thay về phương pháp sáng tác nữa.

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh còn là một tiểu thuyết xuất sắc về ngôn ngữ văn học. Toàn bộ tác phẩm không phải lời kể chuyện thông thường, mà là lời độc thoại của nhân vật mà người kể chuyện mượn để làm điểm tựa, lời của nhân vật Kiên. Vì thế đọc tiểu thuyết như là đọc lời bộc bạch, trữ tình, tâm sự của một tâm hồn. “Giấc mơ lay thức tâm hồn Kiên. Thì ra, anh, Kiên cũng có một thời trai trẻ trung, cái thời mà giờ đây khó lòng mường tượng lại được nữa, cái thời mà toàn bộ con người anh, nhân tính và nhân dạng, còn chưa bị bạo lực của chiến tranh hủy hoại, cái thời anh cũng ngập lòng ham muốn, cũng biết say sưa, si mê, cũng trải những cơn bồng bột, và cũng ngốc nghếch ngẩn ngơ, cũng từng ta nát cả cõi lòng vì tình yêu thương đau khổ, vì ghen tuông tủi hờn và cũng đáng được ưu ái như các bạn anh bây giờ. Chao ôi, chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của giòng giống con người!” Câu văn dài với nhiều thành phần phụ, với các từ trùng điệp, lặp lại, ngân nga như thơ, như ru người đọc vào hồi tưởng mà chìm ẩn trong nhịp điệu ấy là nỗi niềm tiếc nuối vô hạn và nỗi buồn sâu thẳm. Có người tiếc là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh giàu chất trữ tình quá. Theo ông có lẽ phải viết với lời văn giễu nhại. Ý kiến đó theo tôi không đúng. Người ta có thể giễu nhại một cuộc cách mạng văn hóa kệch cỡm, nhưng không thể giễu nhại một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, thống nhất đất nước. Nhưng khúc trữ tình với khúc ai ca cũng có khác nhau. Nỗi buồn chiến tranh vẫn chỉ là nỗi buồn, nỗi đau, mà chưa phải là thể loại khúc ca, bài ca.

Hà Nội, 1 tháng 5 năm 2022.
Mấy năm trước em nghe người ta bẩu phê bình lý luận văn học của mình giai đoạn gần đây quá kém. Thực sự thì em chẳng thấy có tí gì gọi là phê bình. Đoạn đầu quá sức gồng mình về các danh hiệu, giới thiệu về hoàn cảnh ra đời tác phẩm thì sơ sài, đánh giá và minh chứng chẳng ăn nhập gì với nhau.
Tác giả hoá thân vào nhân vật kiên kể về cuộc đời mình hay nhà văn kiên kể về cuộc đời mình?
Cách phân tích cũng không rõ kết cấu đi theo trình tự phát triển tính cách nhân vật hay là đi từ cách kể chuyện, đi từ những đoạn đắt giá của tác phẩm.
Sa đà vào vấn đề chính trị, chế độ?
 

victo2025

Xe buýt
Biển số
OF-895294
Ngày cấp bằng
17/10/25
Số km
631
Động cơ
8,592 Mã lực
Nơi ở
Hà nội
Mấy năm trước em nghe người ta bẩu phê bình lý luận văn học của mình giai đoạn gần đây quá kém. Thực sự thì em chẳng thấy có tí gì gọi là phê bình. Đoạn đầu quá sức gồng mình về các danh hiệu, giới thiệu về hoàn cảnh ra đời tác phẩm thì sơ sài, đánh giá và minh chứng chẳng ăn nhập gì với nhau.
Tác giả hoá thân vào nhân vật kiên kể về cuộc đời mình hay nhà văn kiên kể về cuộc đời mình?
Cách phân tích cũng không rõ kết cấu đi theo trình tự phát triển tính cách nhân vật hay là đi từ cách kể chuyện, đi từ những đoạn đắt giá của tác phẩm.
Sa đà vào vấn đề chính trị, chế độ?
Tạm tính như này, khoảng 30 năm nữa, 2055. Tới khi đó mấy cụ cựu nhà văn thời chiến và mấy cụ cựu lính như cụ Khùng cũng khuất núi gần hết, bên sáng tác và bên phản biện đều xanh cỏ. Vậy còn gì với thời gian? Đó là những tác phẩm như NBCT, Thời xa vắng, Ăn mày dĩ vãng...Cho nên bên phản biện thời gian này cần dập cho tới nơi tới chốn, đơn từ các nơi, cơ bản trên cao quyết như nào thôi?
 

BopCoi

Xe buýt
Biển số
OF-187425
Ngày cấp bằng
29/3/13
Số km
786
Động cơ
327,896 Mã lực
Mấy năm trước em nghe người ta bẩu phê bình lý luận văn học của mình giai đoạn gần đây quá kém. Thực sự thì em chẳng thấy có tí gì gọi là phê bình. Đoạn đầu quá sức gồng mình về các danh hiệu, giới thiệu về hoàn cảnh ra đời tác phẩm thì sơ sài, đánh giá và minh chứng chẳng ăn nhập gì với nhau.
Tác giả hoá thân vào nhân vật kiên kể về cuộc đời mình hay nhà văn kiên kể về cuộc đời mình?
Cách phân tích cũng không rõ kết cấu đi theo trình tự phát triển tính cách nhân vật hay là đi từ cách kể chuyện, đi từ những đoạn đắt giá của tác phẩm.
Sa đà vào vấn đề chính trị, chế độ?
Ui, cụ đủ trình để phê bình nhà phê bình vh hàm gs thì ở tầm quá cao rồi, e lại tưởng cụ ko biết dùng gúc tìm bài viết nên chọn đại 1 bài đầu tiên gúc đc cho cụ.
Vậy thì cần tìm nhà phê bình vh nào nữa, cụ cứ cho lời phê của cụ về tác phầm luôn đi cho chúng e đc mở rộng tầm mắt.
 

BopCoi

Xe buýt
Biển số
OF-187425
Ngày cấp bằng
29/3/13
Số km
786
Động cơ
327,896 Mã lực
Tạm tính như này, khoảng 30 năm nữa, 2055. Tới khi đó mấy cụ cựu nhà văn thời chiến và mấy cụ cựu lính như cụ Khùng cũng khuất núi gần hết, bên sáng tác và bên phản biện đều xanh cỏ. Vậy còn gì với thời gian? Đó là những tác phẩm như NBCT, Thời xa vắng, Ăn mày dĩ vãng...Cho nên bên phản biện thời gian này cần dập cho tới nơi tới chốn, đơn từ các nơi, cơ bản trên cao quyết như nào thôi?
Vừa rồi BGD phê duyệt bộ sách dùng chung, trong đó sách GK môn văn giữ nguyên trích NBCT. Một câu trả lời rất rõ ràng của trên rồi.
 

My Hao

Xe container
Biển số
OF-163525
Ngày cấp bằng
26/10/12
Số km
6,453
Động cơ
2,049,836 Mã lực
KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI

Một cuộc chiến đã đi qua
Giang sơn đã hòa bình, thống nhất
Người nằm xuống đã vắng lặng từ lâu
Người trở về đầu đã bạc
Không việc gì phải rũ rối ra
Ném vào nhau lời vô nghĩa

Không ai quên những chiến công, những người lính can đảm
Đã vựơt qua cái xấu xí, đớn hèn
Đã đi qua cuộc chiến tranh thiêng liêng giận dữ
Với sấm chớp, những trận mưa lớn
Tưới tắm núi sông, số phận con người
Cả dân tộc bước lên đài lịch sử

Đây là lúc chẳng cần giở lại trò đếm xác chết
Kể lể công, tội
Đòi soi mặt từng người
Thật vô ích và bất kính
Hãy để những người anh hùng ngủ yên
Hãy để cho sự tầm thường và tro tàn chiến tranh nguội lạnh
Chúng ta sống những ngày bình lặng
Đổi mới đất nước, sửa lại ngôi nhà tổ tiên
Trao công việc tận tay người trẻ
Làm nên đất nước hôm nay tự hào, đáng sống

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top