GIÁ NHƯ ĐÓ CHỈ LÀ NƯỚC MƯA
Tuổi thiếu niên của tôi bắt đầu bằng tiếng ù ù như cối xay lúa của những tốp F-105 Thunderchief và F-4 Phantom II trên nền trời xám đục. Buổi trưa, tên lửa Sidewinder rít qua đầu. Chiều xuống, vệt lửa da cam của SA-2 lóe lên cùng ánh mặt trời.
Và có những đêm, mặt đất rung chuyển bởi bom B-52 ở cự ly gần.
Tết đến, tôi xếp hàng mua vài lạng gạo nếp, được trừ vào tiêu chuẩn trong sổ gạo hàng tháng, trong khi tay còn xách mấy chai dầu hỏa mua theo phiếu chất đốt.
Ngày Tết thường không có bánh chưng, chỉ là đĩa xôi đậu xanh được nấu từ gạo nếp mua ở cửa hàng lương thực. Đĩa xôi nếp mậu dịch, không có ‘Mai Châu mùi em thơm nếp xôi’ như trong thơ “Tây Tiến”, nhưng được ăn kèm với vài miếng thịt kho tầu, thế cũng đã là đặc biệt so với thường ngày.
Bánh chưng thường chỉ thấy trong các bức tranh Đông Hồ.
Chớm bước vào tuổi xuân, tôi nhập ngũ và trở thành học viên sỹ quan.
Mùa xuân đến là nhớ về những chuyến tầu Tết, những chuyến tầu đông khủng khiếp. Nhưng chúng tôi – tuy là lính – lại là lính đi học, nên vẫn nghịch như ma quỷ, mặc kệ tàu đông.
Mỗi lần tàu đỗ ở ga gần trường, bọn lính học viên chúng tôi bám tay vào cửa sổ, đánh đu mấy vòng kiểu “đánh xà đơn” với đôi giày Cô-xa-gưn, làm dân tình phát khiếp mà dạt ra. Thế là mấy thằng lính đi học nghiễm nhiên có chỗ ngồi trên mép cửa sổ toa tàu.
Ngồi vắt vẻo như thế, hai cẳng chân dận Cô-xa-gưn đung đưa ngoài cửa sổ, theo nhịp lắc lư của con tàu. Gió mùa xuân ùa qua mặt, như đua cùng con tàu lao đi vun vút giữa những cánh đồng rau cải xanh mướt đang đón chờ phiên chợ cuối năm.
Nhưng nếu chỉ có thế, thì cũng chẳng có gì để nhớ.
Mấu chốt là ở chỗ… đói.
Tàu chạy đến ga Thạch Lỗi thì có mấy cô bé bán bánh dầy – giò rao hàng. Thuở ấy, bánh dầy chắc cũng to như bây giờ. Tôi đoán vậy, vì thời bao cấp, chưa từng được cắn một miếng bánh dầy cho ra hồn.
Nhưng cái giò thì nhớ.
Cây giò to bằng cổ tay trẻ con, dài độ hai gang tay, bọc trong lá chuối xanh, đặt hờ hững mà đầy mời gọi trên miệng rổ. Cái rổ được các cô đội trên đầu. Với khách thập phương thì kín đáo. Nhưng với mấy cặp mắt háu đói của lũ học viên sĩ quan ngồi vắt vẻo cửa sổ, thì lại lộ thiên đến nao lòng.
Lý luận duy vật biện chứng không cần giảng giải. Thằng Cương “cốm” chỉ bằng một động tác thần sầu, nhanh như con khỉ ở đảo Rều – loại khỉ mà lính Vùng 1 Hải quân ai cũng thuộc tính nết, cây giò xanh mướt kia đã biến mất, chui tọt vào trong cổ áo đại cán gắn quân hàm đỏ của nó.
Không ai biết. Cô bán bánh không biết. Quần chúng không biết. “Trên” lại càng không biết. Chỉ có lũ học viên âm thầm hớn hở với nhau.
Tàu rời ga Thạch Lỗi. Mãi đến gần ga Đông Anh, Cương “cốm” mới yên tâm rút chiến lợi phẩm ra.
Nó tuyên bố:
– Mỗi thằng một miếng thôi nhé.
Và nó là thằng ngoạm đầu tiên.
Cây giò chuyền tay qua mấy vòng đến lượt tôi thì chỉ còn một mẩu nham nhở, đầy vết răng tứ phía, nhỏ bằng đốt ngón chân cái.
Tôi phải cắn ngay.
Nếu chậm một giây, gió tàu đang lao 40 km một giờ có thể cuốn bay mất.
Ái chà. Ngọt. Thơm. Bùi. Béo. Đậm đà.
Hơn nửa thế kỷ rồi, hương vị của mẩu giò ấy vẫn chưa phai.
Cây giò ấy đi theo trí nhớ tôi qua nhiều mùa xuân, kèm theo cả một nỗi ngượng ngùng của tuổi trẻ dại khờ.
Rồi một mùa xuân khác đến – mùa xuân tôi rời ghế học viên, chính thức về đơn vị.
Mùa xuân đầu tiên sau khi tốt nghiệp cũng đúng dịp Tết. Là sỹ quan mới về Đoàn X Hải quân, tôi chắc mẩm mình sẽ trực. Nghĩ đến thêm một cái Tết xa nhà, bụng chùng xuống.
Vậy mà thời gian chạy vèo một cái. Ngoảnh đi đã 28 Tết.
Chiều ấy, tôi đang kiểm tra sẵn sàng chiến đấu ở khu B thì cậu cảnh vệ hộc tốc chạy tới:
– Thủ trưởng V gọi anh lên ngay!
Tôi lên Ban chỉ huy. Thủ trưởng V đang ăn cơm, nói luôn:
– Ngày mai đi với tôi về Hà Nội chúc Tết các thủ trưởng Bộ. Xong việc, cho cậu ở nhà năm ngày. Thưởng phép trước. Sang năm giao việc quan trọng.
Nghe đến “ở nhà năm ngày” là đủ. Còn nhiệm vụ năm tới ra sao, lúc ấy tôi chưa cần nghĩ.
Tôi phi xuống ban Hậu cần. Tay Trưởng ban quy tiêu chuẩn năm ngày Tết của tôi ra thịt lợn, khoảng bảy lạng.
Ôm tảng thịt ra khỏi kho quân nhu, tôi chợt nhớ: phải có cành đào.
Đơn vị đóng quân giữa vùng đào nổi tiếng của Vùng 1 Hải quân. Tôi gọi cậu Ràng liên lạc đi cùng. Trời tối mịt, mưa bụi giăng như rây bột.
Ràng hiến kế:
– Anh chiếu đèn pha xuống, anh chỉ cành nào, em chặt cành đó.
Dưới ánh đèn, rừng đào mờ ảo. Tôi chẳng phân biệt nổi hoa ở đâu trong đám lá cành. Đành chọn đại cành nào nhiều lá nhất.
Nửa đêm mới xong.
Mọi chuyện đều ổn cho đến khi tôi về tới nhà.
Thằng cu nhà tôi bập bẹ reo lên:
– A, ba mang cành ngụy trang về nhà.
Thì bởi cành toàn lá, lấy đâu ra hoa. Còn bà vợ thì bồi hồi:
– Tưởng không được về, nhà chỉ có ít thịt, nên chỉ gói bánh với ít đỗ xanh. Bây giờ nhà ta sẽ kho thịt, để ăn kèm với bánh chưng đỗ.
Bây giờ, mỗi khi đến với các phiên chợ vùng xa, tôi vẫn mua một cái bánh chưng chay của chợ quê, để nhớ về những cái Tết lính, thời chiến tranh biên giới xa xôi.
Thời tôi ra chỉ huy đơn vị, là vào những năm chiến tranh biên giới còn đỏ lửa – phía Tây Nam rồi đến phía Bắc biên ải. Hai cuộc chiến dài hơn mười năm, gần như bao trùm hết lên tuổi thanh niên của chúng tôi.
Mỗi khi Tết đến, tôi như còn nhìn thấy những chiếc xe cam nhông quân sự chở đầy lá dong.
Xe cam nhông quân sự, đỗ ở mạn Cầu Giấy, thường có biển số thuộc quân đoàn 26, có mật danh là Binh đoàn Pác Bó. Còn xe đỗ ở mạn Bưởi, thường có biển số thuộc quân đoàn 14, có mật danh là Binh đoàn Chi Lăng.
Thời chiến tranh biên giới, công tác đảm bảo hậu cần rất khó khăn, nên Bộ đã cho phép các đơn vị có thể được ‘lui cung’. Tức là đơn vị đóng ở Hà Giang, có thể cho xe về tận Hà Nội để mua rau, mua thịt cho bộ đội theo tiêu chuẩn.
Dịp Tết, để có thêm kinh phí bổ sung vào tiêu chuẩn ăn Tết cho bộ đội, nhiều đơn vị đã có sáng kiến là ‘vận tải hai chiều’. Tức là từ tiền phương mặt trận, khi về hậu phương Hà Nội, sẽ kết hợp chở theo lá dong rừng, do bộ đội khai thác, để bán cho đồng bào thủ đô mua về gói bánh chưng. Đồng bào sẽ mua được rẻ. Còn bộ đội thì có thêm chút tiền còm, để mua thêm chút rau cải xanh, cho bữa cơm Tết lính.
Ngày 30 Tết, tôi như còn thấy mấy nữ chiến sĩ đội mũ cối, cổ quấn khăn mặt bông màu xanh, khoác trên mình chiếc áo bông quân trang nam to xù, bốc những tàu lá dong không bán được lên xe cam nhông quân sự.
Trong làn mưa bụi mùa xuân, chiếc xe cam nhông còn chứa đến hai phần ba số lá dong ế. Xe khuất dần trên đường 32, từ Cầu Giấy hướng về phà Trung Hà, trở lại tiền phương mặt trận Quân khu 2. Trên thùng xe, mấy nữ chiến sĩ ngồi nép vào nhau cho đỡ lạnh. Tay các em khẽ vuốt lại mép lá cho phẳng.
Gió lùa hun hút.
Mắt các em nhòa nước.
Giá như đó chỉ là nước mưa!!!
Những tàu lá xanh ấy sẽ theo xe trở lại rừng. Mùa xuân đi cùng người lính, nhưng bánh chưng thì chưa chắc.
Rồi chiến tranh lùi dần. Bao cấp cũng dần xa.
Chúng tôi bước vào tuổi trung niên lúc nào không hay.
Phố xá bắt đầu sáng đèn. Hàng quán bày bánh chưng vuông vức, buộc lạt đỏ, xếp cao như những khối quà Tết.
Không còn cảnh thức đêm canh bếp lửa, không còn tiếng nước sôi ùng ục dưới sân chung cư. Ít nhà còn nhóm củi luộc bánh. Trẻ con không còn chờ được “ăn miếng bánh đầu tiên” khi vớt khỏi nồi. Người lớn dè dặt với nếp, với mỡ.
Bánh chưng vẫn có. Chỉ là không còn mùi khói bếp quyện vào áo quần, không còn hơi ấm lan trong gian nhà chật. Đôi khi trên bàn thờ, hai chiếc bánh nằm lặng lẽ giữa hoa quả ngoại nhập và hộp quà bóng loáng.
Nhìn chúng, tôi luôn nhớ những tàu lá dong ướt mưa trên chiếc xe cam nhông quân sự năm nào.
Có những thứ đủ đầy hơn. Và cũng có những thứ, lặng lẽ vơi đi.
Bây giờ bước sang tuổi xế chiều. Bánh chưng đã có thể vắng trên mâm. Nhưng ký ức thì vẫn còn xanh như lá dong trên xe tải nhà binh năm xưa. Và đâu đó, vẫn còn hương vị của miếng giò của tuổi trẻ dại khờ.
View attachment 9503158