[TT Hữu ích] Những hồi ức của một lính Hải quân

Payroll

Xe điện
Biển số
OF-51431
Ngày cấp bằng
23/11/09
Số km
3,366
Động cơ
437,639 Mã lực
Nơi ở
Hắc mộc nhai
Sài Gòn, mùa xuân 1994 – năm đầu tiên nhận cấp hàm DGM và chiếc xe công vụ đầu tiên.
Ba mươi năm sau, ngày cuối năm 2024 nghỉ hưu – cấp hàm vẫn như thuở ban đầu, chỉ có xe được cấp phát theo cương vị công tác là thay đổi theo năm tháng.
NOTE:
-Xưa kia, khi đã đánh xong trận mạc và giải ngũ, triều đình vẫn cho các tướng trận được mang theo về bản quán: Ngựa chiến, giáo mác, cung tên: những vũ khí đã đi theo tướng quân qua các trận đánh.
-Thì ngày nay, khi về với đời thường, Tổng hành dinh Tokyo, cũng cấp phát vĩnh viễn cho cựu DGM và được mang theo về: con xe 75 NN, mobile phone, computer, bộ bàn ghế thường dùng và các cái.
Tổng hành dinh Tokyo chỉ giữ lại các nữ trợ lý ở mọi thời kỳ, không cho theo về cùng cựu DGM. Thôi thì cũng được.
🙃

-Năm 1994
N01.jpg

KG SG Kieu Linh - Minh Hang - Xuan Dung.jpg


-Năm 2000
N02.jpg


-Năm 2025, khi đã nghỉ hưu:
N03.jpg


-À, con ngựa 75 NN, đã từng đưa rất nhiều các cụ CCB đi thăm thú nhiều nơi.
N05.jpg


thắm em Mùi.jpg
Tiếc nhất là không cho các nữ trợ lý đúng không cụ
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
GIÁ NHƯ ĐÓ CHỈ LÀ NƯỚC MƯA

Tuổi thiếu niên của tôi bắt đầu bằng tiếng ù ù như cối xay lúa của những tốp F-105 Thunderchief và F-4 Phantom II trên nền trời xám đục. Buổi trưa, tên lửa Sidewinder rít qua đầu. Chiều xuống, vệt lửa da cam của SA-2 lóe lên cùng ánh mặt trời.
Và có những đêm, mặt đất rung chuyển bởi bom B-52 ở cự ly gần.

Tết đến, tôi xếp hàng mua vài lạng gạo nếp, được trừ vào tiêu chuẩn trong sổ gạo hàng tháng, trong khi tay còn xách mấy chai dầu hỏa mua theo phiếu chất đốt.
Ngày Tết thường không có bánh chưng, chỉ là đĩa xôi đậu xanh được nấu từ gạo nếp mua ở cửa hàng lương thực. Đĩa xôi nếp mậu dịch, không có ‘Mai Châu mùi em thơm nếp xôi’ như trong thơ “Tây Tiến”, nhưng được ăn kèm với vài miếng thịt kho tầu, thế cũng đã là đặc biệt so với thường ngày.

Bánh chưng thường chỉ thấy trong các bức tranh Đông Hồ.

Chớm bước vào tuổi xuân, tôi nhập ngũ và trở thành học viên sỹ quan.
Mùa xuân đến là nhớ về những chuyến tầu Tết, những chuyến tầu đông khủng khiếp. Nhưng chúng tôi – tuy là lính – lại là lính đi học, nên vẫn nghịch như ma quỷ, mặc kệ tàu đông.

Mỗi lần tàu đỗ ở ga gần trường, bọn lính học viên chúng tôi bám tay vào cửa sổ, đánh đu mấy vòng kiểu “đánh xà đơn” với đôi giày Cô-xa-gưn, làm dân tình phát khiếp mà dạt ra. Thế là mấy thằng lính đi học nghiễm nhiên có chỗ ngồi trên mép cửa sổ toa tàu.
Ngồi vắt vẻo như thế, hai cẳng chân dận Cô-xa-gưn đung đưa ngoài cửa sổ, theo nhịp lắc lư của con tàu. Gió mùa xuân ùa qua mặt, như đua cùng con tàu lao đi vun vút giữa những cánh đồng rau cải xanh mướt đang đón chờ phiên chợ cuối năm.
Nhưng nếu chỉ có thế, thì cũng chẳng có gì để nhớ.

Mấu chốt là ở chỗ… đói.
Tàu chạy đến ga Thạch Lỗi thì có mấy cô bé bán bánh dầy – giò rao hàng. Thuở ấy, bánh dầy chắc cũng to như bây giờ. Tôi đoán vậy, vì thời bao cấp, chưa từng được cắn một miếng bánh dầy cho ra hồn.
Nhưng cái giò thì nhớ.

Cây giò to bằng cổ tay trẻ con, dài độ hai gang tay, bọc trong lá chuối xanh, đặt hờ hững mà đầy mời gọi trên miệng rổ. Cái rổ được các cô đội trên đầu. Với khách thập phương thì kín đáo. Nhưng với mấy cặp mắt háu đói của lũ học viên sĩ quan ngồi vắt vẻo cửa sổ, thì lại lộ thiên đến nao lòng.

Lý luận duy vật biện chứng không cần giảng giải. Thằng Cương “cốm” chỉ bằng một động tác thần sầu, nhanh như con khỉ ở đảo Rều – loại khỉ mà lính Vùng 1 Hải quân ai cũng thuộc tính nết, cây giò xanh mướt kia đã biến mất, chui tọt vào trong cổ áo đại cán gắn quân hàm đỏ của nó.

Không ai biết. Cô bán bánh không biết. Quần chúng không biết. “Trên” lại càng không biết. Chỉ có lũ học viên âm thầm hớn hở với nhau.

Tàu rời ga Thạch Lỗi. Mãi đến gần ga Đông Anh, Cương “cốm” mới yên tâm rút chiến lợi phẩm ra.
Nó tuyên bố:

– Mỗi thằng một miếng thôi nhé.
Và nó là thằng ngoạm đầu tiên.

Cây giò chuyền tay qua mấy vòng đến lượt tôi thì chỉ còn một mẩu nham nhở, đầy vết răng tứ phía, nhỏ bằng đốt ngón chân cái.
Tôi phải cắn ngay.
Nếu chậm một giây, gió tàu đang lao 40 km một giờ có thể cuốn bay mất.

Ái chà. Ngọt. Thơm. Bùi. Béo. Đậm đà.
Hơn nửa thế kỷ rồi, hương vị của mẩu giò ấy vẫn chưa phai.
Cây giò ấy đi theo trí nhớ tôi qua nhiều mùa xuân, kèm theo cả một nỗi ngượng ngùng của tuổi trẻ dại khờ.

Rồi một mùa xuân khác đến – mùa xuân tôi rời ghế học viên, chính thức về đơn vị.
Mùa xuân đầu tiên sau khi tốt nghiệp cũng đúng dịp Tết. Là sỹ quan mới về Đoàn X Hải quân, tôi chắc mẩm mình sẽ trực. Nghĩ đến thêm một cái Tết xa nhà, bụng chùng xuống.
Vậy mà thời gian chạy vèo một cái. Ngoảnh đi đã 28 Tết.

Chiều ấy, tôi đang kiểm tra sẵn sàng chiến đấu ở khu B thì cậu cảnh vệ hộc tốc chạy tới:
– Thủ trưởng V gọi anh lên ngay!
Tôi lên Ban chỉ huy. Thủ trưởng V đang ăn cơm, nói luôn:
– Ngày mai đi với tôi về Hà Nội chúc Tết các thủ trưởng Bộ. Xong việc, cho cậu ở nhà năm ngày. Thưởng phép trước. Sang năm giao việc quan trọng.

Nghe đến “ở nhà năm ngày” là đủ. Còn nhiệm vụ năm tới ra sao, lúc ấy tôi chưa cần nghĩ.
Tôi phi xuống ban Hậu cần. Tay Trưởng ban quy tiêu chuẩn năm ngày Tết của tôi ra thịt lợn, khoảng bảy lạng.
Ôm tảng thịt ra khỏi kho quân nhu, tôi chợt nhớ: phải có cành đào.

Đơn vị đóng quân giữa vùng đào nổi tiếng của Vùng 1 Hải quân. Tôi gọi cậu Ràng liên lạc đi cùng. Trời tối mịt, mưa bụi giăng như rây bột.
Ràng hiến kế:
– Anh chiếu đèn pha xuống, anh chỉ cành nào, em chặt cành đó.
Dưới ánh đèn, rừng đào mờ ảo. Tôi chẳng phân biệt nổi hoa ở đâu trong đám lá cành. Đành chọn đại cành nào nhiều lá nhất.
Nửa đêm mới xong.

Mọi chuyện đều ổn cho đến khi tôi về tới nhà.
Thằng cu nhà tôi bập bẹ reo lên:
– A, ba mang cành ngụy trang về nhà.
Thì bởi cành toàn lá, lấy đâu ra hoa. Còn bà vợ thì bồi hồi:
– Tưởng không được về, nhà chỉ có ít thịt, nên chỉ gói bánh với ít đỗ xanh. Bây giờ nhà ta sẽ kho thịt, để ăn kèm với bánh chưng đỗ.

Bây giờ, mỗi khi đến với các phiên chợ vùng xa, tôi vẫn mua một cái bánh chưng chay của chợ quê, để nhớ về những cái Tết lính, thời chiến tranh biên giới xa xôi.

Thời tôi ra chỉ huy đơn vị, là vào những năm chiến tranh biên giới còn đỏ lửa – phía Tây Nam rồi đến phía Bắc biên ải. Hai cuộc chiến dài hơn mười năm, gần như bao trùm hết lên tuổi thanh niên của chúng tôi.

Mỗi khi Tết đến, tôi như còn nhìn thấy những chiếc xe cam nhông quân sự chở đầy lá dong.
Xe cam nhông quân sự, đỗ ở mạn Cầu Giấy, thường có biển số thuộc quân đoàn 26, có mật danh là Binh đoàn Pác Bó. Còn xe đỗ ở mạn Bưởi, thường có biển số thuộc quân đoàn 14, có mật danh là Binh đoàn Chi Lăng.

Thời chiến tranh biên giới, công tác đảm bảo hậu cần rất khó khăn, nên Bộ đã cho phép các đơn vị có thể được ‘lui cung’. Tức là đơn vị đóng ở Hà Giang, có thể cho xe về tận Hà Nội để mua rau, mua thịt cho bộ đội theo tiêu chuẩn.
Dịp Tết, để có thêm kinh phí bổ sung vào tiêu chuẩn ăn Tết cho bộ đội, nhiều đơn vị đã có sáng kiến là ‘vận tải hai chiều’. Tức là từ tiền phương mặt trận, khi về hậu phương Hà Nội, sẽ kết hợp chở theo lá dong rừng, do bộ đội khai thác, để bán cho đồng bào thủ đô mua về gói bánh chưng. Đồng bào sẽ mua được rẻ. Còn bộ đội thì có thêm chút tiền còm, để mua thêm chút rau cải xanh, cho bữa cơm Tết lính.

Ngày 30 Tết, tôi như còn thấy mấy nữ chiến sĩ đội mũ cối, cổ quấn khăn mặt bông màu xanh, khoác trên mình chiếc áo bông quân trang nam to xù, bốc những tàu lá dong không bán được lên xe cam nhông quân sự.

Trong làn mưa bụi mùa xuân, chiếc xe cam nhông còn chứa đến hai phần ba số lá dong ế. Xe khuất dần trên đường 32, từ Cầu Giấy hướng về phà Trung Hà, trở lại tiền phương mặt trận Quân khu 2. Trên thùng xe, mấy nữ chiến sĩ ngồi nép vào nhau cho đỡ lạnh. Tay các em khẽ vuốt lại mép lá cho phẳng.
Gió lùa hun hút.
Mắt các em nhòa nước.
Giá như đó chỉ là nước mưa!!!

Những tàu lá xanh ấy sẽ theo xe trở lại rừng. Mùa xuân đi cùng người lính, nhưng bánh chưng thì chưa chắc.

Rồi chiến tranh lùi dần. Bao cấp cũng dần xa.
Chúng tôi bước vào tuổi trung niên lúc nào không hay.

Phố xá bắt đầu sáng đèn. Hàng quán bày bánh chưng vuông vức, buộc lạt đỏ, xếp cao như những khối quà Tết.
Không còn cảnh thức đêm canh bếp lửa, không còn tiếng nước sôi ùng ục dưới sân chung cư. Ít nhà còn nhóm củi luộc bánh. Trẻ con không còn chờ được “ăn miếng bánh đầu tiên” khi vớt khỏi nồi. Người lớn dè dặt với nếp, với mỡ.
Bánh chưng vẫn có. Chỉ là không còn mùi khói bếp quyện vào áo quần, không còn hơi ấm lan trong gian nhà chật. Đôi khi trên bàn thờ, hai chiếc bánh nằm lặng lẽ giữa hoa quả ngoại nhập và hộp quà bóng loáng.
Nhìn chúng, tôi luôn nhớ những tàu lá dong ướt mưa trên chiếc xe cam nhông quân sự năm nào.

Có những thứ đủ đầy hơn. Và cũng có những thứ, lặng lẽ vơi đi.

Bây giờ bước sang tuổi xế chiều. Bánh chưng đã có thể vắng trên mâm. Nhưng ký ức thì vẫn còn xanh như lá dong trên xe tải nhà binh năm xưa. Và đâu đó, vẫn còn hương vị của miếng giò của tuổi trẻ dại khờ.

1772151612017.png
 
Chỉnh sửa cuối:

Bingboong

Xe tải
Biển số
OF-52100
Ngày cấp bằng
4/12/09
Số km
487
Động cơ
462,025 Mã lực
Cụ dùng nhiều từ chuyên ngành quá, chứ em hồi đó chỉ biết đến Thần sấm, Con ma, tên lửa Rắn chuông :D
Mà B-52 hồi đó có ném bom miền Bắc đâu cụ?
Tuổi thiếu niên của tôi bắt đầu bằng tiếng ù ù như cối xay lúa của những tốp F-105 Thunderchief và F-4 Phantom II trên nền trời xám đục.
Buổi trưa, tên lửa Sidewinder rít qua đầu.
Chiều xuống, vệt lửa da cam của SA-2 lóe lên cùng ánh mặt trời.
Đêm đến, mặt đất rung chuyển bởi bom B-52 ở cự ly gần.
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
Cụ dùng nhiều từ chuyên ngành quá, chứ em hồi đó chỉ biết đến Thần sấm, Con ma, tên lửa Rắn chuông :D
Mà B-52 hồi đó có ném bom miền Bắc đâu cụ?
Chiến dịch Hà Nội 12 ngày đêm, vào tháng 12 năm 1972, năm nào cũng được truyền thông nhắc lại và ca ngợi, là B52 đánh bom Hà Nội đấy, bạn à.
 

Bingboong

Xe tải
Biển số
OF-52100
Ngày cấp bằng
4/12/09
Số km
487
Động cơ
462,025 Mã lực
Dạ! Do em cứ ngỡ là năm 72 là bác đi bộ đội dồi ai dè vẫn còn thiếu niên :D
Chiến dịch Hà Nội 12 ngày đêm, vào tháng 12 năm 1972, năm nào cũng được truyền thông nhắc lại và ca ngợi, là B52 đánh bom Hà Nội đấy, bạn à.
Em cũng qua thăm nhiều tháp Chăm mà không nhớ có tháp nào ngay kế đường QL như trong hình của bác?
 

thunder

Xe tải
Biển số
OF-494
Ngày cấp bằng
27/6/06
Số km
312
Động cơ
583,738 Mã lực
GIÁ NHƯ ĐÓ CHỈ LÀ NƯỚC MƯA

Tuổi thiếu niên của tôi bắt đầu bằng tiếng ù ù như cối xay lúa của những tốp F-105 Thunderchief và F-4 Phantom II trên nền trời xám đục. Buổi trưa, tên lửa Sidewinder rít qua đầu. Chiều xuống, vệt lửa da cam của SA-2 lóe lên cùng ánh mặt trời.
Và có những đêm, mặt đất rung chuyển bởi bom B-52 ở cự ly gần.

Tết đến, tôi xếp hàng mua vài lạng gạo nếp, được trừ vào tiêu chuẩn trong sổ gạo hàng tháng, trong khi tay còn xách mấy chai dầu hỏa mua theo phiếu chất đốt.
Ngày Tết thường không có bánh chưng, chỉ là đĩa xôi đậu xanh được nấu từ gạo nếp mua ở cửa hàng lương thực. Đĩa xôi nếp mậu dịch, không có ‘Mai Châu mùi em thơm nếp xôi’ như trong thơ “Tây Tiến”, nhưng được ăn kèm với vài miếng thịt kho tầu, thế cũng đã là đặc biệt so với thường ngày.

Bánh chưng thường chỉ thấy trong các bức tranh Đông Hồ.

Chớm bước vào tuổi xuân, tôi nhập ngũ và trở thành học viên sỹ quan.
Mùa xuân đến là nhớ về những chuyến tầu Tết, những chuyến tầu đông khủng khiếp. Nhưng chúng tôi – tuy là lính – lại là lính đi học, nên vẫn nghịch như ma quỷ, mặc kệ tàu đông.

Mỗi lần tàu đỗ ở ga gần trường, bọn lính học viên chúng tôi bám tay vào cửa sổ, đánh đu mấy vòng kiểu “đánh xà đơn” với đôi giày Cô-xa-gưn, làm dân tình phát khiếp mà dạt ra. Thế là mấy thằng lính đi học nghiễm nhiên có chỗ ngồi trên mép cửa sổ toa tàu.
Ngồi vắt vẻo như thế, hai cẳng chân dận Cô-xa-gưn đung đưa ngoài cửa sổ, theo nhịp lắc lư của con tàu. Gió mùa xuân ùa qua mặt, như đua cùng con tàu lao đi vun vút giữa những cánh đồng rau cải xanh mướt đang đón chờ phiên chợ cuối năm.
Nhưng nếu chỉ có thế, thì cũng chẳng có gì để nhớ.

Mấu chốt là ở chỗ… đói.
Tàu chạy đến ga Thạch Lỗi thì có mấy cô bé bán bánh dầy – giò rao hàng. Thuở ấy, bánh dầy chắc cũng to như bây giờ. Tôi đoán vậy, vì thời bao cấp, chưa từng được cắn một miếng bánh dầy cho ra hồn.
Nhưng cái giò thì nhớ.

Cây giò to bằng cổ tay trẻ con, dài độ hai gang tay, bọc trong lá chuối xanh, đặt hờ hững mà đầy mời gọi trên miệng rổ. Cái rổ được các cô đội trên đầu. Với khách thập phương thì kín đáo. Nhưng với mấy cặp mắt háu đói của lũ học viên sĩ quan ngồi vắt vẻo cửa sổ, thì lại lộ thiên đến nao lòng.

Lý luận duy vật biện chứng không cần giảng giải. Thằng Cương “cốm” chỉ bằng một động tác thần sầu, nhanh như con khỉ ở đảo Rều – loại khỉ mà lính Vùng 1 Hải quân ai cũng thuộc tính nết, cây giò xanh mướt kia đã biến mất, chui tọt vào trong cổ áo đại cán gắn quân hàm đỏ của nó.

Không ai biết. Cô bán bánh không biết. Quần chúng không biết. “Trên” lại càng không biết. Chỉ có lũ học viên âm thầm hớn hở với nhau.

Tàu rời ga Thạch Lỗi. Mãi đến gần ga Đông Anh, Cương “cốm” mới yên tâm rút chiến lợi phẩm ra.
Nó tuyên bố:

– Mỗi thằng một miếng thôi nhé.
Và nó là thằng ngoạm đầu tiên.

Cây giò chuyền tay qua mấy vòng đến lượt tôi thì chỉ còn một mẩu nham nhở, đầy vết răng tứ phía, nhỏ bằng đốt ngón chân cái.
Tôi phải cắn ngay.
Nếu chậm một giây, gió tàu đang lao 40 km một giờ có thể cuốn bay mất.

Ái chà. Ngọt. Thơm. Bùi. Béo. Đậm đà.
Hơn nửa thế kỷ rồi, hương vị của mẩu giò ấy vẫn chưa phai.
Cây giò ấy đi theo trí nhớ tôi qua nhiều mùa xuân, kèm theo cả một nỗi ngượng ngùng của tuổi trẻ dại khờ.

Rồi một mùa xuân khác đến – mùa xuân tôi rời ghế học viên, chính thức về đơn vị.
Mùa xuân đầu tiên sau khi tốt nghiệp cũng đúng dịp Tết. Là sỹ quan mới về Đoàn X Hải quân, tôi chắc mẩm mình sẽ trực. Nghĩ đến thêm một cái Tết xa nhà, bụng chùng xuống.
Vậy mà thời gian chạy vèo một cái. Ngoảnh đi đã 28 Tết.

Chiều ấy, tôi đang kiểm tra sẵn sàng chiến đấu ở khu B thì cậu cảnh vệ hộc tốc chạy tới:
– Thủ trưởng V gọi anh lên ngay!
Tôi lên Ban chỉ huy. Thủ trưởng V đang ăn cơm, nói luôn:
– Ngày mai đi với tôi về Hà Nội chúc Tết các thủ trưởng Bộ. Xong việc, cho cậu ở nhà năm ngày. Thưởng phép trước. Sang năm giao việc quan trọng.

Nghe đến “ở nhà năm ngày” là đủ. Còn nhiệm vụ năm tới ra sao, lúc ấy tôi chưa cần nghĩ.
Tôi phi xuống ban Hậu cần. Tay Trưởng ban quy tiêu chuẩn năm ngày Tết của tôi ra thịt lợn, khoảng bảy lạng.
Ôm tảng thịt ra khỏi kho quân nhu, tôi chợt nhớ: phải có cành đào.

Đơn vị đóng quân giữa vùng đào nổi tiếng của Vùng 1 Hải quân. Tôi gọi cậu Ràng liên lạc đi cùng. Trời tối mịt, mưa bụi giăng như rây bột.
Ràng hiến kế:
– Anh chiếu đèn pha xuống, anh chỉ cành nào, em chặt cành đó.
Dưới ánh đèn, rừng đào mờ ảo. Tôi chẳng phân biệt nổi hoa ở đâu trong đám lá cành. Đành chọn đại cành nào nhiều lá nhất.
Nửa đêm mới xong.

Mọi chuyện đều ổn cho đến khi tôi về tới nhà.
Thằng cu nhà tôi bập bẹ reo lên:
– A, ba mang cành ngụy trang về nhà.
Thì bởi cành toàn lá, lấy đâu ra hoa. Còn bà vợ thì bồi hồi:
– Tưởng không được về, nhà chỉ có ít thịt, nên chỉ gói bánh với ít đỗ xanh. Bây giờ nhà ta sẽ kho thịt, để ăn kèm với bánh chưng đỗ.

Bây giờ, mỗi khi đến với các phiên chợ vùng xa, tôi vẫn mua một cái bánh chưng chay của chợ quê, để nhớ về những cái Tết lính, thời chiến tranh biên giới xa xôi.

Thời tôi ra chỉ huy đơn vị, là vào những năm chiến tranh biên giới còn đỏ lửa – phía Tây Nam rồi đến phía Bắc biên ải. Hai cuộc chiến dài hơn mười năm, gần như bao trùm hết lên tuổi thanh niên của chúng tôi.

Mỗi khi Tết đến, tôi như còn nhìn thấy những chiếc xe cam nhông quân sự chở đầy lá dong.
Xe cam nhông quân sự, đỗ ở mạn Cầu Giấy, thường có biển số thuộc quân đoàn 26, có mật danh là Binh đoàn Pác Bó. Còn xe đỗ ở mạn Bưởi, thường có biển số thuộc quân đoàn 14, có mật danh là Binh đoàn Chi Lăng.

Thời chiến tranh biên giới, công tác đảm bảo hậu cần rất khó khăn, nên Bộ đã cho phép các đơn vị có thể được ‘lui cung’. Tức là đơn vị đóng ở Hà Giang, có thể cho xe về tận Hà Nội để mua rau, mua thịt cho bộ đội theo tiêu chuẩn.
Dịp Tết, để có thêm kinh phí bổ sung vào tiêu chuẩn ăn Tết cho bộ đội, nhiều đơn vị đã có sáng kiến là ‘vận tải hai chiều’. Tức là từ tiền phương mặt trận, khi về hậu phương Hà Nội, sẽ kết hợp chở theo lá dong rừng, do bộ đội khai thác, để bán cho đồng bào thủ đô mua về gói bánh chưng. Đồng bào sẽ mua được rẻ. Còn bộ đội thì có thêm chút tiền còm, để mua thêm chút rau cải xanh, cho bữa cơm Tết lính.

Ngày 30 Tết, tôi như còn thấy mấy nữ chiến sĩ đội mũ cối, cổ quấn khăn mặt bông màu xanh, khoác trên mình chiếc áo bông quân trang nam to xù, bốc những tàu lá dong không bán được lên xe cam nhông quân sự.

Trong làn mưa bụi mùa xuân, chiếc xe cam nhông còn chứa đến hai phần ba số lá dong ế. Xe khuất dần trên đường 32, từ Cầu Giấy hướng về phà Trung Hà, trở lại tiền phương mặt trận Quân khu 2. Trên thùng xe, mấy nữ chiến sĩ ngồi nép vào nhau cho đỡ lạnh. Tay các em khẽ vuốt lại mép lá cho phẳng.
Gió lùa hun hút.
Mắt các em nhòa nước.
Giá như đó chỉ là nước mưa!!!

Những tàu lá xanh ấy sẽ theo xe trở lại rừng. Mùa xuân đi cùng người lính, nhưng bánh chưng thì chưa chắc.

Rồi chiến tranh lùi dần. Bao cấp cũng dần xa.
Chúng tôi bước vào tuổi trung niên lúc nào không hay.

Phố xá bắt đầu sáng đèn. Hàng quán bày bánh chưng vuông vức, buộc lạt đỏ, xếp cao như những khối quà Tết.
Không còn cảnh thức đêm canh bếp lửa, không còn tiếng nước sôi ùng ục dưới sân chung cư. Ít nhà còn nhóm củi luộc bánh. Trẻ con không còn chờ được “ăn miếng bánh đầu tiên” khi vớt khỏi nồi. Người lớn dè dặt với nếp, với mỡ.
Bánh chưng vẫn có. Chỉ là không còn mùi khói bếp quyện vào áo quần, không còn hơi ấm lan trong gian nhà chật. Đôi khi trên bàn thờ, hai chiếc bánh nằm lặng lẽ giữa hoa quả ngoại nhập và hộp quà bóng loáng.
Nhìn chúng, tôi luôn nhớ những tàu lá dong ướt mưa trên chiếc xe cam nhông quân sự năm nào.

Có những thứ đủ đầy hơn. Và cũng có những thứ, lặng lẽ vơi đi.

Bây giờ bước sang tuổi xế chiều. Bánh chưng đã có thể vắng trên mâm. Nhưng ký ức thì vẫn còn xanh như lá dong trên xe tải nhà binh năm xưa. Và đâu đó, vẫn còn hương vị của miếng giò của tuổi trẻ dại khờ.

View attachment 9503158
Quả ảnh minh hoạ AI vẽ khiếp quá.
Chúc cụ một năm khoẻ mạnh, bình an.
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
Dạ! Do em cứ ngỡ là năm 72 là bác đi bộ đội dồi ai dè vẫn còn thiếu niên :D

Em cũng qua thăm nhiều tháp Chăm mà không nhớ có tháp nào ngay kế đường QL như trong hình của bác?
Tôi nhập ngũ tháng 09 năm 1974.
Còn chiếc Tháp Chăm là gần Phan Thiết, bạn à.
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
Quả ảnh minh hoạ AI vẽ khiếp quá.
Chúc cụ một năm khoẻ mạnh, bình an.
Tôi không thể nào tìm ra ảnh cũ, đành phải dùng AI vẽ minh họa. Cũng là 'cùng bất đắc dĩ', bạn à >:D<
 

Bingboong

Xe tải
Biển số
OF-52100
Ngày cấp bằng
4/12/09
Số km
487
Động cơ
462,025 Mã lực
Tấm này tuyệt thật, khá chính xác! Chiếc áo bông bộ đội cũng khá sát thực tế ấy.
Thêm được hình ảnh mấy khẩu AK với CKC hờ hững treo đâu đó sẽ sốc hàng hơn nữa :D
View attachment 9503969
Con Ai em hỏi một câu hãy tạo hình ảnh mô tả các cô bộ đội theo câu chuyện trên. Kết quả thật hơn
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
View attachment 9503969
Con Ai em hỏi một câu hãy tạo hình ảnh mô tả các cô bộ đội theo câu chuyện trên. Kết quả thật hơn
Con này tốt hơn con AI của tôi. Gía như 2 cô bộ đội ở tiền cảnh, lùi vào trong xe, mũ thêm ngôi sao, và thùng xe bỏ bạt che ra, thì tốt quá. Bạn ơi.
Bạn thử thêm giúp với. Rất mong bạn thành công.
Cảm ơn bạn nhé. ~o) ~o) ~o)
 
Chỉnh sửa cuối:

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
View attachment 9503969
Con Ai em hỏi một câu hãy tạo hình ảnh mô tả các cô bộ đội theo câu chuyện trên. Kết quả thật hơn
Con AI của bạn 4banhxequay có học bổng cao, nên thông minh và vẽ tốt quá.

Con AI của tôi, học trường làng, đào tạo mãi mà cũng chỉ vẽ được như thế này. Kém quá.

Mong bạn ra lệnh cho con AI bên đấy, sửa cho 2 cô bộ đội ở tiền cảnh, lùi vào trong xe, mũ thêm ngôi sao, và thùng xe bỏ bạt che ra, thì tốt quá. Bạn ơi.
h4.jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,844
Động cơ
1,234,964 Mã lực
Em vẫn nhớ có một liệt sỹ hải quân hy sinh khi đánh tàu Maddox là cựu học sinh Việt Đức, hình như tên là Đặng đình Lống, ngày em còn đi học vẫn còn nhớ chỗ ngồi của anh ấy, không biết nhà trường còn có nhắc tên anh ấy không?
Đặng Đình Lống hy sinh ở Thanh Hoá ngày 5/8/1964, không phải trận đánh Maddox
Trận đánh Maddox xảy ra trước đó ba ngày ở Thanh Hoá. Tầu 339 của Thiếu uý Nguyễn Văn Giản có mấy chiến sĩ hy sinh trên tàu. (Hai tàu 333, 336 không có tử sĩ)
Đêm khuya tàu ông Giản (sau khi chữa được máy) mới mò về được Hòn Mê trước sự ngỡ ngàng của ta, vì tưởng tàu ông dxd bị chìm trước đó nửa ngàyxảy ra trước đó ba ngày ở Thanh Hoá. Tầu 3339 của ông Nguyễn Văn Giản có mấy chiến sĩ hy sinh trên tàu (hình như 5 người). Đêm khuya tàu ông Giản (sau khi chữa được máy) mới mò về được Hòn Mê trước sự ngỡ ngàng của ta, vì tưởng tàu ông dxd bị chìm trước đó nửa ngày
Sự kiện Vinh Bắc Bộ (39).jpg

Tàu Hải quân Việt Nam ở Cửa Lục (Bãi Cháy) đánh tra máy bay Mỹ chiều 5/8/1964
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,844
Động cơ
1,234,964 Mã lực
Cụ Baoleo ơi
Khoảng 2000, khi còn ở Moscow em có đọc một bài của một người từng là chỉ huy nhóm tàu biệt kích Nam Việt Nam tấn công đảo Hòn Mê đêm 31/7/1964. Cuộc tấn công bắt cóc ngư dân không thành, sáng hôm sau trở về qua phía dưới Quảng Bình, tàu của toán ông ta gặp Maddox. Hai bên biết nhau nhưng cả hai không cùng một nhiệm vụ
Ông ta có viết một bài dài về Sự kiện 5/8/1964, đại ý như cụ viết, đồng thời ông cũng kể chuyện vụ ba tàu T-333, T-336, T-339 bị Mỹ bắt ở Vịnh Lan Hạ (Hạ Long) chứ không phải Đồ Sơn như cụ viết
Năm 2022, em có gặp Cựu Thiếu uý Nguyễn Văn Giản tại nhà riêng, người hùng Sự kiện 2/8, dân làng gọi là "anh hùng hụt" vì cụ Giản cũng bị Mỹ bắt trong vụ này
Nguyen Van Gian (1).JPG

Đây là bức hình em chụp cụ Giản 2002, sau khi cụ kể lại cho em về Sự kiện 5/8 và Sự kiện cụ bị bắt và được thả ra
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,844
Động cơ
1,234,964 Mã lực
Về vụ 2/8/1964
USS Maddox là tuần dương hạm nên pháo chỉ tới 127 mm (5"). Tàu này sẽ đi dọc bờ biển Bắc Việt Nam để đánh dấu các vị trí radar của ta và "kiểm thính", tức là nghe lén các cuộc trao đổi của phía ta. Trên tàu có thông dịch viên để dịch từ tiếng việt sang tiếng Anh.
Chiều 1/8, Maddox nhận được bức điện của Hải quân Việt Nam nọi dung là "cho tàu ra đuổi tàu địch ở đang toạ độ x... y...". Maddox nhận ra ngay mình sẽ là mục tiêu của Hải quân Bắc Việt Nam. Nên ngay lập tức cảnh giác cho tàu lùi ra khỏi hải phận ta 8 hải lý. Người Mỹ coi hải phận thiên ha chỉ 8 hải lý trong khi nhiều nước trong đó có Việt Nam cọi hãi phận 12 hải lý
Ba chiếc T-333, T-336, T-339 chuẩn bị nạp dầu, gắn lôi, 2 thùng khói, đạn 12,7 mm (không phải 14,5 mm như một số người nói)
Tiện đây cũng xin nói 3 chiếc tàu phóng lôi nói trên nên gọi là thuyền (boat) chứ không nên gọi là tàu (ship). trong bài em quen San Francisco "tàu" mong các cụ thông cảm
Loại "tàu phóng lôi" trên không thuộc loại tàu phóng lôi như ta hiểu ngày nay. Ba chiếc tàu này thường đi quanh để bảo vệ tàu mẹ, chứ không phải đi tấn công. Nói hoạt động quanh tàu mẹ chừng 20 km, uống dầu như nước lã , ngư lôi mang theo là loại cũ, chạy chậm. Do vậy từ căn cứ Vạn Hoa (nay ở phía bắc đảo Cái Bàu (gần Tiên Yên, Móng Cái) đến Hòn Mê (Thanh Hoá) hơn 300 km phải đi xuyên đêm. Có người nói được kéo đến Hòn Mê, có người nói phải tiếp dầu hai ba chặng
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
Cụ Baoleo ơi
Khoảng 2000, khi còn ở Moscow em có đọc một bài của một người từng là chỉ huy nhóm tàu biệt kích Nam Việt Nam tấn công đảo Hòn Mê đêm 31/7/1964. Cuộc tấn công bắt cóc ngư dân không thành, sáng hôm sau trở về qua phía dưới Quảng Bình, tàu của toán ông ta gặp Maddox. Hai bên biết nhau nhưng cả hai không cùng một nhiệm vụ
Ông ta có viết một bài dài về Sự kiện 5/8/1964, đại ý như cụ viết, đồng thời ông cũng kể chuyện vụ ba tàu T-333, T-336, T-339 bị Mỹ bắt ở Vịnh Lan Hạ (Hạ Long) chứ không phải Đồ Sơn như cụ viết
Năm 2022, em có gặp Cựu Thiếu uý Nguyễn Văn Giản tại nhà riêng, người hùng Sự kiện 2/8, dân làng gọi là "anh hùng hụt" vì cụ Giản cũng bị Mỹ bắt trong vụ này
Nguyen Van Gian (1).JPG

Đây là bức hình em chụp cụ Giản 2002, sau khi cụ kể lại cho em về Sự kiện 5/8 và Sự kiện cụ bị bắt và được thả ra
Lịch sử của của Lữ 172 ghi rõ thế này, cụ Ngao5 à:
“Quán triệt sự lãnh đạo của Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh, cuối tháng 6 năm 1966 Trung đoàn 172 triển khai xây dựng và luyện tập phương án tác chiến đánh địch gần bờ. Các phân đội tàu phóng lôi tăng cường việc tập luyện. Riêng Phân đội 3 do đồng chí Đại úy Trần Bảo - Phân đội trưởng kiêm Thuyền trưởng chỉ huy, gồm các tàu T333, T336, T339 được lệnh lắp lôi, trực sẵn sàng chiến đấu tại khu đợi cơ Cát Bà.

Bốn giờ sáng ngày 1 tháng 7 năm 1966, phát hiện 4 tàu khu trục của địch đang tiến vào hoạt động ở đông đảo Long Châu 40 hải lý; theo lệnh của Quân chủng, Sở chỉ huy Trung đoàn lệnh cho Phân đội 3 vào tư thế sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu. Đúng 12 giờ ngày 1 tháng 7 năm 1966, Phân đội 3 được lệnh xuất kích đánh tàu địch ở phía đông Thượng Hạ Mai. Theo đội hình chiến đấu, Phân đội vận động ra Thượng Hạ Mai. Không phát hiện thấy tàu địch, Phân đội tiến về hướng Nam săn tìm mục tiêu Tàu chạy được 30 phút thì nhiều máy bay địch xuất hiện lao tới công kích. Phân đội vừa đánh trả vừa tiếp tục cơ động đội hình theo hướng Nam. Khoảng 30 phút sau, ta phát hiện 4 tàu khu trục của địch. Lập tức toàn Phân đội chuyển sang đội hình tiến công, tăng tốc tiếp cận chiếc tàu gần nhất. Lúc này máy bay địch dồn dập đánh phá vào đội hình của Phân đội và các pháo lớn trên tàu địch cũng phát hỏa bắn mạnh vào các tàu của ta. Phân đội 3 kiên quyết bám sát mục tiêu giữ vững đội hình truy kích, tàu T339 lao vào phóng khói mù song bị máy bay đánh hỏng máy chính, mất cơ động. Hai tàu T333, T336 tăng tốc, vận động tiếp cận tàu địch để phóng ngư lôi. Hàng chục máy bay địch quây lấy đánh cấp tập, các tàu của ta bị thương, sức cơ động đánh trả yếu dần. Trong tình thế đánh tàu địch ở khá xa bờ, ta không giành được thế chủ động, không có lực lượng chi viện, đơn độc, bị hàng chục máy bay, tàu chiến bao vây công kích, các tàu T333, T336, T339 với hoả lực hạn chế, lần lượt bị đánh chìm; 13 cán bộ, chiến sĩ anh dũng hy sinh cùng với con tàu, 19 người bị địch bắt, đưa vào Đà Nẵng (số cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt sau này địch trao trả cho ta thông qua trao đối tù binh) .

Đây là trận lực lượng tàu đột kích của Hải quân ta bị tổn thất lớn cả về phương tiện và con người. Nó tác động không tốt đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn. Nhiều cán bộ, chiến sĩ hoang mang, mất lòng tin vào khả năng đánh tàu lớn địch, lo sợ trước ưu thế về kỹ thuật, phương tiện và hỏa lực của địch; giảm sút tinh thần ý chí chiến đấu, xây dựng đơn vị và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.”
......"Kết thúc trận đánh, HQNDVN thiệt hại nặng với cả 3 tàu phóng lôi bị bắn chìm, 13 thủy thủ hy sinh và 19 thủy thủ (trong đó có 6 người bị thương) bị bắt. Thất bại này đã có tác động xấu đến tinh thần cán bộ chiến sĩ, nhiều người "hoang mang, mất lòng tin vào khả năng đánh tàu lớn địch, lo sợ trước ưu thế về kỹ thuật, phương tiện và hỏa lực của địch; giảm sút tinh thần ý chí chiến đấu" và phải mất 2 tháng mới ổn định trở lại."

Còn Tư liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ' ghi thế này:

Rạng sáng ngày 1-7-1966, biên đội 4 chiến hạm của Hạm đội 7 Mỹ gồm khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường USS Coontz (DLG-9) và USS King (DLG-10) thuộc lớp Farragut, USS Rogers (DD-876) và USS Gurke (DD-783) lớp Gearing tiến vào vùng biển phía đông đảo Long Châu (Hải Phòng) 40 hải lý để làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn phi công bị bắn rơi.



Phát hiện hoạt động này, lúc 4h sáng 1-7-1966, BTL HQNDVN đã ra lệnh cho Phân đội 3, Trung đoàn 172 gồm 3 tàu phóng lôi kiểu 123K mang số hiệu T-333, T-336, T-339 (đây chính là phân đội từng tấn công khu trục hạm USS Maddox ngày 2-8-1964) trực chiến ở Cát Bà xuất kích. Trong quá trình tiếp cận, tàu phóng lôi bị 1 tốp F-4B bay tuần phóng phát hiện và tấn công bằng tên lửa không đối không. Biên đội khu trục hạm Mỹ được báo động vào tư thế sẵn sàng, đồng thời tàu sân bay USS Hancock và USS Constellation xuất kích nhiều tốp F-4B, A-4 và A-6 cùng tấn công. Cả 3 tàu phóng lôi VN đều bị đánh hỏng khi còn cách tàu chiến Mỹ khoảng 10 hải lý (1 tàu bị trúng bom 500 pound từ tốp 2 chiếc A-6 Intruder trên USS Constellation, 2 tàu bị trúng rocket từ tốp 4 chiếc A-4 Skyhawk trên USS Constellation) và lần lượt chìm. Ngư lôi đã được bắn đi nhưng do cự ly quá xa nên không có tác dụng gì.



USS Coontz sau đó tiếp cận tàu phóng lôi cuối cùng còn nổi định kéo về nhưng theo 1 thủy thủ Mỹ trên USS Coontz thì các thủy thủ VN đã tự làm chìm tàu và nhảy xuống biển. USS Coontz và USS King sau đó thả xuồng máy vớt các thủy thủ VN. Các nhân chứng Mỹ cho biết nhiều thủy thủ VN đã tìm cách để không bị bắt giữ và lính Mỹ phải dùng câu liêm để khống chế: họ mặc áo phao bơi tản ra nhiều hướng, có người dùng dao chống cự, có người làm động tác giả ném lựu đạn khi bị tiếp cận... Người cuối cùng được mô tả là đã cố gắng bơi lòng vòng để tránh xuồng và thủy thủ Mỹ bơi tiếp cận trong 5-10 phút. Hạm trưởng của USS King chứng kiến cảnh này đã mất kiên nhẫn đến mức sau khi dùng súng trường bắn 3 phát sượt qua đầu người thủy thủ này vài mét mà không uy hiếp được, ông ta dọa sẽ bắn tiếp qua đầu viên sĩ quan Mỹ chỉ huy xuồng máy nếu không hoàn thành nhiệm vụ. Sau cùng, lính Mỹ cho xuồng húc thẳng vào người thủy thủ này để buộc anh ta phải bỏ dao và sau đó khống chế bắt giữ.
 

Baoleo

Xe điện
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
2,011
Động cơ
390,785 Mã lực
Về vụ 2/8/1964
USS Maddox là tuần dương hạm nên pháo chỉ tới 127 mm (5"). Tàu này sẽ đi dọc bờ biển Bắc Việt Nam để đánh dấu các vị trí radar của ta và "kiểm thính", tức là nghe lén các cuộc trao đổi của phía ta. Trên tàu có thông dịch viên để dịch từ tiếng việt sang tiếng Anh.
Chiều 1/8, Maddox nhận được bức điện của Hải quân Việt Nam nọi dung là "cho tàu ra đuổi tàu địch ở đang toạ độ x... y...". Maddox nhận ra ngay mình sẽ là mục tiêu của Hải quân Bắc Việt Nam. Nên ngay lập tức cảnh giác cho tàu lùi ra khỏi hải phận ta 8 hải lý. Người Mỹ coi hải phận thiên ha chỉ 8 hải lý trong khi nhiều nước trong đó có Việt Nam cọi hãi phận 12 hải lý
Ba chiếc T-333, T-336, T-339 chuẩn bị nạp dầu, gắn lôi, 2 thùng khói, đạn 12,7 mm (không phải 14,5 mm như một số người nói)
Tiện đây cũng xin nói 3 chiếc tàu phóng lôi nói trên nên gọi là thuyền (boat) chứ không nên gọi là tàu (ship). trong bài em quen San Francisco "tàu" mong các cụ thông cảm
Loại "tàu phóng lôi" trên không thuộc loại tàu phóng lôi như ta hiểu ngày nay. Ba chiếc tàu này thường đi quanh để bảo vệ tàu mẹ, chứ không phải đi tấn công. Nói hoạt động quanh tàu mẹ chừng 20 km, uống dầu như nước lã , ngư lôi mang theo là loại cũ, chạy chậm. Do vậy từ căn cứ Vạn Hoa (nay ở phía bắc đảo Cái Bàu (gần Tiên Yên, Móng Cái) đến Hòn Mê (Thanh Hoá) hơn 300 km phải đi xuyên đêm. Có người nói được kéo đến Hòn Mê, có người nói phải tiếp dầu hai ba chặng
Trận 02/08/1964, Lịch sử Lữ 172 ghi thế này, cụ Ngao5 à:
“Rạng sáng ngày 1-8, tàu Ma-đốc xâm phạm vùng biển Quảng Bình, sau đó tiến lên phía bắc điều tra mạng lưới phòng thủ bờ biển của ta ở đèo Ngang, Hòn Mát, Hòn Mê, Lạch Trường... Các hoạt động của tàu Ma-đốc đều bị ta theo dõi chặt chẽ. Theo mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 135 tiến hành lắp ngư lôi cho phân đội 3 và bảo đảm mọi mặt để đưa toàn phân đội vào chiến đấu. Phân đội 3 gồm ba tàu phóng lôi số 333, 336 và 339, do đại úy Lê Duy Khoái, đoàn trưởng đoàn 135 trực tiếp chỉ huy, đồng chí trung úy Nguyễn Xuân Bột là phân đội trưởng, đồng chí Mai Bá Xây là chính trị viên, lúc đó đang ở Vạn Hoa (Quảng Ninh).

0 giờ 15 phút ngày 2-8, phân đội được lệnh hành quân vào Hòn Nẹ (Thanh Hóa).

Trên khu vực biển Hòn Nẹ, biên đội tàu tuần tiễu gồm hai chiếc mang số hiệu 140 và 146 đang làm nhiệm vụ. Cả 5 tàu cùng thả neo ở tây bắc đảo, sẵn sàng chờ lệnh vào chiến đấu.

13 giờ ngày 2-8, cả 3 chiếc tàu phóng lôi của ta lại được lệnh cơ động về khu vực hòn Mê chờ địch. Thế nhưng lúc này tàu Ma-đốc của địch đã ở đông hòn Nẹ, cách các tàu phóng lôi của ta gần 14 hải lý.

13 giờ 50 ngày 2-8, Từ Hòn Mê, Thanh Hóa, phân đội 3 xuất kích,

14 giờ 52, phân đội phát hiện tàu Maddox ở phía đông nam Hòn Nẹ, Thanh Hóa. Thấy tàu Hải quân Việt Nam xuất hiện, Maddox bắn dồn dập.

15 giờ 26, tàu 339 tiếp cận mạn phải Maddox ở cự ly 6 liên (khoảng 1 km), phóng ngư lôi và rời khu vực tác chiến song ngay sau đó bị máy bay Mỹ bắn trúng máy trái, tàu ngừng hoạt động.

Một phút sau, đến lượt tàu 336 tiếp cận Maddox và phóng lôi. Tàu địch thả bom chìm chặn lôi và máy bay phóng tên lửa làm thuyền trưởng Nguyễn Văn Tự hy sinh trên đài chỉ huy, chiến sĩ Nguyễn Văn Hường tiếp tục lái tàu và cùng tàu 339 đánh trả máy bay Mỹ bằng súng máy 14,5mm.

15giờ 28, tàu 333 tiếp tục phóng ngư lôi và bị tàu địch chặn lôi bằng bom chìm. Không còn vũ khí mạnh, các tàu phóng lôi của ta tiếp cận tàu địch khiến pháo lớn của tàu địch mất tác dụng và dùng súng máy 14,5mm quét mặt boong khiến cho lính Mỹ chạy trốn tán loạn, các loại hỏa lực mặt boong câm bặt.

Lúc 17giờ, Cuộc chiến kết thúc , ta đã đánh đuổi được tàu Maddox, bắn rơi một máy bay, bắn cháy một chiếc khác, về phía ta, bốn đồng chí hy sinh, sáu người bị thương, hai tàu 336 và 339 hư hỏng.”
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
60,844
Động cơ
1,234,964 Mã lực
Cụ Baoleo ơi
Trong 5 chiếc tham gia, thì hai chiếc tuần tiễu số 140, 142 do ông Khoái cầm đầu, tạm coi là soái hạm, tàu ông Khoái có máy liên lạc với bờ
Ba chiếc T-333, T-336, T-339 không có máy liên lạc với bờ, mà chỉ liên lạc nội bộ 3 tàu với nhau ở khoảng cách ngắn. Họ chịu sự chỉ huy và chỉ tàu ông Bột T-333 là có máy liên lạc với tàu ông Khoái
5 chiếc tàu này quan sát Maddox từ xa. Maddox lúc này đã cách bờ biển Việt Nam 14 hải lý vì đã đề phòng bị tấn công sau khi giải mã công điện của Hải quânViệt Nam
Ông Khoái nhận được lệnh cho biên đội ba chiếc T-333, T-336, T-339 xông ra tấn công,nhưng bản thân soái hạm của ông Khoái vì lý do gì đó chậm trễ (không xuất phát?) nên khoảng cách ba chiếc T-333, T-336, T-339 xa dần,
Người ra lệnh tấn công là Tướng Trần Quý Hai. trực chiến Bộ Tổng Tham mưu
Sau đó một lúc, có lệnh cũng từ Bộ Tổng tham mưu bảo ông Khoái dừng tấn công
Không rõ tại sao ông Trần Quý Hai thay đổi mệnh lệnh này
Ông Khoái không thể liên lạc với cụm ba chiếc T-333, T-336, T-339 vì khoảng cách khá xa
Em có hỏi ông Giản chuyện này. Ông Giản nói phương tiện truyền tin hồi đó cũng chỉ có thế. Không nhận được lệnh dừng tấn công. Không liên lạc được với ông Khoái mà tự ý "dừng trận đấu" thì bị kỷ luật nặng, vì thế cứ phải xông vào
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top