[Funland] Đề thi chuyên văn của các cháu

radiogaga

Xe điện
Biển số
OF-177394
Ngày cấp bằng
18/1/13
Số km
4,086
Động cơ
399,366 Mã lực
Câu 1:
Riêng chuyện sân si, thì thời nào cũng có, con gà còn tức nhau tiếng gáy, nữa là con người. Nhìn rộng ra thế giới, các nước đều không muốn nước khác phát triển nhanh hơn mình, hoặc tìm mọi cách để kiềm chế nhau, tạo ra các cuộc chiến tranh, hàng triệu người bỏ mạng.
Cho nên việc ae sân si nhau, cũng là bình thường, kệ mẹ chúng nó đi.
Câu 2:
Nếu trả nghiệp là có thật, thì ông già em chắc kiếp trước nghiệp nặng phải biết, thì kiếp này suốt ngày phải đi trả nợ hộ cho em, từ lô đề, bóng bánh, xã hội thâm.
Cái trò kiếp trước, kiếp này nó là trò bốc phét, để răn đe con người của tôn giáo mà thôi, làm gì có thật.
Thế giới này vận hành luôn công bằng, làm 1 thì hưởng 1, làm 10 thì hưởng 10. Còn thằng nào làm 1 mà vẫn được hưởng 10 thì chứng tỏ ông bà già nó có sẵn 9 rồi, 1+9 = 10 chứ chẳng có gì tự nhiên.
=> Em viết nhanh mấy câu, tự chấm 9,5 điểm.
Cháu chấm cụ 6 điểm qua môn thôi, không được 9 :)
 

radiogaga

Xe điện
Biển số
OF-177394
Ngày cấp bằng
18/1/13
Số km
4,086
Động cơ
399,366 Mã lực
Đề Ngữ Văn này hay cụ ợ.
Nó không phải học thuộc lòng mà là đề có sự hiểu biết sâu rộng thì sẽ làm bài hay. Đồng thời đề bài này đòi hỏi người làm bài cần có nền tảng văn hóa, đạo đức, chiều sâu tư duy mới làm tốt được.
Thực sự là hay.
Có người khen có người chê, người lắc đầu ngao ngán
 

lotus23

Xe tải
Biển số
OF-833580
Ngày cấp bằng
10/5/23
Số km
477
Động cơ
510,472 Mã lực
Có người khen có người chê, người lắc đầu ngao ngán
Kể cả những chuyện khác trong xã hội cũng có người có ý kiến này ý kiến khác tùy thuộc vào góc nhìn, hiểu biết, tầm, tầm nhìn... mờ cụ.
Vd như việc trong tổ dân phố hay làng xã cũng thế, việc lớp việc trường, việc kinh doanh đầu tư, việc quốc gia đại sự... cũng vậy.
 

theanh90

Xe điện
Biển số
OF-69327
Ngày cấp bằng
28/7/10
Số km
2,064
Động cơ
464,420 Mã lực
Kể cả những chuyện khác trong xã hội cũng có người có ý kiến này ý kiến khác tùy thuộc vào góc nhìn, hiểu biết, tầm, tầm nhìn... mờ cụ.
Vd như việc trong tổ dân phố hay làng xã cũng thế, việc lớp việc trường, việc kinh doanh đầu tư, việc quốc gia đại sự... cũng vậy.
Góc nhìn nào thì cũng phải có căn cứ, có cơ sở cụ ạ. Không có người lại lợi dụng góc nhìn để bào chữa cho yếu kém trong nhận thức.
 

mr teppi

Xe tăng
Biển số
OF-405002
Ngày cấp bằng
16/2/16
Số km
1,127
Động cơ
250,710 Mã lực
Tuổi
44
Góc nhìn nào thì cũng phải có căn cứ, có cơ sở cụ ạ. Không có người lại lợi dụng góc nhìn để bào chữa cho yếu kém trong nhận thức.
Em chả thấy cái đề này có gì phê phán… cũng chả gắn gì với bất kì tôn giáo nào. Đơn giản chỉ là câu nói được truyền miệng hàng ngày, ở đâu chả nghe thấy. Cụ căn cứ vào đâu để phê phán? Dưới góc nhìn của cụ hay cái nhìn của mọi người?
 

hoaoaihuong

Xe điện
Biển số
OF-313492
Ngày cấp bằng
27/3/14
Số km
2,581
Động cơ
275,507 Mã lực
Đến giờ này, 90% là đề fake, câu like câu view kiểu tiktok, em hỏi từ trang đầu, cụ chủ chưa đưa ra được lớp mấy, chắc mượn trêu các cụ tý. Nói gì thì nói, chả ai ấm ớ ra cái đề kiểu đó cho hs phổ thông, vì nó chả gắn tý gì vào chương trình học hết, để ra đề bậy là có thợ cưa ghế ngay.
Gởi các cụ cái đề tham khảo, nhìn đề suýt ngất, đọc & hiểu được đã là xứng đáng học sinh giỏi văn rồi. :) .
IMG_5451.jpeg

IMG_5452.jpeg

P/s: cụ nhà văn cũng đang bị dư luận này nọ về cái tiểu thuyết đang bàn trên cõi fun này, mong các cụ không bỏ bóng đá người. :P
 
Chỉnh sửa cuối:

QuietmanQ

Xe điện
Biển số
OF-193774
Ngày cấp bằng
13/5/13
Số km
4,076
Động cơ
1,658,012 Mã lực
Em chả thấy cái đề này có gì phê phán… cũng chả gắn gì với bất kì tôn giáo nào. Đơn giản chỉ là câu nói được truyền miệng hàng ngày, ở đâu chả nghe thấy. Cụ căn cứ vào đâu để phê phán? Dưới góc nhìn của cụ hay cái nhìn của mọi người?
Không bàn đến nội dung tư tưởng của đề mà bàn đến cấu trúc của đề cụ ợ.
Câu 12 điểm giống như một thế cờ nịch tử. Nhìn bề ngoài thì người ra đề đang dẫn dắt người giải đi theo một hướng và dễ dẫn đến hậu quả bị tẩu hỏa nhập ma. Còn thực chất lời giải thế nào cho đúng chất văn học và thoát được thế nịch tử thì cũng chưa cụ, mợ nào nghĩ ra.
 
Chỉnh sửa cuối:

QuietmanQ

Xe điện
Biển số
OF-193774
Ngày cấp bằng
13/5/13
Số km
4,076
Động cơ
1,658,012 Mã lực
Mà ơ kìa, sao không nhờ AI nhỉ.
Dưới đây là bài làm của ChatGPT viết theo phong cách thoát "thế nịch tử", các cụ mợ thẩm xem sao nha.
 

QuietmanQ

Xe điện
Biển số
OF-193774
Ngày cấp bằng
13/5/13
Số km
4,076
Động cơ
1,658,012 Mã lực
Con người từ lâu đã không ngừng tìm kiếm lời giải cho nỗi khổ của chính mình. Trước những bất hạnh tưởng như vô cớ, ta luôn khao khát một lời giải thích có trật tự, để tin rằng đau khổ không hoàn toàn phi lý. Từ nhu cầu ấy, thuyết luân hồi và nghiệp báo ra đời, cho rằng những gì con người phải chịu trong hiện tại là hệ quả của hành vi đã gây ra ở những kiếp sống trước. Tuy nhiên, khi đặt thuyết nghiệp báo dưới lăng kính của công lý và nhân văn hiện đại, một câu hỏi không thể né tránh xuất hiện: liệu việc trừng phạt một con người vì những “sai lầm của kiếp trước” – khi họ không còn ký ức, ý thức và thậm chí không còn là cùng một con người – có thể được coi là công lý, hay chỉ là một hình thức bạo lực của định mệnh?
Trước hết, cần xác lập khái niệm công lý. Trong mọi hệ thống đạo đức mang tính nhân bản, công lý không đơn thuần là sự cân bằng cơ học giữa lỗi lầm và hình phạt, mà gắn chặt với trách nhiệm của chủ thể đạo đức. Một con người chỉ thực sự chịu trách nhiệm khi họ có ý thức về hành vi, có khả năng lựa chọn và hiểu được hậu quả từ lựa chọn ấy. Chính ý thức là nền tảng để công lý tồn tại, bởi nếu không có ý thức, hình phạt sẽ mất đi ý nghĩa giáo dục và cải hóa, trở thành nỗi đau trần trụi.
Từ đó, vấn đề nảy sinh: một con người không còn ký ức về hành vi trong “kiếp trước” thì liệu còn đủ điều kiện để gánh chịu trách nhiệm cho hành vi ấy hay không? Khi ký ức bị cắt đứt, mối liên hệ giữa hành vi và chủ thể cũng bị phá vỡ. Người đang chịu đau khổ ở hiện tại không biết mình đã sai ở đâu, không hiểu vì sao mình bị trừng phạt, và cũng không có khả năng sửa chữa lỗi lầm mà mình không hề nhận thức. Trong trường hợp đó, hình phạt không còn là công lý, mà chỉ là nỗi đau không lời giải thích.
Câu hỏi này dẫn tới một vấn đề sâu xa hơn: bản sắc cá nhân qua thời gian. Liệu con người hiện tại có thực sự là “cùng một người” với kẻ đã hành động trong kiếp trước hay không? Triết học từng chỉ ra rằng ký ức chính là sợi dây gắn kết các thời đoạn của cái tôi. Khi ký ức không còn, bản sắc cá nhân cũng không còn tính liên tục. Một con người không nhớ gì về quá khứ xa xôi ấy, xét về mặt đạo đức, đã trở thành một chủ thể khác. Trừng phạt họ vì hành vi của một “cái tôi” đã biến mất chẳng khác nào trừng phạt một người vô can.
Nếu công lý chấp nhận việc ấy, nó sẽ đánh mất nền tảng nhân văn của mình. Không thể gọi là công bằng khi buộc một con người chịu án vì tội lỗi của một kẻ mà họ không còn nhận diện là chính mình. Cũng như không thể coi là chính đáng nếu kết tội một người mất trí nhớ vì hành vi họ không còn khả năng hồi tưởng. Trong trường hợp này, khái niệm nghiệp báo, nếu bị hiểu một cách tuyệt đối, dễ dẫn công lý đến chỗ phi lý.
Không thể phủ nhận rằng trong chiều sâu tư tưởng, thuyết nghiệp báo không nhằm mục đích trừng phạt, mà hướng tới việc khuyến thiện: con người được nhắc nhở rằng mọi hành động đều để lại hệ quả. Tuy nhiên, khi được hiểu theo lối giản lược, nghiệp báo dễ bị biến thành một cơ chế trừng phạt siêu hình, nơi mọi đau khổ đều được giải thích bằng “nghiệp”, bất kể con người có hiểu hay không. Khi ấy, nghiệp không còn là lời cảnh tỉnh đạo đức, mà trở thành bản án vô hình.
Nguy hiểm hơn, cách hiểu này có thể dẫn đến sự vô cảm. Khi chứng kiến nỗi đau của người khác, con người dễ dàng quy kết đó là “quả báo”, từ đó trốn tránh trách nhiệm sẻ chia và cải tạo thực tại. Bất công xã hội, nghèo đói, bệnh tật hay tai ương đều có thể bị biện minh bằng nghiệp quá khứ, khiến công lý xã hội bị tê liệt. Trong trường hợp này, nghiệp báo không còn nâng đỡ đạo đức, mà vô tình hợp thức hóa khổ đau.
Một hình phạt chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó cho phép con người đối thoại với số phận của mình. Nhưng nếu đau khổ bị gán cho những hành vi trong một kiếp sống không thể kiểm chứng, con người bị đẩy vào trạng thái hoàn toàn bất lực. Không biết mình đã sai ở đâu, cũng không biết phải làm gì để sửa sai, họ chỉ còn cách cúi đầu chấp nhận. Khi ấy, định mệnh không còn là thử thách để vượt qua, mà trở thành xiềng xích tinh thần.
Albert Camus từng cho rằng bi kịch lớn nhất của con người không phải là đau khổ, mà là đau khổ không có ý nghĩa. Một hình phạt không gắn với ý thức không thể tạo ra ý nghĩa; nó chỉ tạo ra nỗi sợ và cảm giác phi lý. Công lý, nếu tách khỏi khả năng hiểu và lựa chọn, sẽ phản bội chính mục đích nhân văn ban đầu của nó.
Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa “trả nghiệp” và “chịu trách nhiệm”. Trả nghiệp mang tính thụ động: con người gánh chịu hậu quả của những gì đã xảy ra, dù có hiểu hay không. Chịu trách nhiệm, ngược lại, là hành vi chủ động: con người ý thức được hành vi của mình, đối diện với hậu quả và nỗ lực sửa chữa. Công lý chỉ tồn tại trong không gian của trách nhiệm, chứ không tồn tại trong sự trả giá mù quáng.
Nếu một con người không nhớ mình đã gây ra lỗi lầm trong kiếp trước, thì cách duy nhất để giữ lại tính nhân văn của thuyết nhân quả là chuyển trọng tâm từ trừng phạt sang cảnh tỉnh. Nhân quả không nên được hiểu như một bản án treo lơ lửng trên đầu con người, mà như một lời nhắc nhở rằng mỗi hành động trong hiện tại đều có hệ quả trong tương lai. Khi ấy, con người không bị trói buộc bởi quá khứ vô thức, mà được trao cơ hội sống có trách nhiệm trong hiện tại.
Có lẽ, giá trị sâu xa nhất của thuyết nhân quả không nằm ở việc lý giải mọi đau khổ đã xảy ra, mà ở việc định hướng hành động của con người hôm nay. Khi con người còn ý thức và tự do lựa chọn, họ mới thực sự là chủ thể đạo đức. Một công lý nhân văn không nhằm trừng phạt con người vì những gì họ không biết, mà khơi dậy trong họ ý thức sống thiện lương khi họ còn có thể lựa chọn.
Tóm lại, việc trừng phạt một con người vì những sai lầm của một “kiếp trước” mà họ không còn ký ức hay ý thức, xét đến cùng, khó có thể được coi là công lý theo nghĩa nhân bản. Khi trách nhiệm bị tách khỏi ý thức, công lý biến dạng thành bạo lực vô hình của định mệnh. Có lẽ, cách hiểu nhân văn nhất về nhân quả không phải là cúi đầu chấp nhận đau khổ như một bản án, mà là sống tỉnh thức trong hiện tại, nơi con người còn khả năng lựa chọn, chịu trách nhiệm và cải biến chính mình. Chỉ khi ấy, công lý mới không phản bội con người, và triết lý mới không quay lưng lại với nhân tính.
 

mr teppi

Xe tăng
Biển số
OF-405002
Ngày cấp bằng
16/2/16
Số km
1,127
Động cơ
250,710 Mã lực
Tuổi
44
Đến giờ này, 90% là đề fake, câu like câu view kiểu tiktok, em hỏi từ trang đầu, cụ chủ chưa đưa ra được lớp mấy, chắc mượn trêu các cụ tý. Nói gì thì nói, chả ai ấm ớ ra cái đề kiểu đó cho hs phổ thông, vì nó chả gắn tý gì vào chương trình học hết, để ra đề bậy là có thợ cưa ghế ngay.
Gởi các cụ cái đề tham khảo, nhìn đề suýt ngất, đọc & hiểu được đã là xứng đáng học sinh giỏi văn rồi. :) .
IMG_5451.jpeg

IMG_5452.jpeg

P/s: cụ nhà văn cũng đang bị dư luận này nọ về cái tiểu thuyết đang bàn trên cõi fun này, mong các cụ không bỏ bóng đá người. :P
Đề hsg nào mà chả như tra tấn cụ? Đề văn đọc còn đoán già đoán non tý, chứ mấy môn TN thì như mù luôn ấy chứ?
 

theanh90

Xe điện
Biển số
OF-69327
Ngày cấp bằng
28/7/10
Số km
2,064
Động cơ
464,420 Mã lực
Em chả thấy cái đề này có gì phê phán… cũng chả gắn gì với bất kì tôn giáo nào. Đơn giản chỉ là câu nói được truyền miệng hàng ngày, ở đâu chả nghe thấy. Cụ căn cứ vào đâu để phê phán? Dưới góc nhìn của cụ hay cái nhìn của mọi người?
Thế thì kệ cụ, em phê kệ em vì theo lập luận của cụ thì cụ cũng không có quyền phê em. Còn em được quyền phê vì em có quan điểm là đc phê phán
 

rav4_2010

Xe buýt
Biển số
OF-55923
Ngày cấp bằng
26/1/10
Số km
682
Động cơ
451,657 Mã lực
Mình thấy đây là 2 đề văn hay. Đây là dạng đề để đánh giá năng lực tư duy phản biện chứ không phải kiểu đề học thuộc hay văn mẫu. Rất phù hợp với đề thi học sinh giỏi, có kỹ năng phản biện tốt (câu 1), hoặc siêu phản biện như câu 2.

Câu 1: Đề văn không phải dạng câu hỏi đúng - sai mà khiến hs phải tự liên hệ bản thân, cần vượt qua cái tôi và so sánh XH. Kiểu như viết luận, nó phản ánh tư duy và hiểu biết XH của hs.
Câu 2: Đây là đề văn mang rất nặng tính triết học chứ không phải tôn giáo. Đây là câu hỏi mà bất cứ ai cũng có qua điểm riêng của mình để tranh luận mà không có đáp án duy nhất. Đề này khiến hs bắt buộc phải lập luận, lựa chọn lập trường riêng cho mình. Đây là kiểu đề phân hóa hs khá hay, thông qua bài làm để tìm ra học sinh thực sự có chiều sâu tư duy.

Túm lại 2 đề văn này không liên quan đến tôn giáo mà liên quan đến phạm trù triết học nhiều hơn. Đề vượt ra khỏi tư duy văn mẫu thông thường, dám đưa câu hỏi không có đáp án duy nhất cho học sinh nên mình thấy đây là dấu hiệu đáng mừng cho nền giáo dục nước nhà.
Cả hai câu đều quy chụp mà, đóng khung., chưa chắc học sinh đã có ý kiến giống đề. Chưa nói về câu 2, có thể các em chưa biết hoặc không đồng quan điểm về "nghiệp" và "kiếp trước". Nó thể hiện sự hiểu biết hẹp hòi của người ra đề.
 

Bang lang

Xe container
Biển số
OF-22341
Ngày cấp bằng
12/10/08
Số km
9,193
Động cơ
705,387 Mã lực
Cá nhân em ủng hộ các môn KHTN, thủa đi học cũng gần như chỉ học các môn TN, các môn XH em cho là vớ vẩn, chả cần gốc, học lúc nào cũng được. Nó chẳng qua là sự vận động của xh được viết lại.
Riêng đề văn này mới thấy nhiều cụ phiến diện và cực kì đơn giản, nhìn cái đề để đánh giá góc nhìn cực kì một chiều. Kiện cái gì? Trong khi đây là bài văn NLXH? Cá thể viết về góc nhìn của mình về một vấn đề xh, mà nó rất thực tế, quan điểm có thể trái chiều, có thể đồng tình, với riêng em, nó là đề hay và chả có tính tôn giáo gì… thạm chí có thể phê phán trực tiếp cái câu nói đó, phản biện một cách gay gắt và lên án tư tưởng đó. Văn thì các cụ còn chém được, cho dù nhìn nhận còn hạn hẹp, tư duy còn lệch lạc, chứ Toán Lý Hoá còn chả chém nổi cái đề HSG lớp 9 cho dù có học hết DH với 12 năm hsg xuất sắc, nhìn đề còn như nhìn bức vách, chả hiểu đề nói gì chứ đừng nói làm nổi 1 câu. Mà nói chung, không nên nhận xét cái gì vượt qua tầm mình, nhất là nó lại ở kiến thức quá xa so với khả năng… với cá nhân thì đây là một đề hoàn toàn bình thường nếu không muốn nói khá hay, phản ánh một vấn đề xã hội mà cần một cái nhìn toàn diện.
Các cụ ấy chê giáo dục ko chịu đổi mới nhưng lại thích kiểu đề ko có tranh cãi, luôn đúng theo quan niệm của các cụ ấy.,NLXH cho phép phản biện và quan trọng nói lên ý kiến của mình
Con người từ lâu đã không ngừng tìm kiếm lời giải cho nỗi khổ của chính mình. Trước những bất hạnh tưởng như vô cớ, ta luôn khao khát một lời giải thích có trật tự, để tin rằng đau khổ không hoàn toàn phi lý. Từ nhu cầu ấy, thuyết luân hồi và nghiệp báo ra đời, cho rằng những gì con người phải chịu trong hiện tại là hệ quả của hành vi đã gây ra ở những kiếp sống trước. Tuy nhiên, khi đặt thuyết nghiệp báo dưới lăng kính của công lý và nhân văn hiện đại, một câu hỏi không thể né tránh xuất hiện: liệu việc trừng phạt một con người vì những “sai lầm của kiếp trước” – khi họ không còn ký ức, ý thức và thậm chí không còn là cùng một con người – có thể được coi là công lý, hay chỉ là một hình thức bạo lực của định mệnh?
Trước hết, cần xác lập khái niệm công lý. Trong mọi hệ thống đạo đức mang tính nhân bản, công lý không đơn thuần là sự cân bằng cơ học giữa lỗi lầm và hình phạt, mà gắn chặt với trách nhiệm của chủ thể đạo đức. Một con người chỉ thực sự chịu trách nhiệm khi họ có ý thức về hành vi, có khả năng lựa chọn và hiểu được hậu quả từ lựa chọn ấy. Chính ý thức là nền tảng để công lý tồn tại, bởi nếu không có ý thức, hình phạt sẽ mất đi ý nghĩa giáo dục và cải hóa, trở thành nỗi đau trần trụi.
Từ đó, vấn đề nảy sinh: một con người không còn ký ức về hành vi trong “kiếp trước” thì liệu còn đủ điều kiện để gánh chịu trách nhiệm cho hành vi ấy hay không? Khi ký ức bị cắt đứt, mối liên hệ giữa hành vi và chủ thể cũng bị phá vỡ. Người đang chịu đau khổ ở hiện tại không biết mình đã sai ở đâu, không hiểu vì sao mình bị trừng phạt, và cũng không có khả năng sửa chữa lỗi lầm mà mình không hề nhận thức. Trong trường hợp đó, hình phạt không còn là công lý, mà chỉ là nỗi đau không lời giải thích.
Câu hỏi này dẫn tới một vấn đề sâu xa hơn: bản sắc cá nhân qua thời gian. Liệu con người hiện tại có thực sự là “cùng một người” với kẻ đã hành động trong kiếp trước hay không? Triết học từng chỉ ra rằng ký ức chính là sợi dây gắn kết các thời đoạn của cái tôi. Khi ký ức không còn, bản sắc cá nhân cũng không còn tính liên tục. Một con người không nhớ gì về quá khứ xa xôi ấy, xét về mặt đạo đức, đã trở thành một chủ thể khác. Trừng phạt họ vì hành vi của một “cái tôi” đã biến mất chẳng khác nào trừng phạt một người vô can.
Nếu công lý chấp nhận việc ấy, nó sẽ đánh mất nền tảng nhân văn của mình. Không thể gọi là công bằng khi buộc một con người chịu án vì tội lỗi của một kẻ mà họ không còn nhận diện là chính mình. Cũng như không thể coi là chính đáng nếu kết tội một người mất trí nhớ vì hành vi họ không còn khả năng hồi tưởng. Trong trường hợp này, khái niệm nghiệp báo, nếu bị hiểu một cách tuyệt đối, dễ dẫn công lý đến chỗ phi lý.
Không thể phủ nhận rằng trong chiều sâu tư tưởng, thuyết nghiệp báo không nhằm mục đích trừng phạt, mà hướng tới việc khuyến thiện: con người được nhắc nhở rằng mọi hành động đều để lại hệ quả. Tuy nhiên, khi được hiểu theo lối giản lược, nghiệp báo dễ bị biến thành một cơ chế trừng phạt siêu hình, nơi mọi đau khổ đều được giải thích bằng “nghiệp”, bất kể con người có hiểu hay không. Khi ấy, nghiệp không còn là lời cảnh tỉnh đạo đức, mà trở thành bản án vô hình.
Nguy hiểm hơn, cách hiểu này có thể dẫn đến sự vô cảm. Khi chứng kiến nỗi đau của người khác, con người dễ dàng quy kết đó là “quả báo”, từ đó trốn tránh trách nhiệm sẻ chia và cải tạo thực tại. Bất công xã hội, nghèo đói, bệnh tật hay tai ương đều có thể bị biện minh bằng nghiệp quá khứ, khiến công lý xã hội bị tê liệt. Trong trường hợp này, nghiệp báo không còn nâng đỡ đạo đức, mà vô tình hợp thức hóa khổ đau.
Một hình phạt chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó cho phép con người đối thoại với số phận của mình. Nhưng nếu đau khổ bị gán cho những hành vi trong một kiếp sống không thể kiểm chứng, con người bị đẩy vào trạng thái hoàn toàn bất lực. Không biết mình đã sai ở đâu, cũng không biết phải làm gì để sửa sai, họ chỉ còn cách cúi đầu chấp nhận. Khi ấy, định mệnh không còn là thử thách để vượt qua, mà trở thành xiềng xích tinh thần.
Albert Camus từng cho rằng bi kịch lớn nhất của con người không phải là đau khổ, mà là đau khổ không có ý nghĩa. Một hình phạt không gắn với ý thức không thể tạo ra ý nghĩa; nó chỉ tạo ra nỗi sợ và cảm giác phi lý. Công lý, nếu tách khỏi khả năng hiểu và lựa chọn, sẽ phản bội chính mục đích nhân văn ban đầu của nó.
Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa “trả nghiệp” và “chịu trách nhiệm”. Trả nghiệp mang tính thụ động: con người gánh chịu hậu quả của những gì đã xảy ra, dù có hiểu hay không. Chịu trách nhiệm, ngược lại, là hành vi chủ động: con người ý thức được hành vi của mình, đối diện với hậu quả và nỗ lực sửa chữa. Công lý chỉ tồn tại trong không gian của trách nhiệm, chứ không tồn tại trong sự trả giá mù quáng.
Nếu một con người không nhớ mình đã gây ra lỗi lầm trong kiếp trước, thì cách duy nhất để giữ lại tính nhân văn của thuyết nhân quả là chuyển trọng tâm từ trừng phạt sang cảnh tỉnh. Nhân quả không nên được hiểu như một bản án treo lơ lửng trên đầu con người, mà như một lời nhắc nhở rằng mỗi hành động trong hiện tại đều có hệ quả trong tương lai. Khi ấy, con người không bị trói buộc bởi quá khứ vô thức, mà được trao cơ hội sống có trách nhiệm trong hiện tại.
Có lẽ, giá trị sâu xa nhất của thuyết nhân quả không nằm ở việc lý giải mọi đau khổ đã xảy ra, mà ở việc định hướng hành động của con người hôm nay. Khi con người còn ý thức và tự do lựa chọn, họ mới thực sự là chủ thể đạo đức. Một công lý nhân văn không nhằm trừng phạt con người vì những gì họ không biết, mà khơi dậy trong họ ý thức sống thiện lương khi họ còn có thể lựa chọn.
Tóm lại, việc trừng phạt một con người vì những sai lầm của một “kiếp trước” mà họ không còn ký ức hay ý thức, xét đến cùng, khó có thể được coi là công lý theo nghĩa nhân bản. Khi trách nhiệm bị tách khỏi ý thức, công lý biến dạng thành bạo lực vô hình của định mệnh. Có lẽ, cách hiểu nhân văn nhất về nhân quả không phải là cúi đầu chấp nhận đau khổ như một bản án, mà là sống tỉnh thức trong hiện tại, nơi con người còn khả năng lựa chọn, chịu trách nhiệm và cải biến chính mình. Chỉ khi ấy, công lý mới không phản bội con người, và triết lý mới không quay lưng lại với nhân tính.
Moi người cứ hay chê chứ em thấy Chat GPT nếu biết khai thác thì quả thật như giáo viên của mình ý.
 

radiogaga

Xe điện
Biển số
OF-177394
Ngày cấp bằng
18/1/13
Số km
4,086
Động cơ
399,366 Mã lực
Đến giờ này, 90% là đề fake, câu like câu view kiểu tiktok, em hỏi từ trang đầu, cụ chủ chưa đưa ra được lớp mấy, chắc mượn trêu các cụ tý. Nói gì thì nói, chả ai ấm ớ ra cái đề kiểu đó cho hs phổ thông, vì nó chả gắn tý gì vào chương trình học hết, để ra đề bậy là có thợ cưa ghế ngay.
Gởi các cụ cái đề tham khảo, nhìn đề suýt ngất, đọc & hiểu được đã là xứng đáng học sinh giỏi văn rồi. :) .
IMG_5451.jpeg

IMG_5452.jpeg

P/s: cụ nhà văn cũng đang bị dư luận này nọ về cái tiểu thuyết đang bàn trên cõi fun này, mong các cụ không bỏ bóng đá người. :P
góc nhìn cụ cũng đúng đấy
 

radiogaga

Xe điện
Biển số
OF-177394
Ngày cấp bằng
18/1/13
Số km
4,086
Động cơ
399,366 Mã lực
Con người từ lâu đã không ngừng tìm kiếm lời giải cho nỗi khổ của chính mình. Trước những bất hạnh tưởng như vô cớ, ta luôn khao khát một lời giải thích có trật tự, để tin rằng đau khổ không hoàn toàn phi lý. Từ nhu cầu ấy, thuyết luân hồi và nghiệp báo ra đời, cho rằng những gì con người phải chịu trong hiện tại là hệ quả của hành vi đã gây ra ở những kiếp sống trước. Tuy nhiên, khi đặt thuyết nghiệp báo dưới lăng kính của công lý và nhân văn hiện đại, một câu hỏi không thể né tránh xuất hiện: liệu việc trừng phạt một con người vì những “sai lầm của kiếp trước” – khi họ không còn ký ức, ý thức và thậm chí không còn là cùng một con người – có thể được coi là công lý, hay chỉ là một hình thức bạo lực của định mệnh?
Trước hết, cần xác lập khái niệm công lý. Trong mọi hệ thống đạo đức mang tính nhân bản, công lý không đơn thuần là sự cân bằng cơ học giữa lỗi lầm và hình phạt, mà gắn chặt với trách nhiệm của chủ thể đạo đức. Một con người chỉ thực sự chịu trách nhiệm khi họ có ý thức về hành vi, có khả năng lựa chọn và hiểu được hậu quả từ lựa chọn ấy. Chính ý thức là nền tảng để công lý tồn tại, bởi nếu không có ý thức, hình phạt sẽ mất đi ý nghĩa giáo dục và cải hóa, trở thành nỗi đau trần trụi.
Từ đó, vấn đề nảy sinh: một con người không còn ký ức về hành vi trong “kiếp trước” thì liệu còn đủ điều kiện để gánh chịu trách nhiệm cho hành vi ấy hay không? Khi ký ức bị cắt đứt, mối liên hệ giữa hành vi và chủ thể cũng bị phá vỡ. Người đang chịu đau khổ ở hiện tại không biết mình đã sai ở đâu, không hiểu vì sao mình bị trừng phạt, và cũng không có khả năng sửa chữa lỗi lầm mà mình không hề nhận thức. Trong trường hợp đó, hình phạt không còn là công lý, mà chỉ là nỗi đau không lời giải thích.
Câu hỏi này dẫn tới một vấn đề sâu xa hơn: bản sắc cá nhân qua thời gian. Liệu con người hiện tại có thực sự là “cùng một người” với kẻ đã hành động trong kiếp trước hay không? Triết học từng chỉ ra rằng ký ức chính là sợi dây gắn kết các thời đoạn của cái tôi. Khi ký ức không còn, bản sắc cá nhân cũng không còn tính liên tục. Một con người không nhớ gì về quá khứ xa xôi ấy, xét về mặt đạo đức, đã trở thành một chủ thể khác. Trừng phạt họ vì hành vi của một “cái tôi” đã biến mất chẳng khác nào trừng phạt một người vô can.
Nếu công lý chấp nhận việc ấy, nó sẽ đánh mất nền tảng nhân văn của mình. Không thể gọi là công bằng khi buộc một con người chịu án vì tội lỗi của một kẻ mà họ không còn nhận diện là chính mình. Cũng như không thể coi là chính đáng nếu kết tội một người mất trí nhớ vì hành vi họ không còn khả năng hồi tưởng. Trong trường hợp này, khái niệm nghiệp báo, nếu bị hiểu một cách tuyệt đối, dễ dẫn công lý đến chỗ phi lý.
Không thể phủ nhận rằng trong chiều sâu tư tưởng, thuyết nghiệp báo không nhằm mục đích trừng phạt, mà hướng tới việc khuyến thiện: con người được nhắc nhở rằng mọi hành động đều để lại hệ quả. Tuy nhiên, khi được hiểu theo lối giản lược, nghiệp báo dễ bị biến thành một cơ chế trừng phạt siêu hình, nơi mọi đau khổ đều được giải thích bằng “nghiệp”, bất kể con người có hiểu hay không. Khi ấy, nghiệp không còn là lời cảnh tỉnh đạo đức, mà trở thành bản án vô hình.
Nguy hiểm hơn, cách hiểu này có thể dẫn đến sự vô cảm. Khi chứng kiến nỗi đau của người khác, con người dễ dàng quy kết đó là “quả báo”, từ đó trốn tránh trách nhiệm sẻ chia và cải tạo thực tại. Bất công xã hội, nghèo đói, bệnh tật hay tai ương đều có thể bị biện minh bằng nghiệp quá khứ, khiến công lý xã hội bị tê liệt. Trong trường hợp này, nghiệp báo không còn nâng đỡ đạo đức, mà vô tình hợp thức hóa khổ đau.
Một hình phạt chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó cho phép con người đối thoại với số phận của mình. Nhưng nếu đau khổ bị gán cho những hành vi trong một kiếp sống không thể kiểm chứng, con người bị đẩy vào trạng thái hoàn toàn bất lực. Không biết mình đã sai ở đâu, cũng không biết phải làm gì để sửa sai, họ chỉ còn cách cúi đầu chấp nhận. Khi ấy, định mệnh không còn là thử thách để vượt qua, mà trở thành xiềng xích tinh thần.
Albert Camus từng cho rằng bi kịch lớn nhất của con người không phải là đau khổ, mà là đau khổ không có ý nghĩa. Một hình phạt không gắn với ý thức không thể tạo ra ý nghĩa; nó chỉ tạo ra nỗi sợ và cảm giác phi lý. Công lý, nếu tách khỏi khả năng hiểu và lựa chọn, sẽ phản bội chính mục đích nhân văn ban đầu của nó.
Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa “trả nghiệp” và “chịu trách nhiệm”. Trả nghiệp mang tính thụ động: con người gánh chịu hậu quả của những gì đã xảy ra, dù có hiểu hay không. Chịu trách nhiệm, ngược lại, là hành vi chủ động: con người ý thức được hành vi của mình, đối diện với hậu quả và nỗ lực sửa chữa. Công lý chỉ tồn tại trong không gian của trách nhiệm, chứ không tồn tại trong sự trả giá mù quáng.
Nếu một con người không nhớ mình đã gây ra lỗi lầm trong kiếp trước, thì cách duy nhất để giữ lại tính nhân văn của thuyết nhân quả là chuyển trọng tâm từ trừng phạt sang cảnh tỉnh. Nhân quả không nên được hiểu như một bản án treo lơ lửng trên đầu con người, mà như một lời nhắc nhở rằng mỗi hành động trong hiện tại đều có hệ quả trong tương lai. Khi ấy, con người không bị trói buộc bởi quá khứ vô thức, mà được trao cơ hội sống có trách nhiệm trong hiện tại.
Có lẽ, giá trị sâu xa nhất của thuyết nhân quả không nằm ở việc lý giải mọi đau khổ đã xảy ra, mà ở việc định hướng hành động của con người hôm nay. Khi con người còn ý thức và tự do lựa chọn, họ mới thực sự là chủ thể đạo đức. Một công lý nhân văn không nhằm trừng phạt con người vì những gì họ không biết, mà khơi dậy trong họ ý thức sống thiện lương khi họ còn có thể lựa chọn.
Tóm lại, việc trừng phạt một con người vì những sai lầm của một “kiếp trước” mà họ không còn ký ức hay ý thức, xét đến cùng, khó có thể được coi là công lý theo nghĩa nhân bản. Khi trách nhiệm bị tách khỏi ý thức, công lý biến dạng thành bạo lực vô hình của định mệnh. Có lẽ, cách hiểu nhân văn nhất về nhân quả không phải là cúi đầu chấp nhận đau khổ như một bản án, mà là sống tỉnh thức trong hiện tại, nơi con người còn khả năng lựa chọn, chịu trách nhiệm và cải biến chính mình. Chỉ khi ấy, công lý mới không phản bội con người, và triết lý mới không quay lưng lại với nhân tính.
Ôi trời ơi, ChatGPT nó không biết gì đâu, tin nó đổ thóc giống mà ăn
 

manhcsic

Xe điện
Biển số
OF-67865
Ngày cấp bằng
7/7/10
Số km
2,515
Động cơ
837,551 Mã lực
Con người từ lâu đã không ngừng tìm kiếm lời giải cho nỗi khổ của chính mình. Trước những bất hạnh tưởng như vô cớ, ta luôn khao khát một lời giải thích có trật tự, để tin rằng đau khổ không hoàn toàn phi lý. Từ nhu cầu ấy, thuyết luân hồi và nghiệp báo ra đời, cho rằng những gì con người phải chịu trong hiện tại là hệ quả của hành vi đã gây ra ở những kiếp sống trước. Tuy nhiên, khi đặt thuyết nghiệp báo dưới lăng kính của công lý và nhân văn hiện đại, một câu hỏi không thể né tránh xuất hiện: liệu việc trừng phạt một con người vì những “sai lầm của kiếp trước” – khi họ không còn ký ức, ý thức và thậm chí không còn là cùng một con người – có thể được coi là công lý, hay chỉ là một hình thức bạo lực của định mệnh?
Trước hết, cần xác lập khái niệm công lý. Trong mọi hệ thống đạo đức mang tính nhân bản, công lý không đơn thuần là sự cân bằng cơ học giữa lỗi lầm và hình phạt, mà gắn chặt với trách nhiệm của chủ thể đạo đức. Một con người chỉ thực sự chịu trách nhiệm khi họ có ý thức về hành vi, có khả năng lựa chọn và hiểu được hậu quả từ lựa chọn ấy. Chính ý thức là nền tảng để công lý tồn tại, bởi nếu không có ý thức, hình phạt sẽ mất đi ý nghĩa giáo dục và cải hóa, trở thành nỗi đau trần trụi.
Từ đó, vấn đề nảy sinh: một con người không còn ký ức về hành vi trong “kiếp trước” thì liệu còn đủ điều kiện để gánh chịu trách nhiệm cho hành vi ấy hay không? Khi ký ức bị cắt đứt, mối liên hệ giữa hành vi và chủ thể cũng bị phá vỡ. Người đang chịu đau khổ ở hiện tại không biết mình đã sai ở đâu, không hiểu vì sao mình bị trừng phạt, và cũng không có khả năng sửa chữa lỗi lầm mà mình không hề nhận thức. Trong trường hợp đó, hình phạt không còn là công lý, mà chỉ là nỗi đau không lời giải thích.
Câu hỏi này dẫn tới một vấn đề sâu xa hơn: bản sắc cá nhân qua thời gian. Liệu con người hiện tại có thực sự là “cùng một người” với kẻ đã hành động trong kiếp trước hay không? Triết học từng chỉ ra rằng ký ức chính là sợi dây gắn kết các thời đoạn của cái tôi. Khi ký ức không còn, bản sắc cá nhân cũng không còn tính liên tục. Một con người không nhớ gì về quá khứ xa xôi ấy, xét về mặt đạo đức, đã trở thành một chủ thể khác. Trừng phạt họ vì hành vi của một “cái tôi” đã biến mất chẳng khác nào trừng phạt một người vô can.
Nếu công lý chấp nhận việc ấy, nó sẽ đánh mất nền tảng nhân văn của mình. Không thể gọi là công bằng khi buộc một con người chịu án vì tội lỗi của một kẻ mà họ không còn nhận diện là chính mình. Cũng như không thể coi là chính đáng nếu kết tội một người mất trí nhớ vì hành vi họ không còn khả năng hồi tưởng. Trong trường hợp này, khái niệm nghiệp báo, nếu bị hiểu một cách tuyệt đối, dễ dẫn công lý đến chỗ phi lý.
Không thể phủ nhận rằng trong chiều sâu tư tưởng, thuyết nghiệp báo không nhằm mục đích trừng phạt, mà hướng tới việc khuyến thiện: con người được nhắc nhở rằng mọi hành động đều để lại hệ quả. Tuy nhiên, khi được hiểu theo lối giản lược, nghiệp báo dễ bị biến thành một cơ chế trừng phạt siêu hình, nơi mọi đau khổ đều được giải thích bằng “nghiệp”, bất kể con người có hiểu hay không. Khi ấy, nghiệp không còn là lời cảnh tỉnh đạo đức, mà trở thành bản án vô hình.
Nguy hiểm hơn, cách hiểu này có thể dẫn đến sự vô cảm. Khi chứng kiến nỗi đau của người khác, con người dễ dàng quy kết đó là “quả báo”, từ đó trốn tránh trách nhiệm sẻ chia và cải tạo thực tại. Bất công xã hội, nghèo đói, bệnh tật hay tai ương đều có thể bị biện minh bằng nghiệp quá khứ, khiến công lý xã hội bị tê liệt. Trong trường hợp này, nghiệp báo không còn nâng đỡ đạo đức, mà vô tình hợp thức hóa khổ đau.
Một hình phạt chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó cho phép con người đối thoại với số phận của mình. Nhưng nếu đau khổ bị gán cho những hành vi trong một kiếp sống không thể kiểm chứng, con người bị đẩy vào trạng thái hoàn toàn bất lực. Không biết mình đã sai ở đâu, cũng không biết phải làm gì để sửa sai, họ chỉ còn cách cúi đầu chấp nhận. Khi ấy, định mệnh không còn là thử thách để vượt qua, mà trở thành xiềng xích tinh thần.
Albert Camus từng cho rằng bi kịch lớn nhất của con người không phải là đau khổ, mà là đau khổ không có ý nghĩa. Một hình phạt không gắn với ý thức không thể tạo ra ý nghĩa; nó chỉ tạo ra nỗi sợ và cảm giác phi lý. Công lý, nếu tách khỏi khả năng hiểu và lựa chọn, sẽ phản bội chính mục đích nhân văn ban đầu của nó.
Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa “trả nghiệp” và “chịu trách nhiệm”. Trả nghiệp mang tính thụ động: con người gánh chịu hậu quả của những gì đã xảy ra, dù có hiểu hay không. Chịu trách nhiệm, ngược lại, là hành vi chủ động: con người ý thức được hành vi của mình, đối diện với hậu quả và nỗ lực sửa chữa. Công lý chỉ tồn tại trong không gian của trách nhiệm, chứ không tồn tại trong sự trả giá mù quáng.
Nếu một con người không nhớ mình đã gây ra lỗi lầm trong kiếp trước, thì cách duy nhất để giữ lại tính nhân văn của thuyết nhân quả là chuyển trọng tâm từ trừng phạt sang cảnh tỉnh. Nhân quả không nên được hiểu như một bản án treo lơ lửng trên đầu con người, mà như một lời nhắc nhở rằng mỗi hành động trong hiện tại đều có hệ quả trong tương lai. Khi ấy, con người không bị trói buộc bởi quá khứ vô thức, mà được trao cơ hội sống có trách nhiệm trong hiện tại.
Có lẽ, giá trị sâu xa nhất của thuyết nhân quả không nằm ở việc lý giải mọi đau khổ đã xảy ra, mà ở việc định hướng hành động của con người hôm nay. Khi con người còn ý thức và tự do lựa chọn, họ mới thực sự là chủ thể đạo đức. Một công lý nhân văn không nhằm trừng phạt con người vì những gì họ không biết, mà khơi dậy trong họ ý thức sống thiện lương khi họ còn có thể lựa chọn.
Tóm lại, việc trừng phạt một con người vì những sai lầm của một “kiếp trước” mà họ không còn ký ức hay ý thức, xét đến cùng, khó có thể được coi là công lý theo nghĩa nhân bản. Khi trách nhiệm bị tách khỏi ý thức, công lý biến dạng thành bạo lực vô hình của định mệnh. Có lẽ, cách hiểu nhân văn nhất về nhân quả không phải là cúi đầu chấp nhận đau khổ như một bản án, mà là sống tỉnh thức trong hiện tại, nơi con người còn khả năng lựa chọn, chịu trách nhiệm và cải biến chính mình. Chỉ khi ấy, công lý mới không phản bội con người, và triết lý mới không quay lưng lại với nhân tính.
Thực tế đời sống không vận hành như một tòa án, trừng phạt đâu cụ?
 

theanh90

Xe điện
Biển số
OF-69327
Ngày cấp bằng
28/7/10
Số km
2,064
Động cơ
464,420 Mã lực
Đến giờ này, 90% là đề fake, câu like câu view kiểu tiktok, em hỏi từ trang đầu, cụ chủ chưa đưa ra được lớp mấy, chắc mượn trêu các cụ tý. Nói gì thì nói, chả ai ấm ớ ra cái đề kiểu đó cho hs phổ thông, vì nó chả gắn tý gì vào chương trình học hết, để ra đề bậy là có thợ cưa ghế ngay.
Gởi các cụ cái đề tham khảo, nhìn đề suýt ngất, đọc & hiểu được đã là xứng đáng học sinh giỏi văn rồi. :) .
IMG_5451.jpeg

IMG_5452.jpeg

P/s: cụ nhà văn cũng đang bị dư luận này nọ về cái tiểu thuyết đang bàn trên cõi fun này, mong các cụ không bỏ bóng đá người. :P
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau…trên đề thi
 

QuietmanQ

Xe điện
Biển số
OF-193774
Ngày cấp bằng
13/5/13
Số km
4,076
Động cơ
1,658,012 Mã lực
Thực tế đời sống không vận hành như một tòa án, trừng phạt đâu cụ?
Dài thế mà cụ cũng đọc được, đọc xong lại còn nói được câu tỉnh táo thế này. Chứng tỏ bài làm đã thoát được thế nịch tử, tránh cho người làm/người đọc bị tẩu hỏa.
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top