[TT Hữu ích] Góc Khuất Của Chiến Tranh

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,624
Động cơ
661,600 Mã lực
Văn học, tiểu thuyết, phim ảnh... đc phép hư cấu cho hay, cho hấp dẫn. Nhưng chúng ta chỉ hiểu là đó là truyện, là phim thôi, ko nên coi đó là lịch sử.

Cụ có link phim Tàu (phim tài liệu, phim truyện) về 1979 thì đưa lên đi, xem Tàu nó tuyên truyền thế nào về cuộc chiến đó.
Trước em xem nhiều phim mà giờ kiếm không ra, như phim Cuộc chiến xa lạ của Nga đã bị xoá trên Youtube.
Mời cụ xem phim Hành động chớp nhoáng do Tàu sản xuất năm 1987, có cảnh cuối phút 1:24:40 là dùng súng chống tăng bắn cháy xe chở tướng VN, trong phim ngủm hết.
Còn tin và truyện ba xu của Mỹ, Tàu là VN có gián điệp do họ cài vào, cách thức liên lạc và thông tin thế nào thì các cụ đọc truyện của cụ Ẩn.
À, cụ nào rành khí tài thì cho em xin thông tin các loại khí tài của Trung trong phim, đánh đồi huy động cả máy bay, trực thăng, xe tăng, rốc két, pháo binh kèm chiến thuật biển người.. rồi còn phái đặc công luồn sâu chỉ điểm, ám sát tướng đối phương.
Tàu làm tuyên truyền thì cực lố, em đang tìm lại cảnh lố đó nhưng lâu quá rồi
 
Chỉnh sửa cuối:

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,624
Động cơ
661,600 Mã lực
Phút 40 trở đi là trò lố của Tàu: trước khi rút quân về nước, quân Tàu còn quét sạch đường phố Việt Nam, giúp đỡ thực phẩm cho dân thường Việt Nam, giúp người già sửa mái tranh dột nát.. một hình ảnh tuyệt vời nếu như có thực =))
2025-09-09_125207.png

2025-09-09_125223.png

Em xin hết. Để em tìm nguồn chính thống của VN về những câu chuyện chưa phổ biến. Clip này của nhà báo phương Tây nên theo cụ nào đó thì không tin được nhé.
 
Chỉnh sửa cuối:

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,624
Động cơ
661,600 Mã lực
Bộ phim tài liệu của Tây, em nghĩ là khá đáng tin cậy, nghiêm túc..., còn lại các số liệu của chính các bên tham chiến thì như nhận xét ở đoạn từ 1:30 đến 1:45 của phim.
Giả sử mà em nói Tàu tuyên truyền rằng 1979 quân Tàu khi rút về nước đã quét dọn đường xá VN sạch sẽ, cho dân thường VN lương thực, lợp mái nhà tranh cho dân VN v.vv mà không có Video này thì khối cụ bảo em là bịa chuyện, Tàu nó không làm lố thế đâu :))
Nhà báo phương Tây được Tàu cung cấp cho vài cảnh quay này, chứ em nghĩ thực tế Tàu chiếu cho dân họ xem thì càng kinh nữa.
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
GÓC KHUẤT CHIẾN TRANH
Thớt 62:
CỤ BẨY BẮN CHÁY F-8

(Tư liệu từ 2 phía Việt – Mỹ)

1/Ngày 05/09/1966:


1.1/Tài liệu Việt nam (TLVN):

Không quân địch tổ chức vào đánh phá ở Bình lục - Nam hà.

1.2/Tài liệu Mỹ (TLM):

1.2.1/ Tình hình chung:

Ngày 05/09/1966 Hải quân Mỹ phát hiện đoàn tầu của ta tại đoạn đường sắt giữa Phủ lý và Nam định tại tọa độ khoảng 20°30' Bắc /106°00' Đông. Hải quân Mỹ điều động máy bay A-4 tấn công đoàn tàu này.

Hải quân Mỹ cho 4 chiếc F-8, chia làm 2 cặp, bay làm nhiệm vụ bảo vệ quanh khu vực ném bom (TARCAP). Cặp F-8 thứ nhất vào trước, tuần tra trên quỹ đạo phía trên khu vực núi đá vôi gần như ngay phía Nam Phủ lý. Cặp F-8 thứ hai vòng chờ trên quỹ đạo ngoài khơi, ngay phía nam một cửa sông ở phía Đông-Đông Bắc Thanh Hóa.

Khi tốp 1 hết dầu bay ra, tốp 2 bay vào không vực tuần phòng để thay thế, tới tọa độ 20°00' Bắc / 106°30' Đông, rồi tiếp tục bay dọc theo khu vực núi đá vôi theo hướng từ Đông - Nam lên Tây - Bắc, cho đến Nam của Nho Quan thì rẽ về phía Bắc. Đến khu vực tuần tiễu thì biên đội F-8 bay vòng tròn với các khúc cua ngẫu nhiên. Đội hình bay không chặt chẽ, F-8 số 2 đổi vị trí liên tục để giữ số 1 trong tầm mắt khi bay qua các cụm mây, có lúc gần như đi hàng dọc, nên bị lơ là quan sát đề phòng MiG đối phương. 2 F-8 hoàn toàn không biết có MiG, các hạm cũng không biết tại sao lại không báo có MiG cho F-8.

1.2.2/ Thời tiết:

Từ mây rải rác (scatter) đến mây mù diện rộng (overcast) trần mây 1.500 ft (457 mét), đỉnh mây khoảng 2.000 ft (610 mét), thỉnh thoảng có những cụm mây tích lên tới 7000 ft (2.133 mét).


2/Diễn biến trận đánh:

2.1/ TLVN:

Đôi bay MiG-17 Bảy – Mẫn cất cánh lúc 16:30, từ Gia lâm, được dẫn tới khu vực Phủ lý, Nam định thì được thông báo có địch. Số 1 phát hiện mục tiêu phía trước bên phải 30 km, độ cao khoảng 2.000 m. Kéo lên độ cao 1,500 m bay về hướng mục tiêu ở thế đối đầu. Phát hiện MiG, F-8 quay đầu bỏ chạy vào các đám mây. MiG bay tắt qua đám mây đón lõng ở phía bên kia. Tốc độ cao nên bị soãi ra ngoài, nhưng đã kịp ép độ nghiêng vòng lại.

2.2/ TLM:

Khu vực không chiến: 20°15’B / 105°59’Đ. Tốp F-8 đang ở Độ cao: 3000-5000 ft (914-1524 m); Hướng bay: Hướng Nam, đang vòng phải; Tốc độ: 400 kt (460 mph hay 740 km/h); Nhiên liệu: gần đến mức phải quay về căn cứ (BINGO). Do mây mù, Số 2 phải bay sát vào sau số 1, vị trí góc 5 giờ, lúc này chỉ cách tối đa 60 mét và thấp hơn 15 m. Sau trận đánh tầu Oriskany kiểm tra lại dữ liệu radar và không thoại đối phương phát hiện thấy MiG-17 đã tiếp cận trượt 1 lần (made a mess of previous pass) trước khi được mặt đất dẫn lại vào vị trí tấn công có lợi (directed to reposition for the successful bounce).

2.3/TLVN:

Số 1 Nguyễn Văn Bảy bắn F-8 số 2 từ khoảng cách 400-500 m nhưng đạn lệch trái).

2.4/ TLM:

F-8 số 2 đột ngột thấy luồng đạn sáng (tracer) vọt qua bên trái buồng lái, vội báo động cho số 1.

MiG-17 số 1 lại gần bắn thêm loạt 2 trúng nắp buồng lái khiến máy bay địch lật nghiêng.

Ngay lúc đó, nắp buồng lái F-8 số 2 bị trúng đạn, khiến tiếng ồn do gió rít trở nên quá to đến mức phi công gần như không nghe thấy gì.

2.5/ TLVN:

MiG-17 Số 1 bắn thêm loạt 3 máy bay địch bùng cháy rơi xuống.

2.6/ TLM:

Thấy đám mây bên trái, F-8 số 2 (chiếc bị cụ Bẩy bắn) ngoặt gấp vào đó lấy mây che chắn tránh bị bắn thêm; Vào mây rồi thì lại ngoặt trái gấp lần nữa để kiểm tra phía sau nhưng không thấy MiG. F-8 số 2 ngoặt phải thêm lần nữa, kiểm tra cũng vẫn không thấy MiG, lúc này phi công nhận ra cánh phải đã vỡ miếng lớn, dầu phụt tung tóe. Sau trận đánh, phía Mỹ kiểm tra thấy góc đạn va chạm cho thấy không thể là do hỏa lực mặt đất; phi công Rime tin rằng phi công MiG đã dừng bắn ngay sau loạt đạn trúng đích đầu tiên vì tình trạng hư hại của F-8 số 2 thảm hại đến mức không cần phải bắn bồi thêm nữa. F-8 Số 2 về hạ cánh khi dầu gần hết sạch (chỉ còn xấp xỉ 130 kg), bị gãy càng phải, phi công Rime bị thương nhẹ.

2.5/ TLVN:

MiG-17 số 2 Võ Văn Mẫn sau khi yểm hộ MiG-17 số 1 bắn rơi F-8 số 2, quan sát thấy phía sau không có gì uy hiếp thì vọt lên tấn công chiếc F-8 số 1, bắn 3 loạt hạ chiếc này, bắn gần quá khiến 3 mảnh mica rơi cả vào ống dẫn khí.

2.6/TLM:

F-8 số 1 mất tích sau trận đánh. Số 2 trước khi ngoặt trái gấp vào mây thấy Số 1 đang vòng phải với gia trọng âm (negative G) vào đám mây phía trước, trong thế chúc xuống, không thấy có mảnh vỡ, không tin số 1 bị trúng đạn. Số 2 cho rằng số 1 đâm vào dãy núi đá vôi khi thoát khỏi phía bên kia đám mây, do phía đó có dãy đỉnh núi cao hơn 2,500 ft (700 mét). Khi bay ra, F-8 số 2 tin rằng đã nghe thấy lạo xạo số 1 gọi nói gì đó nhưng không chắc là nói gì, định quay lại hỗ trợ, nhưng xét thấy hiện trạng tồi tệ của máy bay nên quyết định tiếp tục bay về. Số 2 tin có lúc thoáng nghe thấy âm thanh định vị Beeper của số 1.

Sau năm 1973 phi công F-8 số 1 Abbott được thả mới biết F-8 số 1 (máy bay 150896 AH106) phát hiện MiG liền kéo lên cao (pitch up) yểm hộ số 2, định đẩy MiG vào thế bắn khó, phải bắn ở góc 90 độ có độ tản mát lớn, nhưng vẫn bị MiG bắn trúng nhiều loạt (take multiple hits). Nắp buồng lái và bảng điều khiển vỡ nát, mũ phi công bay mất, không còn điều khiển được máy bay nên phi công nhảy dù và bị bắt tù binh; bị gãy chân; được thả năm 1973.


3/ Đánh giá sau trận đánh:

3.1/Không quân Việt nam:

Trận đánh nhanh gọn. Từ lúc cất cánh đến lúc hạ cánh có 19 phút (hạ cánh an toàn lúc 16:49 phút).

3.2/Hải quân Mỹ:

Họ mở lại dữ liệu radar và không thoại đối phương và không hiểu tại sao biết có MiG mà không ai báo cho F-8s. Phi công F-8 số 2 tin rằng MiG đã tóm được họ từ dưới mây do F-8 không thể nhìn thấy [phù hợp tài liệu ta số 1 cho biên đội kéo lên cao 1.500 m tiếp địch]; MiG đã được dẫn đường rất tốt; Nếu 2 bên gặp nhau chỉ trước đó 30 giây hoặc sau đó 30 giây, kết quả sẽ khác cho F-8 (do không bị mây cản tầm nhìn).


4/ Các hình minh họa:

4.1/Hình minh họa 1:

Tọa độ ga tầu Hải quân Mỹ phát hiện đoàn tầu hỏa và cho A-4 đến ném bom.

Tài liệu Việt nam (TLVN): Không quân địch tổ chức vào đánh phá ở Bình lục - Nam hà.

Tài liệu Mỹ (TLM): Ngày 05/09/1966 Hải quân Mỹ phát hiện đoàn tầu của ta tại đoạn đường sắt giữa Phủ lý và Nam định tại tọa độ khoảng 20°30' Bắc /106°00' Đông. Hải quân Mỹ điều động máy bay A-4 tấn công đoàn tàu này.

1757639754060.png


4.2/ Hình minh họa 2:

Tọa độ vùng trời diễn ra trận không chiến. Vùng núi phía Tây là nơi ban đầu phi công F-8 số 2 của Hải quân Mỹ cho rằng F-8 số 1 đã đâm vào đó do bay trong mây.

1757639786090.png


4.3/ Hình minh họa 3:

Hải quân Mỹ cho 4 chiếc F-8, chia làm 2 cặp, bay làm nhiệm vụ bảo vệ quanh khu vực ném bom (TARCAP). Cặp F-8 thứ nhất vào trước, tuần tra trên quỹ đạo phía trên khu vực núi đá vôi gần như ngay phía Nam Phủ lý. Cặp F-8 thứ hai vòng chờ trên quỹ đạo ngoài khơi, ngay phía nam một cửa sông ở phía Đông-Đông Bắc Thanh Hóa.

Khi tốp 1 hết dầu bay ra, tốp 2 bay vào không vực tuần phòng để thay thế, tới tọa độ 20°00' Bắc / 106°30' Đông, rồi tiếp tục bay dọc theo khu vực núi đá vôi theo hướng từ Đông - Nam lên Tây - Bắc, cho đến Nam của Nho Quan thì rẽ về phía Bắc. Đến khu vực tuần tiễu thì biên đội F-8 bay vòng tròn với các khúc cua ngẫu nhiên. Đội hình bay không chặt chẽ, F-8 số 2 đổi vị trí liên tục để giữ số 1 trong tầm mắt khi bay qua các cụm mây, có lúc gần như đi hàng dọc, nên bị lơ là quan sát đề phòng MiG đối phương. 2 F-8 hoàn toàn không biết có MiG, các hạm cũng không biết tại sao lại không báo có MiG cho F-8

1757639821938.png


4.4/ Hình minh họa 4:

Đường bay và Vị trí tương đối khi MiG-17 phát hiện F-8.

TLVN: Đôi bay MiG-17 Bảy – Mẫn cất cánh lúc 16:30, từ Gia lâm, được dẫn tới khu vực Phủ lý, Nam định thì được thông báo có địch. Số 1 phát hiện mục tiêu phía trước bên phải 30 km, độ cao khoảng 2.000 m. Kéo lên độ cao 1,500 m bay về hướng mục tiêu ở thế đối đầu. Phát hiện MiG, F-8 quay đầu bỏ chạy vào các đám mây. MiG bay tắt qua đám mây đón lõng ở phía bên kia. Tốc độ cao nên bị soãi ra ngoài, nhưng đã kịp ép độ nghiêng vòng lại.



TLM: Khu vực không chiến: 20°15’B / 105°59’Đ. Tốp F-8 đang ở Độ cao: 3000-5000 ft (914-1524 m); Hướng bay: Hướng Nam, đang vòng phải; Tốc độ: 400 kt (460 mph hay 740 km/h); Nhiên liệu: gần đến mức phải quay về căn cứ (BINGO). Do mây mù, Số 2 phải bay sát vào sau số 1, vị trí góc 5 giờ, lúc này chỉ cách tối đa 60 mét và thấp hơn 15 m

1757639865324.png


4.5/ Hình minh họa 5:

Khu vực không chiến: 20°15’B / 105°59’Đ.

1757639890062.png


4.6/ Hình minh họa 6:

Ảnh mô phỏng lại: F-8 số 1 số hiệu 150896 AH-106 do phi công Abbott lái đang tiến về khu vực bị bắn rơi (Địa hình lấy theo ảnh vệ tinh Google)

1757639917850.png


4.7/ Hình minh họa 7:

Đến khu vực tuần tiễu thì biên đội F-8 bay vòng tròn với các khúc cua ngẫu nhiên. Đội hình bay không chặt chẽ, F-8 số 2 đổi vị trí liên tục để giữ số 1 trong tầm mắt khi bay qua các cụm mây, có lúc gần như đi hàng dọc, nên bị lơ là quan sát đề phòng MiG đối phương.

1757639942851.png


5.8/ Hình minh họa 8:

TLVN: Số 1 Nguyễn Văn Bảy bắn F-8 số 2 từ khoảng cách 400-500 m nhưng đạn lệch trái).

TLM: F-8 số 2 đột ngột thấy luồng đạn sáng (tracer) vọt qua bên trái buồng lái, vội báo động cho số 1.

1757639989540.png


4.9/ Hình minh họa 9:

Lịch sử Trung đoàn 923
1757640013932.png


1757640031068.png


1757640049478.png


5/ Còm thêm:

Như vậy, chiếc F-8 bị bắn rơi trong thành tích của cụ Bẩy, là nó vẫn về hạ cánh được trên tầu sân bay.
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
GÓC KHUẤT CHIẾN TRANH

Thớt 63:

CHIẾC MÁY BAY ĐẦU TIÊN DO NGƯỜI VIỆT CHẾ TẠO


Ngày 17/12/1903 cách đây 122 năm, anh em Wright có chuyến bay đầu tiên ở Kitty Hawk, North Carolina, USA.

Cách đây hơn 90 năm, vào ngày 26/10/1935, ông Hồ Đắc Cung cũng có chuyến bay lịch sử trên máy bay do ông tự chế tạo và lái tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Theo tài liệu lưu trữ ở Thư viện Quốc gia Việt Nam, ông Hồ Đắc Cung (1907-1984) được ghi nhận là người đầu tiên chế tạo máy bay tại Việt Nam và thực hiện thành công chuyến bay ngày 26/10/1935 tại sân bay Tân Sơn Nhất, đánh dấu cột mốc lịch sử trong lĩnh vực hàng không nước nhà. Chiếc máy bay do ông chế tạo mang tên độc đáo “Rận Trời 132” (Le Pou du Ciel 132).

Tràng An Báo, một tờ báo quốc ngữ xuất bản tại Huế, đã đưa tin tường thuật về ông Hồ Đắc Cung và chiếc máy bay của ông trong số báo 75 ra ngày 15/11/1935: "Có tin từ Sài Gòn ra nói rằng chiếc máy bay nhỏ kêu bằng “Rận Trời" của ông Hồ Đắc Cung đã do ông cầm máy, bay lên tại sân bay Tân Sơn Nhất trong một buổi trưa mới đây. Máy bay lên rất cao, khi lên khi xuống đều như ý. Cũng đã trải qua mấy lần sửa chữa mới được vậy. Lần đầu tiên, ông Cung đem thử tại sân bay Tân Sơn Nhất, chong chóng quay mà cất cánh không lên, vì sợi dây buộc cánh lúc lắc. Lần nữa vào ngày 26/10/1935, máy bay lên được, nhưng đương lên cao bỗng thình lình chúi đầu xuống làm ông Cung suýt nguy. Lần thứ ba mới bay được hoàn toàn.”

Chiếc máy bay "Rận Trời 132" không chỉ là minh chứng cho tài năng và óc sáng tạo của ông Hồ Đắc Cung, mà còn thể hiện tinh thần tiên phong trong việc ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào thực tiễn tại Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Thành tựu này vẫn còn lưu dấu ấn đặc biệt trong lịch sử kỹ thuật hàng không Việt Nam.

Ông Hồ Đắc Cung, một kỹ sư tài năng, đã có quá trình học tập và làm việc đáng chú ý ở Pháp trước khi trở về Việt Nam để chế tạo chiếc máy bay đầu tiên của mình.

Được học bổng sang Montpellier (Pháp), ông học nghề tại Trường Kỹ nghệ và Điện Lực (École d’Industriel et d’Électricité) ở Marseille rồi ra làm việc tại một cơ sở đường sắt.

Ông Hồ Đắc Cung sinh năm 1907 tại Huế, hồi nhỏ sống ở làng Ba Dừa, xã Long Trung, huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang cũ, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Ông Cung từng học tại Trường Nguyễn Phan Long ở Sài Gòn, sau đó sang Pháp học tại Trường Kỹ nghệ Điện học Montpellier và làm việc 2 năm tại một cơ sở đường sắt ở Marseille trước khi trở về nước. Kể từ khi trở về Sài Gòn, ông Cung đã làm việc tại hãng sửa chữa ô tô của ông Didier trong suốt 6 năm, nhưng niềm đam mê thực sự của ông là ngành hàng không.

Câu chuyện bắt đầu khi ông Cung tình cờ xem một bộ phim về kỹ sư người Pháp Henry Mignet, người đã chế tạo thành công loại máy bay nhỏ được gọi là "Rận Trời" (Pou du Ciel). Được truyền cảm hứng từ phát minh này, ông Cung quyết định tự mình chế tạo một chiếc máy bay mới, phỏng theo kiểu dáng của "Rận Trời".

Về nước, vốn say mê với thú bay, sau một lần mua vé để bay lượn trên bầu trời Sài Gòn bằng máy bay “Émeraude”, ông Hồ Đắc Cung quyết định sẽ thực hiện ước mơ bằng việc tự chế tạo một “Rận Trời”. Ông mua sách của Mignet để học hỏi và dự kiến chế tạo một máy bay thân gỗ, đạt vận tốc 120 km/giờ, đạt độ cao 3.000 m. Ông đã bán hết gia sản, nhưng vẫn còn thiếu nhiều tiền.

Do gặp khó khăn tài chính, chiếc máy bay mang tên "Rận Trời 132" của ông Cung đã hoàn thiện phần lớn, chỉ còn thiếu động cơ và bánh xe. Qua tờ Hà Thành Ngọ báo, ông vận động tài trợ mãi mới được 17 đồng bạc; ông gặp cả người thân đại gia “Công tử Bạc Liêu” vận động cũng không có kết quả…

Cuối cùng, ông Hồ Đắc Cung quyết định gửi thư trực tiếp lên Hoàng đế Bảo Đại để xin hỗ trợ. Trong thư, ông viết về ước mơ “một người Việt Nam làm được một cái máy bay để bay trên bầu trời Việt Nam”…

Theo nội dung được đăng trên Tràng An Báo số 25 (ngày 24/5/1935), ông Cung thừa nhận đã rất lo lắng rằng bức thư của mình có thể bị phớt lờ. Tuy nhiên, bất ngờ thay, ông nhận được tin từ Ngân hàng Đông Pháp tại Sài Gòn yêu cầu ông đến nhận một khoản tiền.

Khi đến ngân hàng, ông được trao một tờ giấy với vài dòng ngắn gọn, thông báo rằng Hoàng đế Bảo Đại đã phê duyệt và ban cho ông số tiền 300 đồng bạc để hỗ trợ dự án chế tạo máy bay. Niềm vui sướng của ông Cung được mô tả rất rõ: khoản tiền này, mà ông gọi là "kếch xù", đủ để sắm một động cơ của Hãng Poinssard nổi tiếng có công suất 25 mã lực nhập từ Pháp về Việt Nam, giúp dự án của ông tiến thêm một bước lớn.

Ông Hồ Đắc Cung cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với Hoàng đế Bảo Đại và dự định thực hiện một chuyến bay đặc biệt đến Huế để đích thân cảm tạ Hoàng đế ngay sau khi chiếc máy bay được lắp ráp hoàn chỉnh.

“Rận Trời 132” đã sẵn sàng cất cánh. Những cuộc bay thử đầu tiên được tổ chức từ tháng 10 và chuyến bay thành công được thực hiện ngày 26/10/2035 tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Việc chế tạo của Hồ Đắc Cung còn được khích lệ bởi cuộc vận động thành lập “Ailes Tonkinois”, chi nhánh của Câu lạc bộ Hàng không Đông Dương để góp phần tổ chức các cuộc bay thử và công nhận kết quả. Theo tài liệu lịch sử ghi nhận thêm, vào ngày 3/12/1935, chiếc máy bay mang tên “Rận Trời 132” do ông Hồ Đắc Cung chế tạo cũng đã thực hiện chuyến bay thử nghiệm thành công với sự chứng kiến của Giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất, đại diện Câu lạc bộ Hàng không Nam Kỳ (l’Aréo-Club de Cochinchine) và phi công nổi tiếng Van den Born, Chủ tịch Câu lạc bộ Hàng không Nam Kỳ (Touring Chub d’Aérien de Cochinchine).

Cùng thử nghiệm với Hồ Đắc Cung trong ngày 3/12/1935 còn có một phi công Pháp là Testelin cũng cất cánh với “Rận Trời” của mình.

Báo Công Luận ở Sài Gòn, ngày 28-9-1936 còn cho biết ông Hồ Đắc Cung cũng là người Việt Nam đầu tiên thử nghiệm nhảy dù từ máy bay ở độ cao 600 m.

Vào năm 1936, trong một chuyến bay, ông Cung gặp tai nạn phải hạ cánh khẩn cấp trong rừng. Có lẽ vì sự cố này và vì không được tiếp tục hỗ trợ tài chính cho việc sửa chữa và cải tiến máy bay “Rận Trời” nên sau đó không ai còn nghe gì về nó nữa. Ông Cung chuyển sang làm công việc xây dựng nhà cửa. Sau đó, ông sang Pháp tiếp tục mở một công ty về kỹ thuật, rồi lại đến Tunisie ở Bắc Phi tham gia các dự án khoan dầu khí.

Trước khi qua đời vào năm 1984, ông Cung thường kể chuyện quê nhà, tổ tiên và nghề nghiệp cho hai con trai. Ngày 16/10/2024, hai người con trai ông Hồ Đắc Cung về Sài Gòn tìm lại những ký ức liên quan đến thân phụ. Người anh là kỹ sư Hồ Đắc Kinh, từng sống ở Sài Gòn đến năm 18 tuổi rồi theo cha qua Pháp, năm nay 93 tuổi mới về lại Việt Nam cùng em trai là kỹ sư Bernard Hodac, năm nay 67 tuổi. Mang trong mình hai dòng máu Việt - Pháp, ông Bernard Hodac lần đầu thăm Việt Nam, rất vui mừng khám phá nhiều điều hay lạ của quê cha đất tổ.

Ngày 26/10/2025, vào dịp kỷ niệm 90 năm chuyến bay lịch sử ngày 26/10/1935 tại sân bay Tân Sơn Nhất, ông Bernard Hodac đến thăm và chụp hình tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Ngày 29/10/2025 ông Bernard Hodac đến thăm trường Đại học Văn Lang và bày tỏ ý định chế tạo một mô hình lớn bằng máy bay “Rận Trời” của ông Hồ Đắc Cung để trưng bày trong khuôn viên trường Đại học Văn Lang như một dấu ấn lịch sử hàng không đặc biệt, nhằm truyền cảm hứng sáng tạo và khơi dậy tinh thần chinh phục khoa học kỹ thuật trong sinh viên.

r1.jpg


r2.jpg


r3.jpg


r4.jpg


r5.jpg
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
GÓC KHUẤT CHIẾN TRANH
Thớt 64:
CHUYỆN ‘ÔNG TÂY ĐEN’ LÀ ĐẠI TÁ-CỤC TRƯỞNG CỤC ĐỊCH VẬN CỦA QĐND VN.


Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, ít người biết có một cán bộ cao cấp, sĩ quan chỉ huy cấp cục là người nước ngoài, thậm chí là Ủy viên Trung ư.ơng Đ..ảng Cộ..ng s..ản Maroc ở Bắc Phi. Đó là đại tá Nguyễn Chiến Mã - người được Bác Hồ đặt tên.

1/Ghi nhận trong sử sách:
Trong cuốn “Lịch sử Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1947-2007)” do Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2008, có những đoạn ghi chép về sự hiện diện của một cán bộ chỉ huy người nước ngoài mang cái tên Việt Nam là “Nguyễn Chiến Mã” trong lịch sử chiến đấu và phát triển của cơ quan này. (Xin nói thêm, Cục Địch vận còn có tên gọi khác là Cục nghiên cứu/Tổng cục Chính trị, về sau được đổi tên thành Cục Tuyên truyền đặc biệt rồi Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt, hiện nay là Cục Dân vận/Tổng cục C..hính t..rị. Cục Địch vận là Đơn vị Anh hùng LLVT, có 4 cán bộ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng và 28 liệt sĩ..)

Tại trang 103 cuốn sách trên có ghi: “Do tầm quan trọng của công tác địch vận, Hội đồng địch vận Trung ương được thành lập, do đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ C..hính tr..ị làm Chủ tịch; đồng chí Cục trưởng Cục Địch vận là Thư ký thường trực, ủy viên có các đồng chí: Lê Chính, Nguyễn Chiến Mã, Phan Hiền, Lê Diễn”; “Do yêu cầu công tác, sau Chiến dịch Biên giới, Cục Địch vận được tăng cường nhiều cán bộ có năng lực và kinh nghiệm từ các cơ quan dân, chính, Đ..ảng các cấp, trong đó có nhiều đồng chí tỉnh ủ...y viên…Cục còn có sự tham gia giúp đỡ của 4 đồng chí người nước ngoài là các đồng chí: Lê Chính tức Andre (tên thật là Fernand Scremin) và Lăng tức Roland (tên thật là Jean Marrane), đảng viên Đ....ảng Cộ....ng sả....n Pháp; Nguyễn Chiến Mã (tức Mohamad Marouf), Ủy v...iên Tr...ung ư..ơng Đ...ảng C..ộng s..ản Maroc…”.

Trang 163 ghi “Ban lãnh đạo Cục lúc này gồm các đồng chí Lê Chính, Nguyễn Chiến Mã, Vũ Oanh, Lê Diễn, Phan Hiền”.

Trang 164 có ghi “Cục phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đồng chí:…Nguyễn Chiến Mã, Hoàng Linh phụ trách ban lãnh đạo trại tù, hàng binh.

Trang 213 có ghi: “Tháng 10/1954, Cục cử một bộ phận về Hà Nội trước. Tổ chức Cục Địch vận lúc này gồm: Cục trưởng, đồng chí Vũ Oanh; Cục phó là các đồng chí Lê Diễn và Nguyễn Chiến Mã”.

Chú thích ở chân trang 213 về “Nguyễn Chiến Mã” ghi rõ: “Đồng chí Mohamad Marouf, tên Việt Nam là Nguyễn Chiến Mã, Ủy vi...ên Tru...ng ương Đ...ảng C....ộng s....ản Maroc được cử sang giúp ta về công tác vận động binh sĩ địch người châu Phi theo đề nghị của Chủ tịch H..ồ C..hí M...inh với đồng chí Ali Yata, Tổn...g B.. t..hư Đ...ảng C...ộng s....ản Maroc nhân dịp đi dự Đại hội Đ....ảng Cộ...ng sả...n Liê..n X...ô. Có thời gian từ tháng 5 đến tháng 11/1955 đồng chí là Quyền Cục trưởng”.


2/ Qúa trình Công tác tại Việt Nam:
Như thế đã rõ, ông Nguyễn Chiến Mã là Cục phó, nhưng có thời gian là Quyền Cục trưởng khi đồng chí Cục trưởng Vũ Oanh được điều chuyển sang Ban Tổ chức Trun...g ư...ơng Đả....ng.

Theo các tư liệu có được, có thể dựng lại một phần lịch sử hoạt động của vị chỉ huy đặc biệt này như sau:

Ông Nguyễn Chiến Mã (tên thật là Mohammed Ben Aomar Lahrach, biệt danh Maarouf), sinh năm 1922 tại M’zirig, gần thành phố Khouribga (Maroc), là một Ủy v...iên tru...ng ươ...ng Đ...ảng C...ộng s....ản Maroc. Năm 1950, theo đề nghị của lãnh đạo cách mạng Việt Nam (cụ thể là Chủ tịch H..ồ Ch...í Mi..,nh với Tổ..ng Bí th..ư Đ...ảng Cộ...ng s...ản Maroc) qua sự hỗ trợ của Đả...ng Cộ...ng s...ản Pháp, ông được cử sang Việt Nam thực hiện công tác địch vận đối với binh lính Pháp gốc Bắc Phi nhằm vận động họ đầu hàng hoặc chuyển sang chiến đấu cùng Việt Minh.

Theo lời kể của ông Lưu Văn Lợi, các đồng chí Pháp và Maroc đã tổ chức cho ông Maarouf đi lính rồi được đưa sang Việt Nam chiến đấu trong đội quân Bắc Phi (người Maroc, Algieria, Tuynizi…). Khi tới Việt Nam, ông lập tức bỏ hàng ngũ địch chạy sang ta và nhận nhiệm vụ làm công tác địch vận đối với lính Bắc Phi trong quân đội thực dân Pháp.

Khi Đ...ảng Cộn...g s...ản Maroc cử ông sang hỗ trợ Việt Nam (năm 1950), ông 32 tuổi nhưng đã là một trong các Ủy v...iên Tru...ng ương của Đ...ảng và đã từng giữ chức Bí th..ư thà...nh ủy thành phố Casablanca.

Sau khi đón thành công “đồng chí Maarouf” Chủ tịch H..ồ C..hí M...inh đã đặt tên Việt Nam cho ông là Nguyễn Chiến Mã, thường gọi thân mật là “Anh Mã”, với hàm ý tôn vinh như một “bậc trượng phu mã thượng” đồng thời cũng ám chỉ nguồn cội Maroc của ông

Trong thời gian công tác tại Cục Địch vận, ông “Anh Mã” đã trực tiếp và góp phần vận động hàng trăm lính Lê dương người châu Phi và châu Âu rời bỏ hàng ngũ quân đội Pháp để gia nhập lực lượng Việt Minh, góp phần hình thành các đơn vị như DINA — (viết tắt của Détachement de l’Indépendance Nord-Africaine - Đội Bắc Phi độc lập), và nhóm Commando William (chủ yếu là người Đức) sát cánh chiến đấu bên cạnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong thời gian công tác tại Việt Nam từ 1950–1961, “Anh Mã” – Nguyễn Chiến Mã – “đồng chí Maarouf” – đã có các đóng góp chính, bao gồm: Vận động binh lính Bắc Phi rời bỏ quân đội Pháp; tham gia xây dựng đơn vị DINA; hỗ trợ tuyên truyền và huấn luyện công tác địch vận.

Ông đã đóng một vai trò đặc biệt trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Maroc, thể hiện rõ tinh thần quốc tế và chủ nghĩa nhân đạo trong hoạt động địch vận thời kháng chiến.

Với uy tín lớn, ông trở thành một biểu tượng và huyền thoại trong đội ngũ binh lính Bắc Phi, được kính trọng như một viên tướng với biệt danh “Tướng Anh Ma” – gây hoang mang trong hàng ngũ thực dân Pháp.

“Anh Mã” hoạt động tại Việt Nam suốt khoảng từ năm 1950 đến năm 1961. Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3 đến 7/5/1954) là một dấu mốc quan trọng trong quá trình hoạt động của “Anh Mã” tại Việt Nam. “Anh Mã” đã chứng kiến chiến dịch này từ những ngày đầu cho đến khi kết thúc. Nhiều nhân chứng cho biết có thể ông đã tham gia đơn vị phụ trách bắt giữ tướng De Castries - sĩ quan chỉ huy người Pháp tại Điện Biên Phủ.

Bà Camille Lahrech, người vợ (có bà ngoại là người Việt) của “Anh Mã”, kể lại rằng: "Ông ấy đã mang về cho tôi một chiếc khăn choàng của tướng De Castries. Sau này, tôi đã tặng lại cho Roman Karmen, một nhà làm phim người Liên Xô".

Sau ngày hòa bình, “Anh Mã” công tác tại Nông trường Việt–Phi ở Ba Vì (Hà Nội), nhiều binh lính Bắc Phi, châu Âu là tù, hàng binh đã được tổ chức lao động, kết hôn với người Việt và hòa nhập với cộng đồng địa phương.

Một minh chứng văn hóa cho cống hiến của ông là “Cổng làng Maroc” tại xã Tản Lĩnh, Ba Vì, thành phố Hà Nội — do các hàng binh Bắc Phi xây dựng theo sáng kiến của “Anh Mã”. Chiếc cổng này hiện vẫn được gìn giữ và trùng tu như một di tích độc đáo thể hiện tình đoàn kết Việt Nam–Maroc.

Một số nguồn cho biết ông Nguyễn Chiến Mã đã được chính phủ Việt Nam tặng thưởng các Huân chương Kháng chiến, Huân chương Hữu nghị và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng một thanh gươm trước khi ông rời Việt Nam.


3/ Khúc vĩ thanh:
Trở về Maroc và di sản còn lại

Năm 1961, ông trở về Maroc, tiếp tục tham gia chính trị và được ghi nhận như một biểu tượng của tinh thần quốc tế chủ nghĩa.
Cuốn sách “Histoire d’Anh Ma” (Chuyện của Anh Mã) do giáo sư Abdallah Saaf (Đại học Mohamed V, Rabat) viết, xuất bản năm 1996 ghi lại chi tiết cuộc đời ông từ Maroc đến giúp cách mạng Việt Nam và quay trở về nước, đặt trong bối cảnh lịch sử quan hệ Việt Nam – Maroc. Ông được xem là nhân vật biểu tượng trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Maroc trước và sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (27/3/1961).

Một số nguồn đề cập rằng ông mất ngày 7/5/1971 tại ngoại ô Paris (Pháp), Tuy nhiên, thông tin về những đóng góp cụ thể tại Maroc trong khoảng thời gian từ 1961 đến khi ông qua đời vẫn còn rất hạn chế và ít được ghi lại trong các tài liệu phổ biến.

HÌNH ẢNH:

1/ Sách Lịch sử Cục Địch vận,
lịch sử.jpg

2/ Cụ Trường Chinh và các thành viên Cục Địch vận, có cả ông Mã,
Đồng chí Trường Chinh và các thành viên đội DINA.jpg

3/ Cụ Mã nhận huân chương Quân công,
Đc Nguyễn Chiến Mã nhận Huân chương Quân công.jpg

4/ Vợ chồng cụ Mã,
vợ ck ô chiến mã.jpg

5/ Phát hành cuốn sách Chuyện Anh Mã tại Hà Nội,
Phát hành cuốn sách Chuyện Anh Mã tại Hà Nội.jpg

6/ Bìa cuốn Hồi ký của cụ Mã.
sách.jpg


7/ Nguyễn Chiến Mã (thứ hai phải sang) và đồng đội chụp bên xe tăng chiến lợi phẩm ở Điện Biên Phủ:

Nguyễn Chiến Mã (thứ hai phải sang) và đồng đội chụp bên xe tăng chiến lợi phẩm ở Điện Biên Phủ.jpg
 
Chỉnh sửa cuối:

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
Các cán bộ lão thành của Cục Địch vận thời kỳ chống Pháp đều nhắc đến cái tên “Anh Mã Thủ trưởng cục” với sự kính trọng và trìu mến. Có cụ còn khẳng định “Anh Mã” là “đồng Cục trưởng”, “được Bác Hồ phong quân hàm Đại tá”.
 

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,624
Động cơ
661,600 Mã lực
GÓC KHUẤT CHIẾN TRANH
Thớt 64:
CHUYỆN ‘ÔNG TÂY ĐEN’ LÀ ĐẠI TÁ-CỤC TRƯỞNG CỤC ĐỊCH VẬN CỦA QĐND VN.


Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, ít người biết có một cán bộ cao cấp, sĩ quan chỉ huy cấp cục là người nước ngoài, thậm chí là Ủy viên Trung ư.ơng Đ..ảng Cộ..ng s..ản Maroc ở Bắc Phi. Đó là đại tá Nguyễn Chiến Mã - người được Bác Hồ đặt tên.

1/Ghi nhận trong sử sách:
Trong cuốn “Lịch sử Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1947-2007)” do Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2008, có những đoạn ghi chép về sự hiện diện của một cán bộ chỉ huy người nước ngoài mang cái tên Việt Nam là “Nguyễn Chiến Mã” trong lịch sử chiến đấu và phát triển của cơ quan này. (Xin nói thêm, Cục Địch vận còn có tên gọi khác là Cục nghiên cứu/Tổng cục Chính trị, về sau được đổi tên thành Cục Tuyên truyền đặc biệt rồi Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt, hiện nay là Cục Dân vận/Tổng cục C..hính t..rị. Cục Địch vận là Đơn vị Anh hùng LLVT, có 4 cán bộ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng và 28 liệt sĩ..)

Tại trang 103 cuốn sách trên có ghi: “Do tầm quan trọng của công tác địch vận, Hội đồng địch vận Trung ương được thành lập, do đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ C..hính tr..ị làm Chủ tịch; đồng chí Cục trưởng Cục Địch vận là Thư ký thường trực, ủy viên có các đồng chí: Lê Chính, Nguyễn Chiến Mã, Phan Hiền, Lê Diễn”; “Do yêu cầu công tác, sau Chiến dịch Biên giới, Cục Địch vận được tăng cường nhiều cán bộ có năng lực và kinh nghiệm từ các cơ quan dân, chính, Đ..ảng các cấp, trong đó có nhiều đồng chí tỉnh ủ...y viên…Cục còn có sự tham gia giúp đỡ của 4 đồng chí người nước ngoài là các đồng chí: Lê Chính tức Andre (tên thật là Fernand Scremin) và Lăng tức Roland (tên thật là Jean Marrane), đảng viên Đ....ảng Cộ....ng sả....n Pháp; Nguyễn Chiến Mã (tức Mohamad Marouf), Ủy v...iên Tr...ung ư..ơng Đ...ảng C..ộng s..ản Maroc…”.

Trang 163 ghi “Ban lãnh đạo Cục lúc này gồm các đồng chí Lê Chính, Nguyễn Chiến Mã, Vũ Oanh, Lê Diễn, Phan Hiền”.

Trang 164 có ghi “Cục phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đồng chí:…Nguyễn Chiến Mã, Hoàng Linh phụ trách ban lãnh đạo trại tù, hàng binh.

Trang 213 có ghi: “Tháng 10/1954, Cục cử một bộ phận về Hà Nội trước. Tổ chức Cục Địch vận lúc này gồm: Cục trưởng, đồng chí Vũ Oanh; Cục phó là các đồng chí Lê Diễn và Nguyễn Chiến Mã”.

Chú thích ở chân trang 213 về “Nguyễn Chiến Mã” ghi rõ: “Đồng chí Mohamad Marouf, tên Việt Nam là Nguyễn Chiến Mã, Ủy vi...ên Tru...ng ương Đ...ảng C....ộng s....ản Maroc được cử sang giúp ta về công tác vận động binh sĩ địch người châu Phi theo đề nghị của Chủ tịch H..ồ C..hí M...inh với đồng chí Ali Yata, Tổn...g B.. t..hư Đ...ảng C...ộng s....ản Maroc nhân dịp đi dự Đại hội Đ....ảng Cộ...ng sả...n Liê..n X...ô. Có thời gian từ tháng 5 đến tháng 11/1955 đồng chí là Quyền Cục trưởng”.


2/ Qúa trình Công tác tại Việt Nam:
Như thế đã rõ, ông Nguyễn Chiến Mã là Cục phó, nhưng có thời gian là Quyền Cục trưởng khi đồng chí Cục trưởng Vũ Oanh được điều chuyển sang Ban Tổ chức Trun...g ư...ơng Đả....ng.

Theo các tư liệu có được, có thể dựng lại một phần lịch sử hoạt động của vị chỉ huy đặc biệt này như sau:

Ông Nguyễn Chiến Mã (tên thật là Mohammed Ben Aomar Lahrach, biệt danh Maarouf), sinh năm 1922 tại M’zirig, gần thành phố Khouribga (Maroc), là một Ủy v...iên tru...ng ươ...ng Đ...ảng C...ộng s....ản Maroc. Năm 1950, theo đề nghị của lãnh đạo cách mạng Việt Nam (cụ thể là Chủ tịch H..ồ Ch...í Mi..,nh với Tổ..ng Bí th..ư Đ...ảng Cộ...ng s...ản Maroc) qua sự hỗ trợ của Đả...ng Cộ...ng s...ản Pháp, ông được cử sang Việt Nam thực hiện công tác địch vận đối với binh lính Pháp gốc Bắc Phi nhằm vận động họ đầu hàng hoặc chuyển sang chiến đấu cùng Việt Minh.

Theo lời kể của ông Lưu Văn Lợi, các đồng chí Pháp và Maroc đã tổ chức cho ông Maarouf đi lính rồi được đưa sang Việt Nam chiến đấu trong đội quân Bắc Phi (người Maroc, Algieria, Tuynizi…). Khi tới Việt Nam, ông lập tức bỏ hàng ngũ địch chạy sang ta và nhận nhiệm vụ làm công tác địch vận đối với lính Bắc Phi trong quân đội thực dân Pháp.

Khi Đ...ảng Cộn...g s...ản Maroc cử ông sang hỗ trợ Việt Nam (năm 1950), ông 32 tuổi nhưng đã là một trong các Ủy v...iên Tru...ng ương của Đ...ảng và đã từng giữ chức Bí th..ư thà...nh ủy thành phố Casablanca.

Sau khi đón thành công “đồng chí Maarouf” Chủ tịch H..ồ C..hí M...inh đã đặt tên Việt Nam cho ông là Nguyễn Chiến Mã, thường gọi thân mật là “Anh Mã”, với hàm ý tôn vinh như một “bậc trượng phu mã thượng” đồng thời cũng ám chỉ nguồn cội Maroc của ông

Trong thời gian công tác tại Cục Địch vận, ông “Anh Mã” đã trực tiếp và góp phần vận động hàng trăm lính Lê dương người châu Phi và châu Âu rời bỏ hàng ngũ quân đội Pháp để gia nhập lực lượng Việt Minh, góp phần hình thành các đơn vị như DINA — (viết tắt của Détachement de l’Indépendance Nord-Africaine - Đội Bắc Phi độc lập), và nhóm Commando William (chủ yếu là người Đức) sát cánh chiến đấu bên cạnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong thời gian công tác tại Việt Nam từ 1950–1961, “Anh Mã” – Nguyễn Chiến Mã – “đồng chí Maarouf” – đã có các đóng góp chính, bao gồm: Vận động binh lính Bắc Phi rời bỏ quân đội Pháp; tham gia xây dựng đơn vị DINA; hỗ trợ tuyên truyền và huấn luyện công tác địch vận.

Ông đã đóng một vai trò đặc biệt trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Maroc, thể hiện rõ tinh thần quốc tế và chủ nghĩa nhân đạo trong hoạt động địch vận thời kháng chiến.

Với uy tín lớn, ông trở thành một biểu tượng và huyền thoại trong đội ngũ binh lính Bắc Phi, được kính trọng như một viên tướng với biệt danh “Tướng Anh Ma” – gây hoang mang trong hàng ngũ thực dân Pháp.

“Anh Mã” hoạt động tại Việt Nam suốt khoảng từ năm 1950 đến năm 1961. Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3 đến 7/5/1954) là một dấu mốc quan trọng trong quá trình hoạt động của “Anh Mã” tại Việt Nam. “Anh Mã” đã chứng kiến chiến dịch này từ những ngày đầu cho đến khi kết thúc. Nhiều nhân chứng cho biết có thể ông đã tham gia đơn vị phụ trách bắt giữ tướng De Castries - sĩ quan chỉ huy người Pháp tại Điện Biên Phủ.

Bà Camille Lahrech, người vợ (có bà ngoại là người Việt) của “Anh Mã”, kể lại rằng: "Ông ấy đã mang về cho tôi một chiếc khăn choàng của tướng De Castries. Sau này, tôi đã tặng lại cho Roman Karmen, một nhà làm phim người Liên Xô".

Sau ngày hòa bình, “Anh Mã” công tác tại Nông trường Việt–Phi ở Ba Vì (Hà Nội), nhiều binh lính Bắc Phi, châu Âu là tù, hàng binh đã được tổ chức lao động, kết hôn với người Việt và hòa nhập với cộng đồng địa phương.

Một minh chứng văn hóa cho cống hiến của ông là “Cổng làng Maroc” tại xã Tản Lĩnh, Ba Vì, thành phố Hà Nội — do các hàng binh Bắc Phi xây dựng theo sáng kiến của “Anh Mã”. Chiếc cổng này hiện vẫn được gìn giữ và trùng tu như một di tích độc đáo thể hiện tình đoàn kết Việt Nam–Maroc.

Một số nguồn cho biết ông Nguyễn Chiến Mã đã được chính phủ Việt Nam tặng thưởng các Huân chương Kháng chiến, Huân chương Hữu nghị và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng một thanh gươm trước khi ông rời Việt Nam.


3/ Khúc vĩ thanh:
Trở về Maroc và di sản còn lại

Năm 1961, ông trở về Maroc, tiếp tục tham gia chính trị và được ghi nhận như một biểu tượng của tinh thần quốc tế chủ nghĩa.
Cuốn sách “Histoire d’Anh Ma” (Chuyện của Anh Mã) do giáo sư Abdallah Saaf (Đại học Mohamed V, Rabat) viết, xuất bản năm 1996 ghi lại chi tiết cuộc đời ông từ Maroc đến giúp cách mạng Việt Nam và quay trở về nước, đặt trong bối cảnh lịch sử quan hệ Việt Nam – Maroc. Ông được xem là nhân vật biểu tượng trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Maroc trước và sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (27/3/1961).

Một số nguồn đề cập rằng ông mất ngày 7/5/1971 tại ngoại ô Paris (Pháp), Tuy nhiên, thông tin về những đóng góp cụ thể tại Maroc trong khoảng thời gian từ 1961 đến khi ông qua đời vẫn còn rất hạn chế và ít được ghi lại trong các tài liệu phổ biến.

HÌNH ẢNH:

1/ Sách Lịch sử Cục Địch vận,
lịch sử.jpg

2/ Cụ Trường Chinh và các thành viên Cục Địch vận, có cả ông Mã,
Đồng chí Trường Chinh và các thành viên đội DINA.jpg

3/ Cụ Mã nhận huân chương Quân công,
Đc Nguyễn Chiến Mã nhận Huân chương Quân công.jpg

4/ Vợ chồng cụ Mã,
vợ ck ô chiến mã.jpg

5/ Phát hành cuốn sách Chuyện Anh Mã tại Hà Nội,
Phát hành cuốn sách Chuyện Anh Mã tại Hà Nội.jpg

6/ Bìa cuốn Hồi ký của cụ Mã.
sách.jpg


7/ Nguyễn Chiến Mã (thứ hai phải sang) và đồng đội chụp bên xe tăng chiến lợi phẩm ở Điện Biên Phủ:

Nguyễn Chiến Mã (thứ hai phải sang) và đồng đội chụp bên xe tăng chiến lợi phẩm ở Điện Biên Phủ.jpg
Còn cụ người Angieri được dựng thành phim này là ai vậy các cụ nhỉ, mới đầu em cứ tưởng cụ này
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
GÓC KHUẤT CHIẾN TRANH
Thớt 65:

CỔNG LÀNG MA RỐC – CỔNG LÀNG VIỆT - PHI

(Tiếp theo chuyện ‘Ông Tây đen là Đại tá của ta)


1/ Chiếc cổng làng:


Trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 11/2008, Th...ủ tướ...ng Maroc Aba..ddi Nej...aned đã đến thăm Cổng Maroc. Bên cạnh chiếc cổng chào, Đạ..i sứ q..uán Maroc đã cho dựng một tấm bia ghi lại lịch sử của di sản này với lời kết: “Cánh cổng này đã nhiều năm chống chọi lại với sự tàn phá của thời gian, là tài sản chung, biểu tượng cho tình đoàn kết giữa con người với con người”.

Theo phó b..í t....hư Tản lĩnh, anh Phùng Anh Tuấn, sinh năm 1968: “Tôi sinh ra, lớn lên gần công trình này, ngày ngày đi học, đi chăn bò qua nó. Lớn lên, đi xe, đón xe cũng lấy tên địa điểm để hẹn, đó là cổng làng Việt – Phi, hay cổng Nông trường Việt – Phi và còn được gắn tên Cổng làng Ma rốc.”

2/ Câu chuyện vầ làng Âu-Phi:

Ngược dòng lịch sử, trong cuộc tọa đàm, các thông tin về Cổng Maroc rất thú vị, cái cổng bé mang nhiều ý nghĩa to lớn, không chỉ cho Việt Nam mà cho rất nhiều quốc gia liên quan. Nhất là việc ứng xử với tù binh, hàng binh trong chiến tranh khi đang diễn ra.

Trong chiến tranh Việt Nam, Pháp huy động lực lượng lính đánh thuê từ khắp thế giới, rất nhiều từ các nước Bắc Phí trên 50 ngàn người, trong đó các lính từ Maroc. Quân đội Việt Nam khi đó vừa chiến đấu, vừa tuyên truyền.

B...ác H...ồ với quan hệ của mình, đã liên lạc với Đ....ảng C...S Maroc yêu cầu giúp đỡ. Cuối những năm 1940, Đ....ảng Cộ...ng sả... Maroc cử ông M’hamed Ben Aomar Lahrach, một Uỷ v..iên tru...ng ươ...ng, sang chiến đấu cùng nhân dân Việt Nam. Theo giáo sư Abdallah Saaf, lời đề nghị của Việt Nam được Uỷ ban phụ trách các vấn đề thuộc địa của Tr...ung ươ...ng Đ...ả...ng Cộ...ng s....ản Pháp chuyển tới. Bác Hồ khi đó đặt tên cho anh ta là Nguyễn Chiến Mã và còn gọi là Anh Mã.

Mục đích việc mời Anh Mã sang giúp chính là tuyên truyền, vận động lính đánh thuê ra hàng và đầu quân cho quân đội Việt Nam! Rất nhiều lính Maroc khi đó, là những thanh niên nông thôn nghèo ở Maroc, được lôi kéo thành linh đánh thuê. Sang Việt Nam, nhìn con người nhỏ bé và nghèo đang chống lại họ, họ đã rời bỏ hàng ngũ và sang đội quân Việt Nam rất nhiều. Có khá nhiều câu chuyện áp giải tù binh, hàng binh.

-“Linh Việt Nam nhỏ bé, ôm súng áp giải, khi qua suối, sợ ướt súng, hàng binh Maroc cao lớn đã ôm súng và ba lô hộ, sang bờ bên kia lại đưa súng cho anh lính Việt Nam áp giải tiếp…”

-“Hàng ngàn lính Lê dương đầu hàng và bị bắt, nhiều người tham gia vào quân đội Việt Nam, nhiều người được đưa về các địa phương ổn định cuộc sống.”

Năm 1954, hòa bình lập lại, 300 hàng binh, tù binh Âu - Phi, trong đó phần lớn lính Maroc được đưa về Tản lĩnh Ba vì, Hà nội. Sau đó có thêm 100 Việt kiều từ Thái lan. Khoảng 200 người đã lấy vợ Việt Nam thành 200 gia đình ở đây

Ngoài cổng làng, còn có khu nhà ở. Sân rộng, hội trường… nay không còn nữa.”

Ch....ính ph...ủ Việt Nam cho thành lập nông trường Việt – Phi và những hàng binh, tù binh, không chỉ được đối xử tốt, chăm sóc cuộc sống, nông trường Việt – Phi ở Tản lĩnh đã tạo công ăn việc làm cho họ, ổn định cuộc sống. Chăn nuôi bò sữa, trồng cấy nông nghiệp. Họ đã gắn bó như quê hương mình.

Tuy hơn 400 người ban đầu, thuộc hơn 20 quốc gia, dân tộc khác nhau, nhưng đa số là Maroc, năm 1963, theo sáng kiến của Anh Mã, để cho giống như ở quê hương, họ đã xây một số công trình, trong đó có cổng làng, một cái cổng đặc biệt với kiến trúc Maroc đặc trưng. Cổng làng được gọi tên theo nơi họ ở “Cổng làng V...iệt – Phi”, “Cổng nông trường V...iệt – Phi” và nhân dân quanh vùng cũng coi đây là một địa điểm sinh hoạt văn hóa bấy giờ.

Do cảnh quan đẹp và có ý nghĩa quốc tế nên các vị khách nước ngoài lúc bấy giờ thường lui tới nghỉ ngơi viết lách tại nông trường như nữ văn sĩ Pháp Madeleine Riffaud, nhà báo Australia Wiliam Buchet, đạo diễn điện ảnh Nga Agida Ibrahim, đạo diễn điện ảnh Việt Nam Phạm Văn Khoa, Tổ..ng Bí th...ư Đả....ng C...S Ma-rốc Aliyata, cán bộ Đ...ả....ng C...S Angeria Cherifi cũng từng lên gặp gỡ anh em ở đây.

Khi hàng binh Maroc rời đi năm 1972, vẫn còn 3 gia đình con cháu hàng binh bị mắc kẹt ở lại do không chứng minh được nguồn gốc Maroc vì bố họ đã chết trước đó. Đại sứ quán Maroc tại Hà Nội đang hỗ trợ các gia đình này xin quốc tịch Maroc để hồi hương theo nguyện vọng. Tháng 2/2014, hãng thông tấn Alja...zeera đã có phóng sự mang tên “40 năm cô đơn” kể về 3 gia đình con cháu hàng binh Maroc hiện sống tại huyện Đoan Hùng, Phú Thọ và những góa phụ người Việt của hàng binh hiện đang sinh sống tại Maroc.

Anh Mã, người đã cảm hóa được nhiều binh lính Âu Phi, đóng góp to lớn vào cuộc kháng chiến của Việt Nam. Đối với những người lính Bắc Phi, Anh Mã trở thành một huyền thoại. Anh rời Việt Nam năm 1960 với nhiều huân chương và thanh gươm do đại tướng V..õ Ngu...yên Giá.,.,.,p tặng.

3/ Câu chuyện của anh Thanh, chủ đất có chiếc ‘cổng làng Ma-rốc’:

Hai bố con anh Thanh, hiện là chủ nhà, có cái cổng tam quan cao cơ 5-6 mét. Cũng chia làm 3 phần như đa số cổng làng Việt Nam. Giữa có khoảng không gian rộng và hai bên là hai cổng phụ.

Công trình nằm gọn trong vườn nhà một anh Thanh. Có lẽ vậy, không nhiều người để ý nếu không biết từ trước.

Cổng sao chép trung thành phong cách Ma-rốc cổ điển, có chiều cao tám thước, với vòm cổng, cột trụ và những dải phù điêu trang trí với bốn trụ tròn vững chãi, đỡ ba vòm lớn trang trí bằng họa tiết của những thành lũy A..rab cổ xưa.

Thời gian dài trước đây, khi nông trường Ba vì phân tán, nhà dân được phân chia cát cứ đất nông trường. Nhà anh Thanh ôm trọn cái cổng xây này. Do thiếu nguyên vật liệu xây dựng, nhiều gạch, sắt… đã bị gỡ dần và cùng thời gian, nó trở thành phế tích.”Nhiều người khuyên tôi đập bỏ nó đi cho gọn vườn, nhưng tôi vẫn giữ lại.” Anh Thanh kể.

“Tôi sẵn sàng rời nhà đi chỗ mới để nhà nước quy hoạch lại thành khu di tích với cổng làng này.” Anh Thanh, người chủ mảnh vườn có công trình cổng làng Maroc nằm bên trong đã nói như vậy vơi các cơ quan chức năng.

4/Tâm tư cá nhân:

Mong ‘bề trên’ sẽ sớm bố trí kinh phí đền bù, để anh Thanh bán lại mảnh đất này, để tôn tạo thành di tích, để minh chứng cho sự khôn khéo, lòng bao dung và cách ứng xử của người Việt Nam với đội quân đánh thuê từ khi dụ hàng, thành hàng binh, tù binh và được sinh sống như công dân Việt Nam.

5/ Hình minh họa:

5.1/ Cổng làng chụp gần

Cổng làng 01.jpg


5.2/ Hiện trạng Cổng làng đang nằm trong đất của người dân
Cổng làng 02.jpg



5.3/ Tấm bia kỷ niệm về làng Ma-rốc

Cổng làng 03 - Bia kỷ niệm.jpeg


5.4/ Du khách bên cổng làng

Cổng làng 04 - nằm trong đất vườn.jpg
 
Chỉnh sửa cuối:

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,624
Động cơ
661,600 Mã lực
Tôi đoán là dựa trên một phần của câu chuyện trên.
Mới đầu em cũng nghĩ như cụ nhưng rồi phủ nhận, vì phim này là hợp tác Algeria- Việt Nam, nghĩa là nhân vật có thật trong lịch sử Algeria, nên họ mới đầu tư tiền bạc diễn viên với bối cảnh Algeria như sa mạc, thủ đô.
Bữa em cũng có làm 1 pic góc khuất chiến tranh tính chia sẻ một số câu hỏi, trong đó cũng có câu hỏi về cụ Algeria này, và một cụ khác là đặc nhiệm Liên Xô tham chiến ở Việt Nam trong vụ cướp máy bay trực thăng Mỹ, nhưng bị xoá vì không có nguồn tin chính thống, dù em có dẫn nguồn phim ảnh như trên, các Website có đưa tin..em cũng chịu thôi, coi như câu hỏi ko có lời giải.
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
Mới đầu em cũng nghĩ như cụ nhưng rồi phủ nhận, vì phim này là hợp tác Algeria- Việt Nam, nghĩa là nhân vật có thật trong lịch sử Algeria, nên họ mới đầu tư tiền bạc diễn viên với bối cảnh Algeria như sa mạc, thủ đô.
Bữa em cũng có làm 1 pic góc khuất chiến tranh tính chia sẻ một số câu hỏi, trong đó cũng có câu hỏi về cụ Algeria này, và một cụ khác là đặc nhiệm Liên Xô tham chiến ở Việt Nam trong vụ cướp máy bay trực thăng Mỹ, nhưng bị xoá vì không có nguồn tin chính thống, dù em có dẫn nguồn phim ảnh như trên, các Website có đưa tin..em cũng chịu thôi, coi như câu hỏi ko có lời giải.
Có thông tin về cụ người Angieri được dựng thành phim cho bạn đây:

Slimane Hoffman
là một trung úy người Algeria, từng là tù binh Pháp tại Điện Biên Phủ, đã xin gia nhập Việt Minh, sau này trở thành nhân vật quan trọng của phong trào giải phóng Algeria, thể hiện sức ảnh hưởng sâu sắc của chiến thắng Điện Biên Phủ đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đặc biệt là Algeria. Ông trở về quê hương và chiến đấu, trở thành một đại tá, góp phần vào cuộc chiến giành độc lập cho Algeria.

Chi tiết về Slimane Hoffman:

Bối cảnh: Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sau khi bị bắt làm tù binh, Slimane Hoffman đã có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về Việt Minh.

Sự chuyển đổi: Những cuộc trao đổi, học hỏi tại trại tù đã khiến ông thay đổi nhận thức, cảm nhận được tinh thần yêu nước và quyết tâm giành độc lập của Việt Nam.

Trở về Algeria: Khi được trao trả tự do, Hoffman về nước và tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng Algeria (FLN), trở thành một sĩ quan cao cấp (đại tá cục trưởng) và chiến đấu chống thực dân Pháp.

Ảnh hưởng: Câu chuyện của ông trở thành biểu tượng cho thấy chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng của Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ, lan tỏa đến các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Phi.

Đường link trên báo của ta:

z7363030485711_4034a5c0b4beafb0487f5388ebf4158f.jpg


z7363030464798_a910af22d60d6763977bb823099c643c.jpg
 

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,624
Động cơ
661,600 Mã lực
Có thông tin về cụ người Angieri được dựng thành phim cho bạn đây:

Slimane Hoffman là một trung úy người Algeria, từng là tù binh Pháp tại Điện Biên Phủ, đã xin gia nhập Việt Minh, sau này trở thành nhân vật quan trọng của phong trào giải phóng Algeria, thể hiện sức ảnh hưởng sâu sắc của chiến thắng Điện Biên Phủ đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đặc biệt là Algeria. Ông trở về quê hương và chiến đấu, trở thành một đại tá, góp phần vào cuộc chiến giành độc lập cho Algeria.

Chi tiết về Slimane Hoffman:

Bối cảnh: Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sau khi bị bắt làm tù binh, Slimane Hoffman đã có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về Việt Minh.

Sự chuyển đổi: Những cuộc trao đổi, học hỏi tại trại tù đã khiến ông thay đổi nhận thức, cảm nhận được tinh thần yêu nước và quyết tâm giành độc lập của Việt Nam.

Trở về Algeria: Khi được trao trả tự do, Hoffman về nước và tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng Algeria (FLN), trở thành một sĩ quan cao cấp (đại tá cục trưởng) và chiến đấu chống thực dân Pháp.

Ảnh hưởng: Câu chuyện của ông trở thành biểu tượng cho thấy chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng của Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ, lan tỏa đến các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Phi.

Đường link trên báo của ta:

z7363030485711_4034a5c0b4beafb0487f5388ebf4158f.jpg


z7363030464798_a910af22d60d6763977bb823099c643c.jpg
Thấy trong phim thì râu ông nọ cắm cằm bà kia nhỉ, thấy giống ông Ma rốc hơn. Sẵn đây, em đố cụ, từ khi thành lập nước 1945 đến nay, nhà nước ta đã công nhận về pháp luật 3 người có 2 người vợ chính thức, cụ có biết 3 người ấy là ai không :)) , do 3 cụ ấy đều ở trong quân
Gợi ý: 1 cụ đã được dựng thành phim
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
Thấy trong phim thì râu ông nọ cắm cằm bà kia nhỉ, thấy giống ông Ma rốc hơn. Sẵn đây, em đố cụ, từ khi thành lập nước 1945 đến nay, nhà nước ta đã công nhận về pháp luật 3 người có 2 người vợ chính thức, cụ có biết 3 người ấy là ai không :)) , do 3 cụ ấy đều ở trong quân
Gợi ý: 1 cụ đã được dựng thành phim
:D
Thồi, tớ còn phải đi bế cháu:D
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
3 ông đều có số má trong quân hết nên nhà nước ta mới đặc cách cho lấy 2 vợ =))
Ông lên phim đây, mời cụ thẩm, tập cuối là cảnh 2 bà vợ gặp nhau
Thanks bác nhé. Tôi sẽ xem ạ.
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
Kể thêm chuyện cụ Mã:

Chỉ nguyên việc, làm thế nào để đưa cụ Mã, đang là đương kim Ủ..y vi..ê.n T.....W của Đ ...C.... S Maroc ở Bắc Phi - từng giữ chức B...í th..ư Th..à. ..nh ủ...y Casablanca => trở thành lính của quân đội viễn chinh của Ph....áp, mà phải đóng ở Bắc Việt Nam cơ.

Sau đó mới danh chính ngôn thuận là ‘lính của tiểu đoàn abc tại Bắc Kỳ’ -phản chiến để chở về với Việ..t Mi..nh chính nghĩa – đấu tranh cho tự do độc lập của dân tộc Việ...t N...am.

Rồi sau đó, trở thành ‘đại tá’ của Vệ quốc đoàn.

Chỉ riêng chuyện đó, đã xứng đáng là một cuốn tiểu thuyết phản gián ly kỳ và rùng rợn, chả kém gì các tiểu thuyết ‘tình báo Li..ê..n X..ô bắt gián điệp Đứ..c’ trong thế chiến 2, mà chúng ta vẫn đọc hồi bé.
 
Chỉnh sửa cuối:

Ngo Rung

Xe cút kít
Biển số
OF-73049
Ngày cấp bằng
16/9/10
Số km
16,985
Động cơ
477,153 Mã lực
Viết xong vài dòng, chợt em nhận ra việc công nhận tình báo Mỹ, tình báo Trung Quốc cừ khôi thế nào trong chiến tranh VN đúng là nhạy cảm thiệt. Mục đích ban đầu của em chỉ muốn cho mọi người thấy họ cũng giỏi như thế nào, và Việt Nam ta còn giỏi hơn họ, chứ không phải chỉ là chiến thắng một chiều, lúc nào mình cũng thắng trong khi địch như những thằng ngu. Và việc tình báo của họ bị thất thủ rất kỳ lạ, bên ta thì bảo do ông bà gánh còng lưng, như vụ Sơn Tây, ám sát tướng Giáp, và tướng Đan dưới đây, ( có thể là ngẫu nhiên nhưng Mỹ viết là tình báo nội gián cung cấp thông tin, và không báo chính thống nào đưa tin nên mọi người coi là tin vịt đi)

Tiếng chuông điện thoại lúc 8 giờ tối và sự thoát chết kỳ lạ của vị tướng tư lệnh mặt trận

Vào buổi sáng ngày 22.2.1979, ba tôi rẽ qua nhà, thông báo ngắn gọn với mẹ con tôi rằng ông sẽ lên chiến trường Lạng Sơn.

Chiều hôm trước, Đại tướng Văn Tiến Dũng và Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn đã gọi ba tôi về từ Học viện Quân sự cao cấp, nơi ông đang làm Phó Giám đốc, trao cho ba tôi quyết định bổ nhiệm ông làm Tư lệnh Quân đoàn 5 (sau đổi tên thành Quân đoàn 14), Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn.

Ba tôi với Đại tướng Lê Trọng Tấn có một mối thâm tình đặc biệt. Nơi nào chiến trường khốc liệt nhất, Đại tướng Lê Trọng Tấn sẽ nghĩ đến ba tôi. Còn với ba tôi, Tướng Lê Trọng Tấn là người anh, là "đại ca" - người mà dù bảo ông nhảy vào biển lửa ông cũng nhảy vào.

Ngay khi nhận được mệnh lệnh, ông chỉ về qua nhà 30 phút, bình thản từ biệt mẹ con tôi như thể đó chỉ là một ngày đi làm bình thường. Một chiếc xe của Bộ Quốc phòng đã chờ sẵn ngoài cửa, đưa ba tôi lên Lạng Sơn - nơi cuộc chiến ở biên giới Việt - Trung khốc liệt nhất.

Cái đấm tay đau đớn của Tướng Hoàng Đan trong chiến tranh biên giới: LỊCH SỬ LÀ GÌ MÀ LÀM LÍNH TÔI KHỔ THẾ? - Ảnh 5.
Tư lệnh Hoàng Đan ở mặt trận Lạng Sơn cùng với các cố vấn quân sự Liên Xô.
Ở Lạng Sơn, quân Trung Quốc dùng chiến thuật biển người khi tràn sang biên giới Việt Nam. 50.000 quân của chúng ta (trong đó chủ yếu là bộ đội địa phương, quân du kích và các đơn vị làm kinh tế vừa chuyển sang chiến đấu) đã phải chiến đấu chống lại 180.000 quân địch, nên chỉ sau vài ngày, 3 sư đoàn của ta ở Lạng Sơn đều tơi tả.

Vì địch quá đông, nên khi ba tôi lên đến Lạng Sơn thì TX Lạng Sơn vẫn đang cầm cự, nhưng việc mất TX Lạng Sơn có thể chỉ còn là ngày một ngày hai.

Lạng Sơn cách Hà Nội chỉ 150km. Ai cũng hiểu, nếu Trung Quốc vượt qua được đèo Sài Hồ, chiếm tỉnh Lạng Sơn thì có nghĩa rằng sẽ khó còn gì ngăn cản chúng tiến về Hà Nội. Và lẽ dĩ nhiên Thủ đô Hà Nội sẽ rơi vào tình trạng chiến tranh.

Ba tôi được cử lên làm Tư lệnh Mặt trận đúng lúc ngặt nghèo đó, với nhiệm vụ bằng mọi giá giữ Lạng Sơn, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh lan về Hà Nội.

Một buổi sáng ngay khi vừa đặt chân lên Lạng Sơn, ông ngồi trong chiếc xe bọc thép chỉ huy K63 đi thẳng lên khu vực tiền duyên để khảo sát các phương án phản công. Chiếc xe bị trúng đạn chống tăng nổ tung...

Chỉ một vài tiếng sau, tin xấu nhanh chóng được báo về, lan khắp Bộ Quốc phòng, lan sang cả khu tập thể 38 Trần Phú.

Tất cả mọi người đều nghĩ rằng ba tôi đã chết. Nhưng vì chưa phải thông tin chính thức, nên không một ai dám thông báo với gia đình tôi.

Suốt cả ngày, bầu không khí của cả khu tập thể vô cùng căng thẳng. Không một ai cười nói với mẹ con tôi như mọi ngày. Hàng xóm thậm chí tránh nhìn mặt chúng tôi. Nhưng là con nhà lính, tôi mơ hồ hiểu rằng chắc hẳn đã có chuyện không hay xảy ra cho ba mình.

Buổi chiều khi mẹ tôi đi làm về, tôi hiểu bà đã biết tin. Bà im lặng một cách đáng sợ suốt bữa cơm tối. Nhưng cả buổi tối, chúng tôi chỉ cắm cúi ăn cơm, cố gắng tránh nói với nhau về chuyện đó chừng nào có thể.

Lúc 8 giờ tối, điện thoại nhà tôi réo lên từng hồi. Không một ai trong gia đình tôi chịu đứng lên nghe điện thoại, vì không ai đủ can đảm và cũng không ai muốn mình người phải nghe tin tức khủng khiếp đó đầu tiên.

Cuối cùng tôi - bé nhất nhà, đứng bật dậy, lãnh lấy trách nhiệm đó... Nhưng ở đầu dây bên kia không phải ai xa lạ, mà chính là giọng ba tôi giòn giã. Tôi hét lên "Ba, ba, ba..." và mọi thứ vỡ òa.

Ba tôi kể, sáng hôm đó, sau khi bị trúng đạn, tất cả mọi người trên xe đều hy sinh. Chỉ có mình ba tôi may mắn thoát chết. Ông thoát được ra ngoài, đi bộ về Sở Chỉ huy, tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Đến 8g tối mới nhớ ra là cần gọi điện về nhà. Tôi vẫn nhớ ông cười rổn rảng trong điện thoại, nói với mẹ tôi điều ông vẫn hay nói: "Bọn Tàu sao giết nổi tôi".

Vụ này thêm mắm thêm muối cho ly kỳ thôi. Chứ trên chiến trường, thấy có mục tiêu là phơ thôi. Chuyện cụ HĐ bị bắn và thoát chết cũng chỉ là một trong nhiều sự kiện bình thường trên chiến trường. Rất nhiều chuyện của các cụ Cựu binh kể lại cũng nhiều chuyện thoát chết ly kỳ và may mắn như thế. Các cụ Cựu binh vẫn bảo, ra chiến trường đạn nó né mình, chứ mình không né được đạn đâu.
Nhiều chuyện giờ nghe kể lại thì rùng mình ghê răng, nhưng ở thời chiến của các cụ nó là chuyện thường ngày rồi.
Ngay chuyện bố em - chỉ là công nhân - cũng nhiều lần thoát chết trong gang tấc rồi. Em xin kể 2 trường hợp bố em và vài người nữa được các cụ gánh còng lưng.
Chuyện thứ nhất, bố em cùng vài người ở cơ quan đi lấy bè gỗ chuyển từ mạn ngược về đến bến phà Bãi Cháy xưa - dừng bên phía Hòn Gai. Lên cửa hàng ăn uống Hòn Gai ăn tối. Ăn xong nghĩ thế nào mọi người lại hò nhau kéo bè sang phía Bãi Cháy. Đến sang (hay ngày hôm sau - em ko nhớ chính xác), cửa hàng ăn uống bị ăn bom tan tành, xác người văng tứ tung. Bố em và mọi người đứng bên này nhìn sang mà toát mồ hôi luôn.
Chuyện thứ 2 là tại khu vực đồi mà bây giờ là kho xăng dầu B12. Khu này cũng chuyên là nơi trút bom thừa khi MB Mỹ dùng không hết, trút xuống đây để bay về TSB. Chuyện bom rơi ở đây là thường ngày ở huyện. Hôm đấy cũng như mọi ngày, MB Mỹ trút bom xuống, chắc do bay quá thấp nên quả bom bị trượt ngang trên mặt đất, đến đúng hầm của bố em và mọi người đang ẩn nấp. Ơn giời nó lại không nổ. Thế là khi MB Mỹ bay đi, các cụ thách đố nhau xem thằng nào khỏe lăn được quả bom xuống chân đồi. Đến khi lăn được xuống thì bị chỉ huy công trường phát hiện được, cả đội bị phạt chiến sĩ thua đua 1 năm :))
 

langriser

Xe điện
Biển số
OF-743475
Ngày cấp bằng
18/9/20
Số km
2,624
Động cơ
661,600 Mã lực
Vụ này thêm mắm thêm muối cho ly kỳ thôi. Chứ trên chiến trường, thấy có mục tiêu là phơ thôi. Chuyện cụ HĐ bị bắn và thoát chết cũng chỉ là một trong nhiều sự kiện bình thường trên chiến trường. Rất nhiều chuyện của các cụ Cựu binh kể lại cũng nhiều chuyện thoát chết ly kỳ và may mắn như thế. Các cụ Cựu binh vẫn bảo, ra chiến trường đạn nó né mình, chứ mình không né được đạn đâu.
Nhiều chuyện giờ nghe kể lại thì rùng mình ghê răng, nhưng ở thời chiến của các cụ nó là chuyện thường ngày rồi.
Ngay chuyện bố em - chỉ là công nhân - cũng nhiều lần thoát chết trong gang tấc rồi. Em xin kể 2 trường hợp bố em và vài người nữa được các cụ gánh còng lưng.
Chuyện thứ nhất, bố em cùng vài người ở cơ quan đi lấy bè gỗ chuyển từ mạn ngược về đến bến phà Bãi Cháy xưa - dừng bên phía Hòn Gai. Lên cửa hàng ăn uống Hòn Gai ăn tối. Ăn xong nghĩ thế nào mọi người lại hò nhau kéo bè sang phía Bãi Cháy. Đến sang (hay ngày hôm sau - em ko nhớ chính xác), cửa hàng ăn uống bị ăn bom tan tành, xác người văng tứ tung. Bố em và mọi người đứng bên này nhìn sang mà toát mồ hôi luôn.
Chuyện thứ 2 là tại khu vực đồi mà bây giờ là kho xăng dầu B12. Khu này cũng chuyên là nơi trút bom thừa khi MB Mỹ dùng không hết, trút xuống đây để bay về TSB. Chuyện bom rơi ở đây là thường ngày ở huyện. Hôm đấy cũng như mọi ngày, MB Mỹ trút bom xuống, chắc do bay quá thấp nên quả bom bị trượt ngang trên mặt đất, đến đúng hầm của bố em và mọi người đang ẩn nấp. Ơn giời nó lại không nổ. Thế là khi MB Mỹ bay đi, các cụ thách đố nhau xem thằng nào khỏe lăn được quả bom xuống chân đồi. Đến khi lăn được xuống thì bị chỉ huy công trường phát hiện được, cả đội bị phạt chiến sĩ thua đua 1 năm :))
Nên mới có câu "Ông bà gánh còng lưng" là thế đó cụ. Mỹ xây dựng mô hình chính xác 1:1, diễn tập thực địa cả chục lần nhưng mà vẫn tèo vụ Sơn Tây (nguồn chính thống).
Sẵn đây làm em nhớ tới cầu Hàm Rồng, Mỹ cũng xây dựng mô hình và huấn luyện các kiểu con đà điểu, mà phi công ném bom vẫn cứ trật =)) , mãi sau này mới có bom laser dẫn đường mới ăn thua, đúng là nể các bộ óc nghiên cứu khoa học của Mỹ, nhưng Mỹ ăn mừng đúng một hôm thì phát hiện quân ta làm mấy chục cái cầu bắc qua sông ẩn dưới nước hồi nào không hay, nên dù cầu Hàm Rồng có huỷ thì chả làm sao, các cụ nhà ta tính hết rồi.
 

Baoleo

Xe tăng
Biển số
OF-320235
Ngày cấp bằng
19/5/14
Số km
1,984
Động cơ
389,306 Mã lực
Có những câu chuyện thật, xẩy ra trong chiến tranh, nhưng bây giờ nghe kể lại, thì cứ như là có một bàn tay vô hình nào đó sắp đặt.
Những câu chuyện may - rủi trong chiến tranh đó, không thể nói là bịa đặt, vì đúng là có chuyện như thế.
Nhưng bảo là 'đó là bài học kinh nghiệm cho lần sau', thì với tư cách của một chỉ huy, tôi khẳng định: bố bảo ông chỉ huy nào dám phán như thế ;)
Còm vui vui với bạn @Ngo Rung và bạn @langriser

:D~o):D
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top