Con đường tự chủ công nghiệp quốc phòng của Pakistan
Hành trình tới tự chủ công nghiệp quốc phòng của Pakistan đánh dấu bởi những thách thức địa chính trị và sự dịch chuyển liên minh. Bài viết này lần theo sự phát triển của nền công nghiệp quốc phòng bản địa Pakistan, làm rõ những mốc chính dọc theo hành trình từ sự phụ thuộc vào vũ khí nước ngoài đến sự phát triển các hệ thống vũ khí hạt nhân và truyền thống.
Sau khi dành độc lập vào tháng 8/1947, Pakistan phải đối mặt với một vấn đề lớn khi nước này nỗ lực xây dựng một cấu trúc phòng thủ bền vững. Đúng là nước này có lực lượng lục, hải, không quân được trang bị tốt với vũ khí hiện đại, được thành lập từ sự phân tách quân đội Ấn Độ dưới thời thuộc địa Anh trước khi giành độc lập. Không may là, mặc dù Ấn Độ thuộc địa có một nền công nghiệp quốc phòng và một cấu trúc bảo trì, sửa chữa, đại tu đáng tin cậy, những tài sản này không nằm ở Pakistan hậu phân chia.
Súng trường Lee Enfield Số 4 Mk1 - sản phẩm đầu tiên của công nghiệp quốc phòng Pakistan
Rõ ràng đây là một tình huống không thể chấp nhận đối với Pakistan, và điều này dẫn đến quyết định khởi động chương trình thiết lập một cơ sở công nghiệp quốc phòng quốc gia. Pakistan làm việc với các Nhà máy Quân dụng Hoàng gia (ROF) ở Anh để thiết lập các nhà máy đầu tiên sẽ trở thành các Nhà máy Quân dụng Pakistan (ROP) tại căn cứ quân sự Wah. Việc sản xuất đạn súng hạng nhẹ 7,7 x 56 mmR và tiếp theo là việc sản xuất súng trường Lee Enfield Số 4 Mk1 bắt đầu vào năm 1952. Sau đó, khi việc sản xuất Lee Enfield ở ROF Fazakerly, Anh dừng lại, tất cả các thiết bị được chuyển đến POF, từ đó cho phép việc sản xuất phiên bản Số 4 Mk2 được bắt đầu vào năm 1957.
Trong suốt những năm 1950, Pakistan bắt đầu quan hệ gần gũi hơn với Mỹ và điều này chứng kiến họ tham gia Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) và Tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO). Pakistan cũng ký Thỏa thuận Tương hỗ Quốc phòng với Mỹ vào tháng 5/1954 với kết quả là một số lượng đáng kể hỗ trợ quân sự được cung cấp cho Pakistan. Sự hỗ trợ này mang tính chuyển hóa với quân đội Pakistan trong suốt những năm 1950; Lục quân Pakistan nhận 345 xe tăng M47, 150 xe tăng M24, 50 xe tăng hạng nhẹ M41 với pháo cỡ nòng 105 mm, 155 mm và 203 mm, trong khi Không quân Pakistan (PAF) nhận 120 máy bay chiến đấu F-86 Sabre và 26 máy bay ném bom B-57B.
Xe tăng M47 của Pakistan
Quan hệ quốc phòng với Mỹ được nhìn nhận và tạo cho Pakistan sức răn đe chống lại người láng giềng lớn hơn nước này nhiều là Ấn Độ. Sự cung cấp của Mỹ tiếp tục tới những năm đầu thập niên 1960 với việc Lục quân Pakistan nhận 200 xe tăng M48, 109 xe thiết giáp chở quân M113 và thêm pháo. Theo sau Chiến tranh Ấn Độ - Pakistan năm 1965, trợ giúp quân sự của Mỹ dừng lại và một lệnh cấm vận về hỗ trợ quân sự được áp đặt. Điều này được Pakistan nhìn nhận là một sự phản bội, đồng thời dẫn tới những quan hệ cung cấp quốc phòng mới ở các nơi khác và một trọng tâm mới về phát triển cơ sở công nghiệp quốc phòng quốc phòng.
Ngay từ đầu, đe dọa chiến lược chính đối với Pakistan là Ấn Độ; trong khi đó, Trung Quốc có những vấn đề chiến lược riêng với Ấn Độ, như được thể hiện bởi cuộc chiến tranh biên giới Trung-Ấn năm 1962. Do đó, một Pakistan mạnh nằm trong lợi ích của Trung Quốc, đồng thời trong khi đó, Pakistan được giải tỏa khi có một nhà cung cấp thiết bị quốc phòng đáng tin cậy. Trung Quốc cung cấp 200 xe tăng Type 59 vào năm 1965 – tất cả số này được giao năm 1966. Pakistan cũng đặt hàng 550 xe tăng Type 59 vào năm 1965, số này được giao từ năm 1967 đến 1970; một số lượng đáng kể pháo cũng được cung cấp.
Xe tăng Type 59 của Pakistan
Liên Xô cũng cung cấp thiết bị cho Pakistan nhưng quan hệ quốc phòng giữa hai bên không bao giờ được tăng cường; thay vào đó, Moscow trở thành nhà cung cấp vũ khí chính cho Ấn Độ. Kết quả cuối cùng là Trung Quốc trở thành đối tác trọng yếu về cung cấp thiết bị quốc phòng cho Pakistan, một vị trí nước này vẫn giữ đến ngày nay. Trong bối cảnh công nghiệp quốc phòng Pakistan, dòng thiết bị của Liên Xô và Trung Quốc hoạt động song song với thiết bị kiểu Mỹ/NATO tạo ra tình huống Pakistan phải có năng lực, ở mức tối thiểu nhất, sản xuất nội địa đạn và phụ tùng cơ bản. POF đã bắt đầu sản xuất đạn súng hạng nhẹ Anh và tiếp tục sản xuất đạn chuẩn NATO song song với đạn chuẩn Liên Xô/Trung Quốc. Ngày nay, phạm vi sản phẩm của POF gồm phần lớn đạn pháo tiêu chuẩn NATO và Liên Xô và toàn bộ các hạng mục đạn khác.
Có thể tưởng tượng, cố gắng vận hành một lực lượng quân sự được trang bị rất đa dạng các lựa chọn thiết bị với sự tương hợp hạn chế là một thách thức. Vấn đề với Pakistan là nước này không thể tìm được một nhà cung cấp đơn lẻ đáng tin cậy hoặc một nhóm nhà cung cấp đáp ứng được nhu cầu trang bị của nước này. Năm 1966, Pakistan quay sang Pháp để mua 3 tàu ngầm lớp Daphne (giao hàng năm 1970), 24 máy bay Dassault Mirage IIIEP đặt hàng năm 1970 (giao năm 1971/72), thêm 10 máy bay Mirage III năm 1975 (giao năm 1977), và cuối cùng là 32 máy bay Mirage 5PA bổ sung năm 1970 (giao năm 1980/83), làm phức tạp thêm sự phối hợp tác chiến.
........
Hành trình tới tự chủ công nghiệp quốc phòng của Pakistan đánh dấu bởi những thách thức địa chính trị và sự dịch chuyển liên minh. Bài viết này lần theo sự phát triển của nền công nghiệp quốc phòng bản địa Pakistan, làm rõ những mốc chính dọc theo hành trình từ sự phụ thuộc vào vũ khí nước ngoài đến sự phát triển các hệ thống vũ khí hạt nhân và truyền thống.
Sau khi dành độc lập vào tháng 8/1947, Pakistan phải đối mặt với một vấn đề lớn khi nước này nỗ lực xây dựng một cấu trúc phòng thủ bền vững. Đúng là nước này có lực lượng lục, hải, không quân được trang bị tốt với vũ khí hiện đại, được thành lập từ sự phân tách quân đội Ấn Độ dưới thời thuộc địa Anh trước khi giành độc lập. Không may là, mặc dù Ấn Độ thuộc địa có một nền công nghiệp quốc phòng và một cấu trúc bảo trì, sửa chữa, đại tu đáng tin cậy, những tài sản này không nằm ở Pakistan hậu phân chia.
Súng trường Lee Enfield Số 4 Mk1 - sản phẩm đầu tiên của công nghiệp quốc phòng Pakistan
Rõ ràng đây là một tình huống không thể chấp nhận đối với Pakistan, và điều này dẫn đến quyết định khởi động chương trình thiết lập một cơ sở công nghiệp quốc phòng quốc gia. Pakistan làm việc với các Nhà máy Quân dụng Hoàng gia (ROF) ở Anh để thiết lập các nhà máy đầu tiên sẽ trở thành các Nhà máy Quân dụng Pakistan (ROP) tại căn cứ quân sự Wah. Việc sản xuất đạn súng hạng nhẹ 7,7 x 56 mmR và tiếp theo là việc sản xuất súng trường Lee Enfield Số 4 Mk1 bắt đầu vào năm 1952. Sau đó, khi việc sản xuất Lee Enfield ở ROF Fazakerly, Anh dừng lại, tất cả các thiết bị được chuyển đến POF, từ đó cho phép việc sản xuất phiên bản Số 4 Mk2 được bắt đầu vào năm 1957.
Trong suốt những năm 1950, Pakistan bắt đầu quan hệ gần gũi hơn với Mỹ và điều này chứng kiến họ tham gia Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) và Tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO). Pakistan cũng ký Thỏa thuận Tương hỗ Quốc phòng với Mỹ vào tháng 5/1954 với kết quả là một số lượng đáng kể hỗ trợ quân sự được cung cấp cho Pakistan. Sự hỗ trợ này mang tính chuyển hóa với quân đội Pakistan trong suốt những năm 1950; Lục quân Pakistan nhận 345 xe tăng M47, 150 xe tăng M24, 50 xe tăng hạng nhẹ M41 với pháo cỡ nòng 105 mm, 155 mm và 203 mm, trong khi Không quân Pakistan (PAF) nhận 120 máy bay chiến đấu F-86 Sabre và 26 máy bay ném bom B-57B.
Xe tăng M47 của Pakistan
Quan hệ quốc phòng với Mỹ được nhìn nhận và tạo cho Pakistan sức răn đe chống lại người láng giềng lớn hơn nước này nhiều là Ấn Độ. Sự cung cấp của Mỹ tiếp tục tới những năm đầu thập niên 1960 với việc Lục quân Pakistan nhận 200 xe tăng M48, 109 xe thiết giáp chở quân M113 và thêm pháo. Theo sau Chiến tranh Ấn Độ - Pakistan năm 1965, trợ giúp quân sự của Mỹ dừng lại và một lệnh cấm vận về hỗ trợ quân sự được áp đặt. Điều này được Pakistan nhìn nhận là một sự phản bội, đồng thời dẫn tới những quan hệ cung cấp quốc phòng mới ở các nơi khác và một trọng tâm mới về phát triển cơ sở công nghiệp quốc phòng quốc phòng.
Ngay từ đầu, đe dọa chiến lược chính đối với Pakistan là Ấn Độ; trong khi đó, Trung Quốc có những vấn đề chiến lược riêng với Ấn Độ, như được thể hiện bởi cuộc chiến tranh biên giới Trung-Ấn năm 1962. Do đó, một Pakistan mạnh nằm trong lợi ích của Trung Quốc, đồng thời trong khi đó, Pakistan được giải tỏa khi có một nhà cung cấp thiết bị quốc phòng đáng tin cậy. Trung Quốc cung cấp 200 xe tăng Type 59 vào năm 1965 – tất cả số này được giao năm 1966. Pakistan cũng đặt hàng 550 xe tăng Type 59 vào năm 1965, số này được giao từ năm 1967 đến 1970; một số lượng đáng kể pháo cũng được cung cấp.
Xe tăng Type 59 của Pakistan
Liên Xô cũng cung cấp thiết bị cho Pakistan nhưng quan hệ quốc phòng giữa hai bên không bao giờ được tăng cường; thay vào đó, Moscow trở thành nhà cung cấp vũ khí chính cho Ấn Độ. Kết quả cuối cùng là Trung Quốc trở thành đối tác trọng yếu về cung cấp thiết bị quốc phòng cho Pakistan, một vị trí nước này vẫn giữ đến ngày nay. Trong bối cảnh công nghiệp quốc phòng Pakistan, dòng thiết bị của Liên Xô và Trung Quốc hoạt động song song với thiết bị kiểu Mỹ/NATO tạo ra tình huống Pakistan phải có năng lực, ở mức tối thiểu nhất, sản xuất nội địa đạn và phụ tùng cơ bản. POF đã bắt đầu sản xuất đạn súng hạng nhẹ Anh và tiếp tục sản xuất đạn chuẩn NATO song song với đạn chuẩn Liên Xô/Trung Quốc. Ngày nay, phạm vi sản phẩm của POF gồm phần lớn đạn pháo tiêu chuẩn NATO và Liên Xô và toàn bộ các hạng mục đạn khác.
Có thể tưởng tượng, cố gắng vận hành một lực lượng quân sự được trang bị rất đa dạng các lựa chọn thiết bị với sự tương hợp hạn chế là một thách thức. Vấn đề với Pakistan là nước này không thể tìm được một nhà cung cấp đơn lẻ đáng tin cậy hoặc một nhóm nhà cung cấp đáp ứng được nhu cầu trang bị của nước này. Năm 1966, Pakistan quay sang Pháp để mua 3 tàu ngầm lớp Daphne (giao hàng năm 1970), 24 máy bay Dassault Mirage IIIEP đặt hàng năm 1970 (giao năm 1971/72), thêm 10 máy bay Mirage III năm 1975 (giao năm 1977), và cuối cùng là 32 máy bay Mirage 5PA bổ sung năm 1970 (giao năm 1980/83), làm phức tạp thêm sự phối hợp tác chiến.
........
