[Funland] Những trận đánh nổi tiếng thế giới

Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

Cái Kết

Chiến thắng của Hồng quân tại Kharkov vào mùa hè năm 1943 có ý nghĩa là họ đã báo thù cho món nợ tại Barenkovo năm 1942. Từ ngày 20 tháng 10, Không quân Đức tập trung ngăn chặn trong khoảng một tuần việc Hồng quân tiến từ Kremenchug vượt sông Dnepr về phía Krivoi Rog. Các trận không kích này đã giúp Quân đội Đức ngăn chặn bước tiến của Liên Xô trước Krivoi Rog. Tuy nhiên, thành công này phải trả giá. Các đợt không kích này đã làm suy yếu đáng kể không quân Đức, cùng với sự điều chuyển của Quân đội Đức về phía nam, đã mở ra con đường giải phóng Kiev của Hồng quân.

Các lực lượng Liên Xô chiếm lại thủ đô Ukraine vào ngày 6 tháng 11 năm 1943. Đến tháng 12, Hồng quân đã tiến lên 800 dặm và giải phóng gần 2/3 lãnh thổ bị quân đội Đức chiếm đóng. Việc giải phóng Kiev và củng cố các đầu cầu lớn qua Dnepr ở xa hơn về phía nam, chưa đầy 5 tháng sau khi Hitler thất bại tại Kursk, đã minh họa rõ ràng những gì mà sức mạnh giữa lục quân và không quân Liên Xô có thể đạt được trên một chiến trường rộng lớn.

Vào cuối năm 1943, quân đội của Stalin đã giải phóng phía tây Dnepr của Ukraine. Các phương diện quân Ukraina 1, 2, 3 và 4 tập trung đông đảo 2,3 triệu người, 2.040 xe tăng và pháo tự hành, 28.800 khẩu pháo dã chiến và súng cối cùng 2.370 máy bay để tiêu diệt Cụm tập đoàn quân Nam của Manstein và Tập đoàn quân A của Kleist. Quân Đức có thể tập hợp 1,7 triệu quân, với 2.200 xe tăng/thiết giáp, 16.800 khẩu súng dã chiến và 1.460 máy bay ném bom. Ngoài ra, 50.000 du kích Liên Xô đã đóng vai trò gây rối loạn các khu vực hậu phương của quân Đức.

1641031123808.png

1641031199486.png

Xe tăng Panzer IV của Đức

1641032451745.png

1641032502388.png

1641032549783.png

1641032602530.png

Xe tăng Tiger I của Đức

1641031516608.png

Các sĩ quan cấp cao của Đức trong một trận đánh, phía sau họ là chiếc Panzer

1641031578685.png

1641031612999.png

Lính trinh sát pháo binh của Đức

1641031660012.png

1641031694453.png

Phân đội hỏa lực của Đức

1641031758105.png

1641031784095.png

1641031805891.png

1641031946496.png

Lính bắn tỉa Đức

1641031887922.png

Lính liên lạc Đức

1641032106966.png

1641032192628.png

Pháo phòng không 37mm của Đức

Sau khi quân Đức chiếm Zhitomir và hướng tiến công vào Kiev, Bộ tư lệnh tối cao Liên Xô đã ra lệnh cho Phương diện quân Ukraina 1 tiêu diệt Tập đoàn quân thiết giáp số 4 trong Chiến dịch Zhitomir – Berdichev. Đối với cuộc tấn công Phương diện quân Ukraina số 1 của Vatutin đã tập trung 63 sư đoàn bộ binh và 03 sư đoàn kỵ binh, cộng với 06 quân đoàn xe tăng và 02 quân đoàn cơ giới hóa.

1641033859603.png

Khẩu đội súng máy phòng không Liên xô

1641031327735.png

Hồng quân Liên xô tấn công

1641031442242.png

1641032031798.png

1641031409767.png

Hoả tiễn của Hồng quân khai hỏa

1641034005158.png

Người lính của Phương diện quân Ukraine I đang chở một đồng đội bị thương

1641034142520.png

Công binh Hồng quân gỡ mìn chống tăng của Đức gài lại trên một con đường ngoại ô Kharkov, tháng 8-1943

Cuộc tấn công bắt đầu vào ngày 24 tháng 12 năm 1943 và trong vòng 6 ngày đã tạo ra một cuộc đột phá rộng 187 dặm và sâu 62 dặm. Cuộc đột phá về phía tây nam của Kiev đã khiến Tập đoàn quân thiết giáp số 4 của Đức phải lùi lại hơn 100 dặm, để lộ sườn phải của Tập đoàn quân số 8 của Đức và vị trí phòng thủ của nó trên bờ phía nam của Dnepr, và không lâu trước khi Hồng quân định bao vây nó. Điều này rất quan trọng vì các lực lượng này đã chiếm giữ các vị trí giao nhau của Phương diện quân Ukraina 1 và 2. Nó được Liên Xô gọi là “hũ” Korsun – Shevchenkovsky, nhưng còn được gọi là “hũ” Cherkassy. Theo tình báo Liên Xô, Tập đoàn quân 1 và 8 của Đức có 9 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn thiết giáp và một sư đoàn cơ giới. Để áp đảo lực lượng này, ngày 24 tháng 1 năm 1944, Hồng quân sử dụng 27 sư đoàn bộ binh, 4 quân đoàn xe tăng, một quân đoàn cơ giới và một quân đoàn kỵ binh được trang bị 370 xe tăng và pháo tự hành cùng gần 4.000 khẩu pháo và súng cối.

1641035506049.png

Pháo chống tăng Su-100 của Liên xô

1641035604801.png

1641035666072.png

1641035737798.png

1641035804963.png

Kíp lái tăng T-34 của Liên xô

1641035638449.png

Kíp lái tăng KV-1 của Liên xô

1641034974523.png

Phi công Liên xô bên chiếc YAK của mình

1641035054393.png

Lính thông tin Hồng quân

1641034527696.png

Tổ súng chống tăng của Hồng quân

1641034201448.png

Khẩu đội cối 120mm của Hồng quân

1641034472873.png

1641034589699.png

1641034353204.png

Lính thủy Liên xô tham chiến

Bộ chỉ huy cấp cao của Đức ra lệnh phản công, các Sư đoàn thiết giáp 4, 11 và 13 được điều đến vùng Novo-Mirgorod. Các Sư đoàn Thiết giáp số 16 và 7 cũng được tập trung tại khu vực Rizino. Tuy nhiên, nỗ lực bao vây thứ hai của Hồng quân vào ngày 3 tháng 2 đã thành công khi Phương diện quân Ukraina 1 và 2 gặp nhau gần Zvenigorodka, vây 56.000 quân Đức trong “hũ” Cherkassy.
Quân Đức cố gắng giải vây một cách tuyệt vọng, với Quân đoàn thiết giáp số 3 của Tập đoàn quân thiết giáp số 1 tiến công từ phía tây nam và Quân đoàn thiết giáp số 47 của tập đoàn quân số 8 tấn công từ phía nam. Sư đoàn thiết giáp số 5 SS dẫn đầu cuộc đột kích vào ngày 16 tháng 2, đối đầu với Tập đoàn quân cận vệ 4 và 27 của Liên Xô. Liên Xô tuyên bố trận chiến khiến 55.000 người Đức chết hoặc bị thương và 18.200 tù binh, trong khi quân Đức công nhận 30.000 người trốn thoát, 20.000 người bị giết và 8.000 người bị bắt.

1641031238434.png

Xe tăng Panzer IV của Đức bị bắn cháy

1641032680735.png

1641032727425.png

Pháo phòng không tự hành của Đức bị bỏ lại

1641032806079.png

1641032891632.png

Lính tăng Tiger I của Đức thiệt mạng bên chiếc xe của anh ta

1641033367638.png

Một chiếc máy bay Messerschmitt Bf 109F-4 "Black 19" của Đức bị bỏ lại

1641033482468.png

Hai chiếc tiêm kích Messerschmitt Bf 109F-4s của Đức bị tai nạn phải bỏ lại

1641032956239.png

Lính Đức thiệt mạng sau một trận đánh, phía sau là chiếc thiết giáp bị băn cháy

1641033023825.png

Xe tăng Tiger II của Đức bị bắn hỏng, cùng với nó là các ô tô bị bắn cháy sau một trận không kích của không quân Liên xô

1641033169517.png

1641033197849.png

Một chiếc máy bay ném bom Henkel của Đức bị bắn rơi

1641035122317.png

Lính Đức trong một trận đánh ở Kharkov, tháng 8-1943. Vẻ mặt người lính này toát lên sự lo âu.

1641035209158.png

1641035228274.png

1641035304169.png

1641035391719.png

Lính SS Đức
1641034409512.png

Lính thủy Hồng quân căm cờ tại cảng Kerch, Ukraine
 
Chỉnh sửa cuối:
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(tiếp)

Sau khi Vatutin bị thương nặng, Zhukov phụ trách tiêu diệt Cụm tập đoàn quân Nam của Manstein, nhằm bao vây các Tập đoàn quân thiết giáp số 1 và số 4 cùng với 200.000 quân Đức. Ông tấn công vào ngày 4 tháng 3, chiếm được vùng đất 100 dặm chỉ trong vài ngày. Sau khi Phương diện quân Ukraina 1 tiến đến phòng tuyến Tarnopol – Proskurov và Phương diện quân Ukraina 2 đã quét sạch Uman, Tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức thực sự bị đe dọa bao vây. Trên tuyến đường tới Uman, quân Đức đã mất 200 máy bay chiến đấu, 600 khẩu súng dã chiến và 12.000 xe tải khi họ tìm cách tháo chạy. Hồng quân đã trả thù cho sự sỉ nhục của trận Uman năm 1941.

1641206011232.png

Tham mưu trưởng Phương diện quân 4 Ukraine, Trung tướng Sergey Semenovich Biryuzov, Ủy viên Ủy ban Quốc phòng Nhà nước Nguyên soái Liên Xô Kliment Yefremovich Voroshilov, Tổng tham mưu trưởng Nguyên soái Liên Xô Alexander Mikhailovich Vasilevsky tại bộ chỉ huy số 4 của Phương diện quân Ukraina

1641206372559.png

Xe tăng Pz.Kpfw.38 (t) của Trung đoàn xe tăng số 2 Romania tại Crimea

1641206499854.png

Khẩu đội pháo chống tăng 75mm của Romania tại Crimea

1641212189941.png

Khẩu đội pháo chống tăng của Đức

Tập đoàn quân số 17 của Tướng Erwin Jänecke ở Crimea, bị Phương diện quân Ukraina 4 và Bắc Caucasian bao vây từ cuối năm 1943, đối mặt với số phận tương tự như của Tập đoàn quân 6 tại Stalingrad. Mặc dù được bảo vệ bởi hệ thống phòng thủ đáng kể, nhưng tình hình đối với quân phòng thủ của Đức và Romania, tổng cộng khoảng 230.000 người, với 215 khẩu pháo, 3.600 khẩu súng cối và 148 máy bay, thực sự không tốt. Phương diện quân Ukraina 4 tấn công từ phía bắc và lực lượng hải quân đánh bộ Liên xô từ phía đông có sức mạnh áp đảo với 470.000 quân, 559 xe tăng và pháo tự hành, cùng gần 6.000 pháo dã chiến và súng cối, được hỗ trợ bởi 1.250 máy bay chiến đấu.

1641206727030.png

1641206747541.png

Hồng quân Liên xô vượt sông

1641206603679.png

Lính thủy Hồng quân tấn công một vị trí phòng thủ của Đức tại một nhà máy luyện kim ở Kerch

Cuộc tấn công giải phóng Crimea của Hồng quân bắt đầu vào ngày 8 tháng 4. Sự thất thủ của Kerch 3 sau đó đã rõ số phận của quân trú phòng và các tuyến phòng thủ phía bắc Perekop không thể giữ được, quân Đức bắt đầu di tản bất chấp mệnh lệnh của Hitler là phải cố thủ. Cho đến giữa tháng 5, Hải quân Romania đã sơ tán gần 121.000 người trên Biển Đen. Bị đẩy lùi trở lại Sevastopol, quân Đức mất 12.221 người và người Ý mất 17.652, cộng với gần như lực lượng cơ giới của họ. Tập đoàn quân 17 giữ vững đến ngày 9 tháng 5 và đầu cầu Khersones kéo dài đến ngày 12, khi 3.000 quân cuối cùng bị áp đảo. Tổng cộng, khoảng 25.000 quân Đức đã đầu hàng vào ngày hôm đó.

1641212244819.png

Một chiếc xe tăng Tiger I bị bắn cháy bên đường

1641212375139.png

1641212412411.png

1641212440477.png

1641212539357.png

1641212603792.png

Thêm những chiếc Tiger I khác bị phá hủy, trên thân của chúng còn rõ những vết xuyên của đạn chống tăng

1641212865227.png

1641212790364.png

1641212816521.png

1641212901815.png

1641212931113.png

1641212991106.png

Lực lượng SS trong một trận đánh ở ngoại ô Kharkov, tháng 8-1943

1641212680381.png

Lực lượng SS rút khỏi Kharkov, tháng 12-1943

1641213079193.png

1641213142609.png

1641213103785.png

Máy bay tiêm kích Messerschmitt Bf109 của Đức

1641213357012.png

1641213407983.png

1641213455596.png

1641213527192.png

Máy bay tiêm kích Messerschmitt Bf109 của Đức bị bắn hạ

1641206553418.png

Dân quân Crime

1641206775367.png

Crime giải phóng
 
Chỉnh sửa cuối:
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

Từ tháng 12 năm 1943 đến tháng 5 năm 1944, Hồng quân đã đánh đuổi quân Đức ra khỏi phần lớn lãnh thổ Ukraine. Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1944, Hồng quân đã đánh đuổi quân Đức khỏi Leningrad và Novgorod. Hitler và các tướng lĩnh của ông ta đã đoán trước được một cuộc tấn công mùa hè của Liên Xô nhưng họ không có cách nào đánh giá cao quy mô rộng lớn của nó. Nhờ những nỗ lực nghi binh Liên Xô, Hitler đã đoán trước được một cuộc tấn công khác vào Cụm tập đoàn quân Bắc Ukraine và kịp thời di chuyển lực lượng Đức ở đó. Thay vào đó, Stalin tìm cách giải phóng Byelorussia và thủ đô Minsk bằng chiến dịch khác của ông.

Những chiến thắng của Hitler xung quanh Kharkov trong giai đoạn 1941–1943 đảm bảo rằng ông ta duy trì quyền kiểm soát Ukraine. Năm 1941, Hồng quân chỉ đơn giản là không có đủ khả năng để nắm giữ Kharkov. Những nỗ lực vào năm 1942 và 1943 để giải phóng thành phố đã chứng tỏ sự cố chấp của Stalin khi trong cả hai lần, Liên Xô đều bị đánh bại bởi các tướng lĩnh và lực lượng vượt trội hơn hẳn của Đức. Thất bại tháng 5 năm 1942 là một sự “sỉ nhục” và có thể tránh được nếu Stalin cho phép Timoshenko bảo vệ sườn phía nam của mình hoặc rút lui qua Dnepr một khi cuộc phản công của quân Đức bắt đầu.

Trong số tất cả các trận chiến xung quanh Kharkov, trận đánh của Thống chế von Manstein vào tháng 3 năm 1943 đã cho thấy những gì có thể đạt được nếu sự bảo thủ của Hitler được giảm bớt. Chỉ sau thất bại nặng nề của Hitler tại Kursk, Stalin mới có thể giải phóng thành phố Kharkov một lần và mãi mãi.

1641349877528.png

Hồng quân chết nằm ngổn ngang bên vệ đường, trên đường là quân Đức hành quân. Quân đội Liên Xô bị thương vong nặng nề trong suốt mùa hè năm 1943, nhưng sự hy sinh của họ cuối cùng đã đạt được chiến thắng trước quân Đức bị đánh đuổi khỏi Ukraine.

1641350036474.png

Tù binh Hồng quân sau những trận đánh gần Kharkov, năm 1942

1641350160994.png

Một hạ sĩ Đức và đồng đội của anh ta tạo dáng với một lá cờ của Liên Xô

1641350237062.png

Sau khi Hồng quân giải phóng Kharkov, khoảng 20.000 quân Đức đã bị tiêu diệt tại khu vực Cherkassy.

1641350305632.png

Phần còn lại của một bức tượng Stalin

1641384250298.png

1641384286938.png

Việc Đức chiếm đóng Liên Xô dẫn đến việc các thành phố ở Nga, Byelorussia và Ukraine bị phá hủy hoàn toàn. Các tòa nhà và di tích lịch sử đã bị phá hủy bởi các cuộc giao tranh và phá hoại bừa bãi.

1641384373170.png

Một chiếc xe tăng hạng nhẹ T-26 mẫu đầu tiên nằm bị bỏ rơi trên đường phố Kharkov năm 1941

1641384423104.png

Người lính Đức này đang xem những khẩu súng trường mà Hồng quân bỏ lại

1641384569454.png

Kiev, thủ đô của Ukraina, được Hồng quân giải phóng vào ngày 6 tháng 11 năm 1943. Quân Đức đã cho nổ tung mọi thứ mà họ không thể mang theo, bao gồm những gì còn lại của các nhà máy của thành phố.

1641384661929.png

Quân Đức tại mặt trận phía Đông mùa đông năm 1943-1944. Qua mùa đông năm 1943/44, quân Đức đã bị đẩy khỏi Crimea và Ukraine bởi một loạt các cuộc tấn công của Hồng quân.

1641384861600.png

Một khẩu súng máy Maxim của Hồng quân bị quân Đức thu được và một số mũ bảo hiểm M40 đánh dấu những ngôi mộ của quân Đức. Tại Sevastopol ở Crimea, quân Đức thiệt hại hơn 12.000 người chết và 25.000 người bị bắt.

1641385125876.png

Ban đầu, nhiều người Ukraine hoan nghênh cuộc xâm lược của Đức với hy vọng rằng Hitler sẽ ủng hộ chủ nghĩa dân tộc và độc lập cho Ukraine. Trên thực tế, Hitler không mấy quan tâm đến việc ủng hộ những nguyện vọng như vậy.

1641384958174.png

Một sĩ quan Không quân Đức và một người dân địa phương trước bức tượng bị lật đổ của Stalin. Việc giải phóng Kharkov và sau đó là Kiev vào năm 1943 đánh dấu việc đẩy quân đội Quốc xã khỏi Ukraine. Byelorussia và Minsk sẽ tiếp theo vào mùa hè năm 1944.

1641385238932.png

Bùn lầy, tuyết tan là nỗi ác mộng của quân Đức ở Mặt trận phía Đông.

1641385280537.png

Người lính Đức này đứng trước mộ Hạ sĩ Benz, người đã bị giết vào ngày 28 tháng 3 năm 1943. Khi quân Đức rút đi, họ không có cách nào để hồi hương những người được chôn cất ở Liên Xô. Không thể tránh khỏi hàng chục nghìn ngôi mộ đã bị tàn phá bởi sự báo thù của Hồng quân.

1641385427517.png

Khi quân Đức bị đẩy lùi từ tháng 12 năm 1943 đến tháng 5 năm 1944, các ngôi mộ một lần nữa ngày càng trở nên tạm bợ.

1641385474137.png

Dân cư thành phố Kharkov trở về nhà sau khi Hồng quân giải phòng thành phố tháng 12 năm 1943.

1641440532288.png

Kiev đã sạch bóng quân Đức

1641440652351.png

Lực lượng SS rút khỏi Kiev

1641440724002.png

Sự căng thẳng trong chiến đấu hiện rõ trên khuôn mặt của một lính SS Đức ở Zhytomyr, Ukraine, dường như không để ý đến sự tàn phá xung quanh anh ta. Bức ảnh này được chụp vào ngày 21 tháng 12 năm 1943.

1641441006834.png

Hồng quân tiến vào Kiev
 
Chỉnh sửa cuối:
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
Cách người Đức sử dụng xe tăng tốt nhất của Liên Xô

T-34 nổi tiếng của Liên Xô phục vụ Đệ tam Đế chế không chỉ với vai trò là một chiếc xe tăng. Người Đức đã chuyển đổi những chiếc T-34 bị bắt thành xe thu hồi và pháo phòng không tự hành, và sử dụng chúng như một nguồn vũ khí cho các đoàn tàu bọc thép.

1641442838416.png

1641442725556.png

1641442893404.png

1641442777290.png

Xe tăng T-34-76 của Liên xô

1641442952592.png

1641442976562.png

1641443086792.png

1641443109845.png

1641443164577.png

Xe tăng T-34-85 của Liên xô

1641443063319.png

Một chiếc T-34-85 bị bắn cháy trên đường phố

1641442928677.png

1641443256529.png

1641445494695.png

Xe tăng T-34 của Liên Xô bị quân Đức thu được sau các cuộc giao tranh

T-34 là xe tăng tốt nhất của Liên Xô trong Thế chiến thứ hai. Được trang bị và bảo vệ tốt, nhanh chóng và cơ động, nó là vô song trên chiến trường cho đến năm 1942.
“Xe tăng T-34 đáng tin cậy trên mọi địa hình”, Đại tá Johannes Friesner, Tư lệnh Cụm tập đoàn quân Nam Ukraine (Đức), nhớ lại: “Xe tăng Nga có thể hoạt động ở những nơi mà chúng tôi nghĩ là không thể. Hỏa lực của T-34 cũng rất ấn tượng. Đối với bộ binh Liên Xô, nó đóng vai trò như một phương tiện hỗ trợ và dẫn đường tuyệt vời ”.
Không có gì ngạc nhiên khi Đệ Tam Đế chế đã tìm thấy một vai trò xứng đáng cho một cỗ máy đáng gờm như vậy. Trên cơ sở những chiếc T-34 bị bắt, quân Đức đã xây dựng một số tiểu đoàn hoàn chỉnh, một số lính tăng Đức đã lập hàng chục chiến công, trở thành những con át chủ bài thực sự.

1641443614390.png

1641443642365.png

1641443656409.png

1641445771000.png

Xe tăng T-34-76 trong biên chế quân đội Đức

Những chiếc T-34/76 đầu tiên (“76” được gọi là pháo 76 mm) xuất hiện trong quân đội Đức quốc xã vào mùa hè năm 1941 với tên gọi Pz.Kpfw. T-34-747 (r), trong đó “r” cho biết xuất xứ từ Nga của xe tăng và “Pz.Kpfw” là viết tắt của Panzerkampfwagen (“xe chiến đấu bọc thép”). Khoảng 300 xe tăng như vậy đã chiến đấu cho Đức trong Thế chiến thứ hai.

1641443773672.png


Các xe tăng bị bắt được trang bị radio và kính ngắm quang học của Đức. Và một số được trang bị hệ thống liên lạc của chỉ huy để cải thiện khả năng quan sát và chỉ thị mục tiêu của trưởng xe.
Sự thiếu hụt trầm trọng về đạn dược và phụ tùng thay thế khiến cho việc duy trì các xe tăng trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu trở nên khó khăn. Một số chiếc T-34 trong quân đội Đức đã phải tháo rời hoàn toàn để cung cấp các bộ phận cho những chiếc khác. Và đạn pháo được lấy ra từ những chiếc T-34 bị phá hủy của cả Đức và Liên Xô, đôi khi là giữa trận chiến.

1641443916517.png


Để ngăn những chiếc T-34 thu được của Liên Xô bị trúng đạn pháo của lực lượng chống tăng và Không quân Đức, một dấu Balkenkreuz lớn hoặc hình chữ thập ngoặc đã được áp dụng cho thân xe và tháp pháo. Tuy nhiên, trong trận chiến khốc liệt, các xạ thủ thường không nhận ra chúng và nổ súng vào những chiếc xe tăng đáng ghét của Liên Xô, bất kể chúng đến từ hướng nào.
T-34 phục vụ trong quân đội Đức không chỉ với vai trò là xe tăng chiến đấu. Một số được chuyển đổi thành xe cứu kéo hoặc pháo phòng không tự hành. Trong trường hợp thứ hai, tháp pháo đã được tháo dỡ và thay thế bằng một tháp hàn xoay đặc biệt có đỉnh hở với súng phòng không Flakvierling 38 20 mm. Những chiếc T-34 bị hư hỏng nặng được lắp đặt trên các đoàn tàu bọc thép làm bệ pháo.

1641444132788.png


Chính lực lượng SS đã sử dụng rộng rãi nhất loại xe tăng lừng lẫy của Liên Xô, hơn hết là Sư đoàn thiết giáp số 2 Das Reich. Sau khi tái chiếm Kharkov vào ngày 18 tháng 3 năm 1943, khoảng 50 chiếc T-34 mất khả năng hoạt động đang chờ sửa chữa đã rơi vào tay quân Đức.
Sử dụng cơ sở vật chất của Nhà máy Máy kéo Kharkov, SS đã khôi phục hàng chục xe tăng và thành lập một đại đội riêng biệt với chúng trong sư đoàn Reich - đơn vị lớn nhất gồm những chiếc T-34 thu được trong lực lượng vũ trang Đức.

1641444242835.png

1641444775280.png

1641444901089.png

1641445086623.png

1641445138343.png

1641444961447.png

1641445006950.png

1641445165305.png

T-34-76 trong biên chế quân đội Đức

Tổng cộng 25 xe tăng đã được đưa vào biên chế, và 12 chiếc nữa được gửi đến Trường Kinschlag SS Panzer-Grenadier, nơi các học viên trẻ được đào tạo về chiến đấu chống tăng.
Xe tăng Liên Xô trong sư đoàn Đế chế tham gia trận chiến quyết định ở Kursk vào mùa hè năm 1943. Vì lúc này T-34-76 đã lỗi thời về mặt kỹ thuật, người Đức sử dụng nó không phải để đột phá mà là vũ khí chống tăng, hỏa điểm. Hầu hết chúng đặt tại các vị trí cố định và ẩn nấp để giảm thiểu rủi ro cho xe cũng như kíp lái.

1641445234756.png

Chiếc T-34 này đã tháo bỏ tháp pháo để lắp pháo 88mm của Đức

1641445316271.png

1641445424827.png

Còn chiếc T-34 này đã được hoán cải thành pháo phòng không tự hành

1641444376684.png

1641444820466.png


Trong số những lính tăng Đức sử dụng T-34, nổi bật nhất là chỉ huy trung đội SS Oberscharführer Joseph Naber của Đại đội Thiết giáp số 9 thuộc sư đoàn Reich, và chỉ huy xe tăng Emil Seibold đơn vị SS Oberscharführer Joseph Naber, trong cùng sư đoàn. Chiếc sau này trở thành một trong những mẫu xe tăng xuất sắc nhất trong cuộc chiến, được công nhận tổng cộng 69 lần tiêu diệt địch, trong đó có vài chục lần tiêu diệt được chiếc T-34 của Liên Xô.
Sau trận Kursk, chiếc T-34/76 lỗi thời dần được rút khỏi quân đội Đức. Nhưng một số vẫn được nhìn thấy bảo vệ Berlin vào tháng 5 năm 1945.

1641444572910.png

1641444702132.png

1641444723911.png

1641444747150.png

1641444881453.png

Xe tăng T-34-85 trong biên chế quân đội Đức

Năm 1944, chiếc T-34/85 tiên tiến hơn (với pháo 85 mm) được đưa vào biên chế trong Hồng quân. Tuy nhiên, quân Đức đã bắt được không quá vài chục chiếc, và chỉ một số ít được sử dụng chống lại các lực lượng Liên Xô.
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
TRẬN CHIẾN SAIPAN

Binh lính Nhật chiến đấu kiên cường nhưng vẫn không cưỡng lại được sức mạnh của quân Mỹ và đã thất bại trong trận chiến trên đảo Saipan vào cuối Chiến tranh thế giới thứ Hai.
Mùa Xuân năm 1944, trong chiến dịch Thái Bình Dương, Mỹ huy động 535 tàu chiến, với 127.000 binh lính, trong đó có 77.000 lính hải quân đánh bộ, đã đánh chiếm các hòn đảo do Nhật Bản chiếm giữ ở khu vực giữa Thái Bình Dương, dọc theo hành lang tiến tới nước Nhật. Sau khi chiếm được quần đảo Marshall, bộ tư lệnh chiến dịch nhắm tới mục tiêu tiếp theo - quần đảo Mariana, một tiền đồn quan trọng trong hệ thống phòng thủ của Nhật Bản, trong đó có đảo Saipan.

Đảo Saipan

1641548939349.png

1641548547565.png


Saipan - hòn đảo có tầm quan trọng chiến lược, là đảo lớn nhất trong quần đảo Mariana và cũng gần Nhật Bản nhất; đặc biệt, trên đảo có một sân bay nằm ở Aslito. Saipan đặt dưới sự cai trị của Nhật Bản từ năm 1920. Theo một số dữ liệu, lực lượng Nhật đồn trú trên đảo lên tới 30.000 quân. Các chỉ huy quân Mỹ phân tích: Việc chiếm các đảo chính trong quần đảo Mariana, gồm Saipan, Tinian và Guam, sẽ cắt đứt Nhật Bản khỏi phần phía Nam và dọn đường cho việc tiến sát hơn nữa tới Tokyo. Tại Saipan, quân Mỹ có thể thiết lập một căn cứ không quân trọng yếu mà từ đó các siêu pháo đài bay B-29 tầm xa của Quân đội Mỹ có thể cất cánh và giáng những đòn trừng phạt xuống lãnh thổ Nhật Bản trước khi quân đồng minh đổ bộ xuống lãnh thổ nước này. Bộ Tư lệnh chiến dịch Thái Bình Dương Quân đội Mỹ quyết định cuộc đổ bộ đầu tiên lên quần đảo Mariana sẽ được thực hiện tại đảo Saipan. Tướng Hải quân đánh bộ Mỹ, Holland Smith nhận được kế hoạch tác chiến với nhiệm vụ là phải chiếm được hòn đảo này trong 3 ngày. Theo kế hoạch, sau khi đánh chiếm được đảo Saipan, quân Mỹ sẽ nhanh chóng cơ động đánh chiếm đảo Guam và Tinian.

Đổ bộ đánh chiếm đảo Saipan
Sáng ngày 15/6/1944, đội tàu vận tải của Hải quân đánh bộ Mỹ tập kết gần bờ biển phía Nam của đảo Saipan, sau đó chuyển quân lên hàng trăm tàu đổ bộ và thực hiện cuộc đổ bộ vào bờ biển đảo Saipan.
Các tàu chiến và máy bay Mỹ đã dọn đường cho hải quân đánh bộ bằng cuộc tiến công hỏa lực cấp tập vào vị trí của đối phương, nhưng đã không thể tiêu diệt được các hỏa điểm quân Nhật bố trí cẩn thận trên các vách đá dọc bờ biển. Chính vì thế, Hải quân đánh bộ Mỹ đã phải thực hành đổ bộ dưới làn hỏa lực địch.

1641549095236.png

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bò đến vị trí được chỉ định của họ dưới hỏa lực của kẻ thù trên bãi biển ở Saipan, tháng 6 năm 1944.

1641548912216.png

1641549446158.png

1641549989140.png

1641550014495.png

1641550622833.png

Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên đảo Saipan, tháng 6-1944

1641549197292.png

Lính thủy đánh bộ Mỹ ném lựu đạn vào một vị trí của quân Nhật trên đảo Saipan năm 1944.

1641549241447.png

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ theo dõi lối vào của một hỏa điểm Nhật Bản sau khi cho nổ tung nó trong cuộc chiến đảo Saipan, tháng 7 năm 1944.

1641549903510.png

Thủy quân lục chiến Mỹ nấp sau xe bọc thép để tránh hỏa lực của quân Nhật

1641550079940.png

Tổ súng máy thủy quân lục chiến Mỹ đang yểm trợ hỏa lực cho bộ phận đánh chiếm sân bay

1641551778533.png

1641551992916.png

Khẩu đội pháo 37mm của thủy quân lục chiến Mỹ đang yểm trợ hỏa lực

1641551878994.png

1641551916025.png

Xe đổ bộ của thủy quân lục chiến Mỹ


1641550427678.png

Một thủy quân lục chiến Mỹ bị thương đang được băng bó

Trong một cuốn sách về trận chiến Saipan, tác giả John C. Chapin - từng là một lính Hải quân đánh bộ Mỹ trên đảo Saipan, đã mô tả lại cảnh hỗn loạn xung quanh ông vào sáng hôm đó: “Các thi thể nằm la liệt trong trạng thái rách nát, biến dạng; các ụ súng bị phá tung và cháy rụi; các xác xe đổ bộ bốc cháy…; mùi khét lẹt của thuốc nổ; những cây xanh bị xé nát; và rải rác trên cát là những vật dụng bị bỏ đi.” Bất chấp sự kháng cự kiên cường của quân Nhật, 8.000 lính Hải quân đánh bộ Mỹ vẫn tiến lên và đã bám được bờ vào sáng hôm đó. Vào cuối ngày, khoảng 20.000 lính Mỹ đã thiết lập được một “đầu cầu” trên đảo Saipan. Tuy nhiên, quân Mỹ phải trả giá bằng khoảng 2.000 lính bị thương vong trong quá trình này.

1641550313434.png

1641549333918.png

Lực lượng tiếp viện của Quân đội Hoa Kỳ lội vào bờ từ các tàu đổ bộ ở phía sau, tại Saipan, tháng 6 năm 1944

1641550196474.png

Binh sĩ Sư đoàn bộ binh 27 lục quân Mỹ trong Chiến dịch Saipan

Sáng hôm sau, quân Mỹ được tăng viện thêm và bắt đầu tiến sâu vào đảo, tiến về sân bay Aslito và tiến công các lực lượng Nhật nằm ở khu vực phía Nam và trung tâm của đảo. Ngày 18/6, quân Mỹ tiếp tục tiến công các mục tiêu trên đảo, nhưng không có sự chi viện của các đơn vị hải quân, vì các đơn vị này phải thực hiện nhiệm vụ đánh chặn các hạm đội của Nhật Bản được phái tới để tăng cường thế phòng ngự trên đảo Saipan.

1641552247418.png

1641552460474.png

Lính Nhật trong công sự

1641552285926.png

Quân Nhật phản công

1641550489709.png

1641549784778.png

Người lính Nhật này đầu hàng quân Mỹ, sau lưng anh ta là hệ thống phòng ngự trong hang động của Nhật
 
Chỉnh sửa cuối:
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

1641661623212.png


Thung lũng tử thần

Sau thất bại trong việc ngăn chặn quân Mỹ đổ bộ lên đảo Saipan, quân Nhật buộc phải rút lui về khu vực ngọn núi Tapotchau, nơi cao nhất của đảo, có thế khống chế toàn hòn đảo. Ngọn núi này cao khoảng 457m, nằm ở vị trí trung tâm của đảo Saipan. Sau các đợt giao chiến ác liệt, cuối cùng quân Mỹ cũng dần đẩy lui lực lượng phòng ngự của Nhật ra khỏi vị trí tưởng chừng bất khả công phá trên các điểm cao. Tướng Mỹ Smith ra lệnh cho quân Mỹ vượt qua một thung lũng rộng và trống trải để tiến đánh các vị trí của quân Nhật. Một bên gờ của thung lũng là dãy đồi và từ công sự kiên cố, các binh sĩ Nhật sử dụng vũ khí, trong đó có nhiều vũ khí hạng nặng bắn tà âm vào thẳng quân Mỹ đang tiến công.

1641656404376.png

Người lính này đang lợi dụng chiếc xe đẩy của cư dân bỏ lại để tránh làn đạn của quân Nhật

1641656633094.png

Bộ binh Mỹ chuẩn bị tham chiến

1641656843425.png

Người sống duy nhất trong số hàng trăm xác chết trong một hang động này là đứa trẻ bị ruồi đậu kín này, người gần như chết ngạt trước khi những người lính Mỹ tìm thấy em và đưa em đến bệnh viện.

1641657127463.png

Sức ép từ một vụ nổ gần đó đã khiến hai mẹ con này chạy trốn khỏi hang. Nhiều người tin tuyên truyền của Nhật Bản nói với họ rằng họ sẽ bị giết nếu bị bắt.

1641657220257.png

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ chăm sóc các đồng đội bị thương trong khi giao tranh vẫn diễn ra trong trận đánh chiếm Saipan.

1641657325661.png

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đưa đồng đội bị thương về xe tải thương trong khi giao tranh vẫn diễn ra trong trận đánh chiếm Saipan.

1641657450358.png

Khói và lửa bốc ra từ đống đổ nát của các tòa nhà bị tấn công trong một trận chiến ác liệt giữa quân Mỹ và Nhật tại Saipan

1641657569474.png

Khói bốc lên bầu trời từ cuộc bắn phá của hải quân và pháo binh Mỹ nhằm vào một căn cứ thủy phi cơ của Nhật Bản tại Flores Point, gần Cảng Tanapag.

1641661207939.png

Lính Mỹ đang tấn công một ổ đề kháng của Nhật trên đảo Saipan, 1944

1641657663365.png

Máy bay ném bom B-29 của Mỹ chuẩn bị oanh tạc đảo Saipan

1641657719371.png

Thủy quân Lục chiến Mỹ tiến qua xác của hai người lính Nhật

Phải đến cuối tháng 6, sau nhiều cuộc giao tranh quyết liệt, Hải quân đánh bộ Mỹ mới giành được quyền kiểm soát đối với ngọn núi Tapotchau. Quân Nhật buộc phải rút lui tiếp lên phía Bắc, tạo ra bước ngoặt trong trận chiến Saipan.

Đòn tiến công cảm tử vì danh dự nước Nhật
Vào đầu tháng 7/1944, các lực lượng của tướng Yoshitsugu Saito - Tư lệnh của quân Nhật trên đảo Saipan, đã rút lui về khu vực phía Bắc của hòn đảo này. Tại đây, quân Nhật bị hỏa lực của quân Mỹ từ trên bộ, trên biển và trên không liên tục đánh phá.

1641657924744.png

1641657967945.png

Tướng Yoshitsugu Saito

Saito kỳ vọng Hải quân Nhật sẽ kịp đến chi viện để đẩy lui quân Mỹ khỏi đảo, nhưng hạm đội Nhật đã bị đánh thiệt hại nặng trong trận hải chiến trên biển Philippines (vào các ngày 19 đến 20/6/1944) và không thể tới đảo Saipan được.

1641658078611.png

Tàu chiến của hạm đội Nhật Bản và tàu của Lực lượng Đặc nhiệm 58 của Hoa Kỳ trong các chiến dịch ngoài khơi Saipan ở Marianas vào năm 1944

1641658188692.png

1641661019241.png

Một người lính Mỹ chĩa súng trường vào boong-ke của quân Nhật, rất ít quân Nhật chịu đầu hàng

1641658291122.png

Lính Mỹ đang chuẩn bị các bi-đông nước cho trận đánh tiếp theo

1641661291183.png

1641661708606.png

Thủy quân lục chiến Mỹ cầm lá cờ thu được của một đơn vị lính Nhật
Nhận thấy không thể chống cự trước đòn tiến công của người Mỹ, tướng Sato xin lỗi Tokyo vì đã không bảo vệ được Saipan rồi tự sát. Tuy nhiên, trước khi chết, Saito lệnh cho tàn quân của mình mở một cuộc tiến công tổng lực và bất ngờ vì danh dự của Nhật hoàng.
Sáng ngày 6/7, khoảng 4.000 lính Nhật đồng thanh hô to “Banzai!” (nghĩa là “Vạn tuế!”), cầm lựu đạn, lưỡi lê, gươm và dao găm lao vào đội hình quân Mỹ gần cảng Tanapag. Lớp lớp quân Nhật quét qua một vài tiểu đoàn lính Mỹ, đánh giáp lá cà với họ, làm chết hoặc bị thương hơn 1.000 lính Mỹ. Nhưng sau đó quân Mỹ dựa vào hỏa lực pháo binh và súng máy bắn gần đã đẩy lui hoặc tiêu diệt gần như toàn bộ quân Nhật. Đây là trận xung phong “Banzai” lớn nhất của Nhật trong chiến tranh Thái Bình Dương. Đa phần lính Nhật chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Tuy nhiên, đòn cảm tử cũng không lật ngược được tình thế. Đến ngày 9/7, sau các đợt truy quét cuối cùng, quân Mỹ đã chiến thắng, chiếm được đảo Saipan.

1641661374987.png

1641661430133.png

Lính thủy Mỹ băng qua một ngôi làng đang bốc cháy bởi các cuộc giao tranh giữa quân Mỹ và Nhật

1641658399771.png

Công binh Mỹ đang đào một con hào để làm mộ chôn tập thể cho lính Nhật, bên trái con hào là xác quân Nhật đang chất đống

1641658635385.png

Tù binh Nhật trong trận Saipan, chỉ co khoảng 900 lính Nhật chịu đầu hàng

1641658956127.png

Đại úy quân đội Đế quốc Nhật Bản Sakae Oba giao thanh kiếm của mình cho Trung tá Howard C. Kurgis, tượng trưng cho sự đầu hàng.

Hậu quả trận chiến
Trận đánh khốc liệt trong 3 tuần đã khiến 3.000 lính Mỹ tử trận, và hơn 13.000 lính Mỹ bị thương. Theo một số ước tính, về phần quân Nhật mất ít nhất 27.000 binh lính. Vào ngày 9/7 phía Mỹ tuyên bố trận chiến kết thúc. Hàng nghìn cư dân đảo Saipan bị bộ máy tuyên truyền của Nhật nhồi sọ rằng họ sẽ bị quân Mỹ giết, nên đã tự sát bằng cách nhảy xuống từ các vách đá dựng đứng ở phía Bắc hòn đảo. Một nghiên cứu kết luận: “Tình trạng chưa hoàn thành của hệ thống phòng thủ Nhật (trên đảo Saipan) là một nhân tố quan trọng tạo nên chiến thắng quyết định của Mỹ. Các tàu ngầm tầm xa của Hải quân Mỹ đã cản trở thành công nhiều tàu bè của Nhật Bản, làm giảm việc vận chuyển xi măng và các vật liệu xây dựng lên đảo để củng cố vững chắc công sự ở Saipan”. Một tù binh Nhật trong một cuộc hỏi cung đã cho biết, nếu cuộc tiến công của Mỹ lùi lại 3 tháng thì hòn đảo Saipan sẽ thực sự bất khả công phá và số lượng thương vong (của Mỹ) còn cao hơn nhiều. Việc Saipan thất thủ đã gây choáng váng cho giới chính trị ở Tokyo, Thủ đô Nhật Bản. Và giới lãnh đạo Nhật Bản hiểu rằng, họ sắp phải đón nhận các đòn sấm sét từ máy bay chiến đấu tầm xa của Mỹ.

1641660768339.png

Người lính Nhật thiệt mạng, phía sau anh ta là chiếc xe tăng hạng nhẹ của Nhật cũng bị phá hủy trong một cuộc giao tranh với thủy quân lục chiến Mỹ, Saipan 1944

1641660942565.png

Lính Mỹ tại một cứ điểm của Nhật mà họ vừa chiếm được

1641658795396.png

Một gia đình thường dân ngồi xổm trên mặt đất, xung quanh là Thủy quân lục chiến Mỹ sau trận chiến giữa lực lượng Mỹ và Nhật Bản để giành quyền kiểm soát Saipan vào tháng 7 năm 1944.

1641658872677.png

Một người dân địa phương ngồi trên mặt đất với đứa con bị thương của mình sau trận chiến giữa quân đội Mỹ và Nhật Bản để giành quyền kiểm soát quần đảo Saipan, Bắc Marianas vào tháng 7 năm 1944.

1641659030710.png

Một người lính Hoa Kỳ đẩy xe nôi trong khi hộ tống một gia đình đến trại sơ tán tập trung trong trận Saipan.

1641661073238.png

1641661134262.png

Lính Mỹ và cư dân địa phương sau một trận đánh trên đảo Saipan, 1944


1641659431231.png

1641659515477.png

1641659642730.png

Lính Mỹ bên xe tăng Nhật bị bắn cháy sau trận chiến đảo Saipan

1641659761449.png

Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ kiểm tra một chiếc thủy phi cơ bốn động cơ bị thủng của Nhật Bản, có thể là một chiếc Kawanishi H8K “Emily”

1641659809498.png

1641659861530.png

Còn đây là chiếc thủy phi cơ Kawanishi H8K “Emily”

1641660132879.png

Lính Mỹ kiểm tra một chiếc máy bay chiến đấu của Nhật Bản bị bỏ lại

1641661519094.png

1641661576675.png

Lính thủy Mỹ bên những đồng đội của họ vừa thiệt mạng trong trận chiến

1641659143842.png

1641660453837.png

'Dauntless Dottie', một trong những máy bay ném bom B-29 Superfortress của Mỹ, đã sẵn sàng cho một cuộc ném bom xuống Tokyo từ sân bay đảo Saipan

1641659889008.png

Máy bay Dragon Lady của Phi đội máy bay ném bom thứ 42, Đơn vị ném bom số 11 Lực lượng không quân 7 của Mỹ cất cánh từ sân bayđảo Saipan, năm 1944.

1641660217328.png

Một chiếc P-47 mang tên Miss Mary Lou đang được trang bị Rockets M8 trên sân bay đảo Saipan, 1944.

1641660353529.png

Một chiếc P-47 khác trên sân bay đảo Saipan, 1944

1641660497791.png

Máy bay ném bom B-29 cất cánh từ sân bay đảo Saipan
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
Ba lý do khiến Mỹ rút quân khỏi Afghanistan

Trang mạng “Phương Đông”, Trung Quốc, ngày 13/8/2021 đăng bài viết của Chu Viễn, nghiên cứu viên cấp cao Tổ chức nghiên cứu chính sách chiến lược quốc tế thuộc Đại học Đông Nam-Trung Quốc, phân tích về việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan. Nội dung bài viết như sau:

Mỹ đang thực hiện cam kết của Tổng thống Joe Biden - rút toàn bộ quân khỏi Afghanistan trước ngày 31/8. Hiện nay, Mỹ đã rút gần hết quân, chỉ còn lại số ít nhân viên quân sự và có thể rút bất cứ lúc nào. Afghanistan sẽ không vui vẻ tiễn biệt họ, mà chỉ có sự tức giận và chế giễu. Quân đội Mỹ đã làm mọi cách trong 20 năm qua, nhưng cuối vẫn thất bại trước Taliban. Liệu nước Mỹ còn có thể diện trước thế giới?

Taliban tấn công khốc liệt

1641807722080.png

1641807741371.png

1641807765957.png

1641807782653.png

1641807829578.png


Ngày 12/8, người phát ngôn của Taliban Zabihullah Mujahid tuyên bố trên mạng xã hội rằng họ đã chiếm thành phố Ghazni, thủ phủ của tỉnh Ghazni. Đây là thủ phủ thứ 10 bị Taliban chiếm đóng trong vòng một tuần. Taliban tấn công áp đảo, chiếm nhiều thành phố mà gần như không tốn một viên đạn. Thành phố Ghazni chỉ cách thủ đô Kabul của Afghanistan 150 km và là một thành phố quan trọng chiến lược dẫn đến Kabul. Sau đó, Taliban đã tiến đến Kabul.

Taliban có thể sẽ siết chặt vòng vây đối với Kabul trong vòng 30 ngày, chiếm Kabul và thậm chí toàn bộ đất nước Afghanistan trong khoảng 2-3 tháng. Yếu tố khó đoán định hiện nay không phải là quân sự mà là đại diện của Taliban và Chính quyền Ghani vẫn đang đàm phán ở Doha. Các cuộc đàm phán đã diễn ra trong gần 1 năm, các nước như Mỹ… đứng ra làm trung gian hòa giải để thúc đẩy đàm phán nhưng Taliban không còn hứng thú với việc đàm phán.

Mỹ quyết tâm rút toàn bộ quân đội

Việc Mỹ rút toàn bộ quân đội khỏi Afghanistan đang gây ra những cuộc tranh luận gay gắt ở nước này, Chính quyền Biden đang phải chịu áp lực dư luận ngày càng lớn về vấn đề này. Nhiều người chỉ trích Biden làm như vậy là mạo hiểm, không những phải chịu trách nhiệm đối với tình hình bất ổn sau khi rút quân, mà còn bị mang tiếng xấu là vô trách nhiệm đối với sự an nguy của Afghanistan. Tuy nhiên, tình hình hiện nay cho thấy Biden vẫn quyết tâm rút quân.

CNN bình luận rằng kể từ thời Tổng thống Bush (con), tổng thống Mỹ các nhiệm kỳ đều tuyên bố sẽ rút quân khỏi Afghanistan, Bush (con) là người phát động cuộc chiến của Mỹ ở Afghanistan, nhưng lại luôn tỏ ra do dự về việc rút quân và cuối cùng cũng không thực hiện được; Barack Obama mặc dù phản đối cuộc chiến ở Afghanistan, nhiều lần bày tỏ muốn rút quân khỏi nước này, nhưng cuối cùng cũng không thực hiện được; Trump cũng nhiều lần tuyên bố sẽ rút quân khỏi Afghanistan để tìm kiếm phiếu bầu, nhưng cuối cùng cũng không làm được.

Đến nay, Biden đã trở thành Tổng thống Mỹ quyết định rút toàn bộ quân đội khỏi Afghanistan. Việc Mỹ rút khỏi cuộc chiến dài nhất có thể sẽ gây ra một thảm họa chính sách đối ngoại. Biden, vị tổng tư lệnh quân đội Mỹ 78 tuổi, đã mở ra một con đường táo bạo, các đại sứ quán ở nước ngoài bao gồm cả trong nước Mỹ đều đang thảo luận về vấn đề rút quân. Tất cả những điều này sẽ đưa đến việc kết thúc giấc mơ dân chủ của Mỹ ở Afghanistan, vốn được đánh đổi bằng máu của hàng nghìn người Mỹ.

1641807914564.png

1641807928474.png

1641807949989.png

1641807969527.png

1641807999178.png

1641808031269.png

1641808047451.png

1641808190418.png

1641808207479.png

1641808249052.png

1641808269406.png

1641808289773.png

1641808069316.png

1641808156539.png
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

Có ba lý do chính khiến Biden quyết định rút toàn bộ quân đội Mỹ khỏi Afghanistan:

Một là, sau cuộc chiến kéo dài 20 năm ở Afghanistan, Mỹ không còn cầm cự được nữa và cho rằng điều đó là không đáng. Mỹ đã chi hơn 1.000 tỷ USD cho cuộc chiến này, nếu tiếp tục đóng quân ở Afghanistan không chỉ khiến Mỹ khó có thể gánh vác chi phí qân sự, mà còn khó có thể chịu đựng cái giá về sinh mạng người Mỹ.

Cho đến nay, sự an ủi và hỗ trợ cho các thành viên trong gia đình của hơn 4.000 quân nhân Mỹ hy sinh trong cuộc chiến này là một vấn đề lớn, và vấn đề an ủi và trị liệu về tinh thần cho một số lượng lớn thương binh và gia đình của họ còn lớn hơn. Mặc dù dư luận Mỹ có một số ý kiến phản đối việc Biden rút quân, nhưng nếu Biden thực sự muốn quân đội tiếp tục ở lại Afghanistan, thì sẽ còn nhiều thương vong hơn, khi đó Biden chắc chắn sẽ vấp phải nhiều sự công kích và chỉ trích hơn. Do các tổng thống tiền nhiệm đã đề xuất muốn rút quân khỏi Afghanistan nên cuộc chiến ở Afghanistan thiếu tính hợp pháp, dư luận Mỹ nhìn chung cũng tán thành việc sớm để cho quân đội Mỹ được về nước. Biden tốt nhất là thuận theo tình thế, rút toàn bộ quân đội về nước và không còn phải mang gánh nặng chiến tranh nữa. Trước sự chỉ trích của dư luận, Biden cho biết nếu tiếp tục ở lại Afghanistan, thì quân đội Mỹ sẽ bị sa lầy ở nước này mãi mãi.

1642123470588.png

Thủy quân lục chiến Mỹ lên máy bay thực hiện một nhiệm vụ tại Afghanistan

1642123767067.png

Quang cảnh Afghanistan từ cửa sau trực thăng Chinook

1642164788135.png

Quân đội Hoa Kỳ tại một địa điểm không được tiết lộ ở Afghanistan vào ngày 17 tháng 3 năm 2020.

1642164929429.png

1642165120455.png

Các binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn bộ binh 121 thuộc Đội tác chiến Lữ đoàn bộ binh 48 đảm bảo an ninh khi trực thăng CH-47 Chinook hạ cánh sau cuộc giao tranh với Taliban ở Đông Nam Afghanistan.

1642165018519.png

Chiến binh Taliban đi ngang qua một tiệm làm đẹp với hình ảnh những phụ nữ bị bôi sơn xịt ở Shar-e-Naw ở Kabul ngày 18/8/2021.

1642165217866.png

1642165350987.png

Binh sỹ Mỹ tại một căn cứ không được tiết lộ ở Afghanistan.

Hai là, Mỹ cho rằng cuộc chiến ở Afghanistan là vũng lầy lớn, Afghanistan không phải là vấn đề mà Mỹ có thể giải quyết và không nên tiếp tục quan tâm. Gần đây, Washington nhiều lần nhấn mạnh việc Mỹ gửi quân đến Afghanistan sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 là để trừng phạt các thủ phạm và những kẻ bao che cho chúng, chứ không phải là để giải quyết vấn đề của Afghanistan, mối thù của Mỹ đã trả xong, tại sao Mỹ phải ở lại Afghanistan? Gần đây, Biden nhiều lần cho biết Afghanistan là của người Afghanistan, các vấn đề của Afghanistan (bao gồm hòa giải chính trị và tái thiết sau chiến tranh) đều là vấn đề của người Afghanistan và không liên quan đến Mỹ. Trên thực tế, đây là kết luận được Mỹ rút ra sau 20 năm trải qua vô số bài học kinh nghiệm đau khổ và trắc trở ở Afghanistan.

1642165565909.png

1642165614040.png

Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani

Vấn đề Afghanistan quá phức tạp, về cả lịch sử lẫn hiện thực. Afghanistan vừa có các vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề chính trị, tôn giáo và sắc tộc, kinh tế, xã hội và vấn đề đời sống của người dân, vừa có bối cảnh bên ngoài và vấn đề đan xen đa dạng phức tạp giữa các phe phái và thế lực ở trong nước. Rất khó để chỉ ra thế lực nào làm chủ Afghanistan.

Mối quan hệ giữa Mỹ và Taliban cũng không rõ ràng, trước đây và bây giờ vẫn vậy. Mỹ vừa muốn gây dựng và lôi kéo Taliban, vừa không muốn Taliban phát triển lớn mạnh, thoát khỏi sự kiểm soát của Mỹ. Mỹ đã xây dựng chính phủ ở Afghanistan và tiến hành 4 cuộc bầu cử, nhưng Chính phủ Afghanistan chưa bao giờ có thể kiểm soát được cục diện chính trị, kinh tế, tôn giáo, xã hội và văn hóa ở nước này, càng không nắm được quyền chủ động về quân sự. Mỹ đã viện trợ một lượng lớn quân sự, kinh tế và trang thiết bị cho Chính quyền Ghani do dân bầu ra, nhưng Chính phủ Afghanistan vẫn không vực dậy được.

1642165705159.png

1642165806646.png

1642165829380.png

1642165854013.png

Các phe phái chính trị tại Afghanistan

Con gái của cựu tổng thống Afghanistan gần đây đã nói với truyền thông rằng bất kỳ phe phái nào ở Afghanistan đều kêu gọi sự đoàn kết dân tộc và hòa giải chính trị, song trên thực tế đều không thực sự muốn vậy. Nhiều phe phái xuất hiện trong Chính quyền Ghani và đều có ý đồ riêng, cạnh tranh với nhau. Nội bộ Taliban cũng có nhiều phe phái, chủ trương thiếu thống nhất, có các mối quan hệ bên ngoài khác nhau, một số phe phái hoặc một số người tạm thời xích lại gần nhau do nhu cầu quyền lực. Afghanistan không chỉ có hai phe là Chính quyền Ghani và Taliban, mà còn tồn tại nhiều phe phái và các thế lực tôn giáo sắc tộc. Mặc dù Taliban tương đối có ưu thế về chính trị, tôn giáo và quân sự, nhưng phần lớn người Afghanistan đều biết rằng điều mà họ quan tâm không phải là xây dựng và phát triển kinh tế của Afghanistan, có ít người Afghanistan tin rằng Taliban có năng lực quản lý xã hội và kế hoạch chấn hưng và phát triển kinh tế thực sự, điều mà Taliban muốn nhất đó chính là chính quyền, là sự báo thù đối với Chính quyền Ghani và các thế lực ủng hộ chính quyền này. Việc Taliban muốn cầm quyền không phải là chuyện dễ dàng.

1642165975799.png

Các lính biệt kích quân đội Afghanistan tham dự lễ tốt nghiệp của họ sau chương trình huấn luyện kéo dài 3 tháng rưỡi tại Trung tâm Huấn luyện Biệt kích ở ngoại ô Kabul, Afghanistan

1642166504548.png

Lực lượng đặc biệt Afghanistan tốt nghiệp vào tháng 7/2021.

1642165992505.png

Một binh sĩ Quân đội Quốc gia Afghanistan đứng gác tại một trạm kiểm soát ở Kabul, Afghanistan

1642166058330.png

Các binh sĩ Quân đội Quốc gia Afghanistan đứng gác tại hiện trường một vụ tấn công liều chết ở Kabul, Afghanistan ngày 29 tháng 4 năm 2020

1642166097472.png

Một lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ quan sát các binh sĩ Quân đội Quốc gia Afghanistan nâng cao quốc kỳ Afghanistan trên một chiếc xe bọc thép trong một cuộc tập trận IED

1642166157169.png

Lễ bàn giao Trại Anthonic từ Quân đội Hoa Kỳ cho Lực lượng Phòng vệ Afghanistan ở tỉnh Helmand, Afghanistan

1642166223144.png

Tờ bìa cứng nhắc nhở rằng lực lượng Taliban có thể ở bất cứ đâu và ở khắp mọi nơi ở miền nam Afghanistan ngày 1 tháng 12 năm 2001.

1642166280012.png

Một binh sĩ Quân đội Quốc gia Afghanistan (ANA) đứng gác tại một tiền đồn chống lại các tay súng Taliban ở Kajaki, tỉnh Helmand, đông bắc Afghanistan.

1642166332122.png

Một người lính Hoa Kỳ thuộc Trung đoàn Bộ binh 5-20, Sư đoàn Dù 82.

Trong đối với Mỹ, đặc biệt là Biden, do không phe nào ở Afghanistan sẽ thực sự nghe theo Mỹ, nên cũng không cần thiết để tiếp tục giúp đỡ phe nào. Nếu Mỹ tiếp tục đóng quân ở Afghanistan, nước này sẽ chỉ trở thành mục tiêu công kích và gây ra sự bất mãn và thù hận từ các thế lực chính trị, tôn giáo và sắc tộc ở Afghanistan. Vì vậy, hiện nay rút quân là thích hợp nhất, rút toàn bộ còn hơn để lại một số lực lượng, đây là cách nghĩ thiết thực và quyết định cuối cùng của Biden.
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

Ba là, Mỹ có các ý đồ chiến lược quốc tế và khu vực lớn hơn, Biden có chương trình nghị sự trong nước quan trọng hơn cần thúc đẩy, nên không muốn tiếp tục tiêu tốn sức lực ở Afghanistan, để phải sa lầy không lối thoát ở nước này. Đối với Mỹ, Afghanistan tất nhiên là có giá trị chiến lược vô cùng quan trọng, nhưng trong những năm qua Mỹ cũng đã bố trí chiến lược ở khu vực xung quanh Afghanistan. Việc Mỹ rút toàn bộ quân đội khỏi Afghanistan không có nghĩa là Mỹ hoàn toàn bỏ rơi Afghanistan, khi cần vẫn tiếp tục thể tiếp tục ảnh hưởng thậm chí can thiệp vào nước này. Các phe phái ở Afghanistan, bao gồm cả Taliban sau này cũng sẽ không thể tách khỏi Mỹ.

1642246448438.png

Các quan chức Taliban tuyên bố chiến thắng tại sân bay Kabul vào ngày 31 tháng 8. Chiến thắng nhanh chóng của họ đã khiến Iran bất ngờ.

1642246497228.png

Người Afghanistan chờ sang Iran tại đồn biên phòng Zaranj. Chiến thắng của Taliban đã tạo ra một làn sóng tị nạn mới vào Iran.

1642246596210.png

Người Afghanistan tại một trại tị nạn ở Zahedan, Iran. Hơn hai triệu người tị nạn Afghanistan đã tị nạn ở Iran trước chiến thắng của Taliban.

1642246633260.png

Một người bảo vệ tại một nhà thờ Hồi giáo Shiite ở Kandahar đã bị IS đánh bom. Iran lo ngại rằng Taliban không sẵn sàng hoặc không thể ngăn chặn các cuộc tấn công như vậy.

Điều quan trọng hơn là Mỹ đang hoặc đã điều chỉnh chiến lược toàn cầu quan trọng và đã xác định được các đối thủ chiến lược chính. Đối với Mỹ, Afghanistan chỉ là một quân cờ trên bàn cờ chiến lược mới của Mỹ. Những tuyên bố của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc gần đây về cơ bản cho thấy: để cho các phe phái ở Afghanistan chiến đấu tranh giành với nhau, như vậy quân đội Mỹ mới có thể làm những việc lớn khác.

1642246834575.png

Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani phát biểu thông điệp quốc gia ở Kabul, Afghanistan ngày 14/8/2021.

1642246870884.png

Một máy bay trực thăng Chinook của Hoa Kỳ bay trên Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Kabul, Afghanistan, vào Chủ nhật, ngày 15 tháng 8, khi Taliban bắt đầu tiến vào thủ đô Afghanistan từ mọi phía.

1642246975808.png

1642247054985.png

1642247084988.png

Các tay súng Taliban giành quyền kiểm soát dinh tổng thống Afghanistan sau khi Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani bỏ trốn khỏi đất nước, ở Kabul, Afghanistan vào ngày 15/8/2021.

Kể từ khi nhậm chức, Biden đã nhấn mạnh hai trọng điểm cầm quyền chính. Thứ nhất, tăng cường toàn diện sức mạnh và năng lực cạnh tranh quốc tế của Mỹ thông qua việc tăng cường toàn diện xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng chuỗi cung ứng cốt lõi, nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, chấn hưng ngành sản xuất chế tạo tiên tiến, buộc các công ty Mỹ phải trở lại nước và khuyến khích người Mỹ “mua hàng Mỹ”. Gần đây, khi đến thăm phòng thí nghiệm trọng điểm Đại học Maryland, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã có bài phát biểu, nhấn mạnh phải “đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại” để nâng cao sức mạnh của Mỹ. Thứ hai, tăng cường toàn diện ngoại giao Mỹ, kết nối ngoại giao với đối nội, kinh tế và khoa học kỹ thuật, lấy ngoại giao thúc đẩy đối nội, từ đó nâng cao sức mạnh của Mỹ, thúc đẩy chính sách ngoại giao của Mỹ, thay đổi quan điểm cho rằng nước Mỹ đang suy thoái trên trường quốc tế.

1642247127846.png

1642247181124.png

Dân thường tại sân bay quốc tế Hamid Kazai tại Kabul, ngày 14/8/2021

Từ các động thái cho thấy Chính quyền Biden đang sử dụng nhiều biện pháp để nỗ lực thúc đẩy thực hiện các mục tiêu đối nội và đối ngoại của mình. Biden hiện đang quyết tâm thúc đẩy kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh tế, khoa học và công nghệ trị giá 4.500 tỷ USD ở trong nước, nhưng vấp phải trở ngại lớn từ các nghị sỹ đảng Cộng hòa trong Quốc hội. Điều mà Biden phải đối phó là trong nội bộ Mỹ, đặc biệt là các nghị sỹ của đảng Cộng hòa trong Quốc hội, để đọ sức với các đối thủ cạnh tranh quốc tế, chứ không phải tiếp tục chiến đấu với Taliban ở Afghanistan, cũng không phải tiếp tục đầu tư lượng lớn ngân sách của Mỹ vào Chính quyền Ghani đã không thể đứng dậy.
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
11,952
Động cơ
1,453,425 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
CHIẾN TRANH TRUNG ĐÔNG NĂM 1967 NƠI LIÊN XÔ VÀ NATO THỬ NGHIỆM VŨ KHÍ MỚI

Hơn 50 năm trước, vào ngày 10/6/1967, Chiến tranh 6 ngày - cuộc xung đột vũ trang ngắn nhất trong nửa cuối thế kỷ 20 kết thúc. Và theo nhận định của ông Andrei Kots, thì cuộc chiến này chính là nơi thử nghiệm những loại vũ khí hiện đại nhất vào thời điểm đó của Liên Xô và NATO. Cuộc xung đột vũ trang giữa Israel với Liên quân Arab gồm Ai Cập, Jordan, Syria, Iraq và Algeria diễn ra từ ngày 5/6 đến ngày 10/6/1967. Ngay từ đầu cuộc chiến, Israel đã tìm cách phá hủy hầu hết lực lượng không quân của Ai Cập và sau đó chuyển sang đánh chiếm bán đảo Sinai, dải Gaza, khu Bờ Tây sông Jordan, Đông Jerusalem và cao nguyên Golan.

1642402533372.png

1642402589417.png

1642402619987.png

1642402649254.png

1642402690545.png


Tuy nhiên, điểm đặc biệt được quan tâm trong Cuộc chiến tranh 6 ngày không phải là chiến lược và những chiến thuật của các bên liên quan, mà chính là những loại vũ khí được sử dụng trong cuộc đối đầu này. Trong cuộc chiến, Liên Xô và các nước thuộc khối NATO đã sử dụng những loại xe tăng và máy bay mới nhất lần đầu xuất hiện trên chiến trường. Sau đó, những loại vũ khí này đã tiếp tục được sử dụng trong hàng chục cuộc xung đột khác trên thế giới. Ông Kots cho rằng: “Trên thực tế, trong suốt Cuộc chiến tranh 6 ngày, ngành công nghiệp quân sự của cả Liên Xô và phương Tây đều đã cố gắng tìm hiểu xem thiết kế của bên nào tốt, hiện đại và hiệu quả hơn. Cũng như ngày nay, vào thời điểm hơn nửa thế kỷ trước họ đã không thể có câu trả lời một cách rõ ràng”. Nhà báo Kots cho biết, những trận đấu xe tăng trong Cuộc chiến tranh 6 ngày đã đi vào lịch sử bởi cuộc chiến này đã huy động số lượng xe tăng nhiều nhất kể từ sau Thế chiến Hai. “Hai bên sử dụng hơn 2.500 xe tăng hạng nhẹ, hạng trung và hạng nặng tham chiến. Trong khi đa số các phương tiện này được cho là lỗi thời vào thời điểm năm 1967 thì cũng xuất hiện nhiều loại vũ khí hiện đại”.

1642402781160.png

1642402804243.png

1642402861691.png

1642402890678.png

1642402915684.png

1642404450852.png


Đầu những năm 1960, Liên Xô đã cung cấp cho Ai Cập và Syria hàng trăm xe tăng chủ lực T-55 hiện đại nhất vào thời kỳ đó. Và T-55 là một trong những loại xe tăng được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Theo ông Kots, “T-55 là loại xe tăng đầu tiên trên thế giới được trang bị hệ thống bảo vệ chống vũ khí hạt nhân; đồng thời, là phương tiện bọc thép đầu tiên của Liên Xô sử dụng hệ thống bảo vệ chủ động Drozd. Pháo D-10T2S của T-55 có thể tiến công hiệu quả hầu hết các phương tiện bọc thép của phương Tây, trong khi đó hình dáng của T-55 cho phép nó ẩn nấp hiệu quả trong các loại địa hình”.

1642402975285.png

1642403023399.png

1642403198540.png

1642403292266.png

Xe tăng T-54/55 của liên quân trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967

Cùng thời gian này, М-51 Super Sherman, phiên bản nâng cấp của xe tăng M4 Sherman của Mỹ, được coi là quân bài chiến thắng chủ yếu của Các lực lượng quốc phòng Isreal (IDF). Loại phương tiện bọc thép này từng được “khoe khoang” là trang bị khẩu pháo 105mm hiện đại, động cơ diesel Cummins VT8- 460 đáng tin cậy, hộp số tự động và bánh xích rộng 23 inch (58,42cm).

1642403436513.png

1642403467633.png

1642403494660.png

1642403580468.png

1642403617751.png

1642404208236.png

Xe tăng М-51 Super Sherman trong cuộc chiến 6 ngày, năm 1967

Ông Kots lưu ý rằng: Trong môi trường khí hậu đặc biệt tại Trung Đông, Super Sherman đã không thể chứng tỏ khả năng tin cậy và chịu tổn thất nặng nề nhất cho Israel tại mặt trận Syria. “Trong khi giao chiến với những chiếc tăng của Liên Xô tại cao nguyên Golan, IDF mất 160 chiếc Super Sherman và những xe tăng Centurion do Anh sản xuất. Trong khi đó, Syria chỉ thiệt hại 73 phương tiện, trong đó có 10 chiếc T-54 và T-55”.

1642403775486.png

1642403866239.png

1642403939862.png

1642404042369.png

Xe tăng М-51 Super Sherman của Israel bị phá hủy trong cuộc chiến 6 ngày, năm 1967

Nhà nghiên cứu Kots cho rằng, huấn luyện không đầy đủ chính là điểm yếu lớn nhất, khiến Liên quân Arab thất bại trong Cuộc chiến tranh 6 ngày. “Kinh nghiệm từ Cuộc chiến tranh 6 ngày cho thấy, ngay cả khi sở hữu những chiếc xe tăng hiện đại nhất, nhưng với kíp lái được huấn luyện sơ sài tất yếu sẽ chiến bại khi đối đầu với những phương tiện cũ kỹ hơn, nhưng được những binh lính nhiều kinh nghiệm điều khiển”.

1642404173416.png

1642404654990.png

1642404727203.png

Xe tăng T54/55 của liên quân Ả rập bị phá hủy trong cuộc chiến 6 ngày, năm 1967
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top