- Biển số
- OF-151495
- Ngày cấp bằng
- 3/8/12
- Số km
- 12,985
- Động cơ
- 495,102 Mã lực
Cái này đọc cũng khá thú vị, mỗi tội hơi dài ạ:
www.facebook.com
VÌ SAO VIỆT NAM NGHÈO DAI? KHÔNG PHẢI DÂN LƯỜI, MÀ VÌ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG ĐANG CẠN DƯ ĐỊA, TIỀN CHẢY VÀO ĐẤT, NỢ VÀ CỬA NHIỀU HƠN CHẢY VÀO NĂNG SUẤT.
Rùa em nói chuyện với nhiều cụ rất có kiến thức, họ nó Việt Nam chận phát triển vì dân lười, lúc đó em muốn đứng dậy cười thẳng vào mặt.
Dân Việt lười cái gì? Dân Việt thuộc dạng cày top thế giới, làm sáng, làm tối, tăng ca, chạy xe công nghệ, bán hàng online, đi làm xa, gửi con cho ông bà… Cày đến mức nhiều người không có cuối tuần đúng nghĩa. Vấn đề không nằm ở việc dân có chịu làm hay không. Vấn đề nằm ở chỗ là dân làm ra của cải thật, nhưng cơ chế phân bổ và mô hình tăng trưởng khiến phần lớn giá trị bị ăn mòn, và phần ngon chảy vào những khu vực không tạo năng suất như đất đai, đầu cơ, đặc quyền, thủ tục, chứ không chảy vào nhà máy, công nghệ, đổi mới...
Việt Nam đã khá lên, nhưng vẫn ở nấc trung bình thấp, và đang chạm trần mô hình cũ
Theo World Bank, GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2024 khoảng 4.717 USD/người. Nghe vậy nhiều người phấn khích, tưởng sắp hóa rồng. Nhưng đặt cạnh khu vực sẽ thấy Việt Nam vẫn ở đoạn giữa đường, chưa vào cửa khá hay giàu nếu so sánh với Malaysia, đã ở ngưỡng trên 10.000 USD, Thái Lan khoảng 7.000 USD, Trung Quốc trên 12.000 USD. Tức là Việt Nam đã thoát nghèo, nhưng chưa vượt được bẫy thu nhập trung bình.
Đáng nói hơn, khi GDP/người đến tầm 4.000–5.000 USD, những dư địa tăng trưởng dễ ăn như lao động rẻ, đất rẻ ,ưu đãi rẻ bắt đầu cạn. Muốn tăng tiếp thì phải nhảy lên tầng mới tức là tăng năng suất, đổi mới, nâng cấp công nghệ, thương hiệu, thể chế. Và đây là chỗ Việt Nam đang kẹt,mô hình cũ vẫn kéo được tăng trưởng, nhưng kéo càng ngày càng nặng, càng ngày càng tốn nguồn lực.
Giai đoạn đầu phát triển, nước nào cũng dùng lao động rẻ để hút nhà máy. Nhưng đi được 10–20 năm, lợi thế đó sẽ tự bốc hơi vì 3 lý do chính: dân số bắt đầu già hóa, lương tối thiểu tăng, và có quá nhiều đối thủ mới rẻ hơn. Đặc biệt, Việt Nam tăng trưởng nhiều năm vẫn nặng về mở rộng thay vì nâng chất lượng, chúng ta mới chỉ cố gắng thêm công nhân, thêm khu công nghiệp, thêm nhà xưởng… chứ chưa phải tự động hóa mạnh, sản phẩm có chất xám cao, doanh nghiệp nội làm chủ chuỗi giá trị.
Đây là lý do năng suất lao động tuy tăng nhưng vẫn thấp so với khu vực. Năng suất lao động Việt Nam tăng nhưng vẫn quá thấp. Nói thô nhưng thật là cày bằng cơ bắp và kỷ luật không cứu nổi nếu nền kinh tế chạy bằng máy cũ.
Lao động mà không đi kèm năng suất thì lương không thể tăng mạnh. Lương không tăng mạnh thì dân không giàu. Đơn giản vậy thôi. Đây chính là sự khác biệt giữa các nền kinh tế, ngay cả Trung Quốc cũng không thể so sánh về năng suất lao động của Nhật Bản, Mỹ hay Tây Âu.
FDI giúp GDP đẹp, nhưng phần ngon nằm ở nước ngoài, xuất khẩu nhiều chưa chắc giàu.
Việt Nam rất giỏi xuất khẩu. Có năm xuất khẩu hàng hóa vượt 300–350 tỷ USD. Nhưng vấn đề là xuất khẩu nhiều không đồng nghĩa giàu. Giàu hay không nằm ở giá trị gia tăng Việt Nam giữ lại được bao nhiêu.
Các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử, điện thoại, linh kiện… phần lớn là FDI. Việt Nam ở khâu lắp ráp cuối chuỗi. Lợi thế là việc làm và kim ngạch. Nhưng bất lợi là lợi nhuận lớn nằm ở khâu thiết kế, công nghệ lõi, thương hiệu, hệ sinh thái, những thứ không nằm ở Việt Nam.
Bởi vậy mới có nghịch lý, GDP tăng, đường phố đông xe, siêu thị đầy hàng… nhưng người lao động vẫn sống rất chắt chiu. Vì cái tăng trưởng đó không chảy thành thu nhập rộng rãi cho dân.
Vấn đề không phải Việt Nam quá nghèo mà là tiền đi sai chỗ, chính là vì đất đai hút vốn như máy hút máu.
Đây là vấn đề rất khó giải thích thì đâu đó vẫn có tình trạng tư bản thân hữu hoạt động mạnh và rất nhiều dự án bất động sản là sân sau của Ngân Hàng, những nhà tài phiệt quan hệ với ai đó, bởi vậy ai ở Việt Nam cũng thấy rõ, giá nhà tăng nhanh hơn lương.
Một nền kinh tế bình thường phải bơm vốn vào năng suất, máy móc, công nghệ, logistics, đào tạo… Còn Việt Nam, trong nhiều giai đoạn, vốn lại chạy vào đất như thiêu thân. Không phải dân ham đất tự nhiên, mà vì cơ chế khiến đất trở thành kênh giàu nhanh, hấp dẫn nhất.
Có số liệu cho các cụ thấy ngay, theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 6/2024, tín dụng bất động sản đã vượt 3,08 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 21,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.
21,4% là cực lớn. Nó nói một điều, tín dụng của nền kinh tế chảy mạnh vào đất. Và khi dòng tiền chảy vào đất quá mạnh, nền kinh tế bị tự triệt tiêu dư địa phát triển vì hụt vốn, theo đúng 3 cơ chế kinh điển:
1 : Sản xuất thiếu vốn, đổi mới yếu
Ngân hàng thích cho vay bất động sản (tài sản thế chấp dễ, tài sản tăng giá) hơn là cho vay R&D hay sản xuất rủi ro. Doanh nghiệp muốn nâng công nghệ thì rất khó.
2 : Chi phí sống tăng, bóp chết tầng lớp trung lưu.
Giá nhà cao kéo theo giá thuê, giá dịch vụ, giá nuôi con. Người trẻ thành nô lệ trả góp. Mà một quốc gia muốn giàu phải có tầng lớp trung lưu mạnh, trung lưu muốn mạnh thì phải tích lũy được. Không tích lũy được thì không có lực tiêu dùng, không có lực đầu tư.
3: Xã hội bị bẻ lái sang đầu cơ
Khi ôm đất 6 tháng lời bằng làm ăn 5 năm, mọi người sẽ thấy thị trường méo mó ngay, người giỏi bỏ sản xuất, người bình thường cũng bỏ tiết kiệm để lao vào đất. Đó là cách một nền kinh tế tự đốt tương lai. Trung Quốc đang thấm đòn cái trò bùng nổ bất động sản này.
Tăng trưởng dựa vào tín dụng - bơm mãi là đến lúc gãy ngân sách, vì hiệu quả vốn giảm.
Một nền kinh tế khỏe là nền kinh tế tăng nhờ năng suất. Một nền kinh tế yếu thường tăng nhờ bơm vốn. Và Việt Nam có thời kỳ nghiêng nhiều về bơm vốn, tức là tăng trưởng gắn chặt vào tín dụng.
Nhưng tín dụng không phải phép màu. Nếu tín dụng bơm ra mà chạy vào tài sản (đất, bong bóng), nó tạo nợ xấu, tạo rủi ro hệ thống. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho 2026 xuống khoảng 15%, sau khi từng cảnh báo về nguy cơ bong bóng tài sản, đặc biệt là bất động sản. Điều này nói đến cảnh báo hệ thống tiền ngân sách bơm mãi sẽ nguy hiểm.
Một trong những nghịch lý lớn nhất Việt Nam giai đoạn gần đây là có tiền nhưng giải ngân chậm. Cái này không phải chuyện nhỏ. Đầu tư công ở các nước đang phát triển là động cơ hạ tầng, giúp tăng năng suất tự nhiên. Nhưng khi thủ tục rối, tâm lý sợ sai, ai cũng né ký, dự án bị treo, thì nền kinh tế bị tắc lại.
Việt Nam bị tồn đọng thủ tục khiến thất thoát vốn, khó sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài và đình trệ dự án, do chiến dịch chống tham nhũng làm tăng tâm lý sợ trách nhiệm và hệ thống giấy tờ quá phức tạp. Chống tham nhũng là đúng, nhưng nếu thể chế không rõ ràng để người thực thi dám làm, thì nền kinh tế bị đóng băng. Vốn nước ngoài nó nhìn vào hệ thống, nếu thể chế là bị tắc lại loại tắc nguy hiểm nhất, vì nó giết niềm tin đâu tư và giết thời gian. Mà thời gian là tiền.
Em so sánh Việt Nam, Thái Lan và Malaysia - những nước gần nhất và cũng tương tự nhất trong khu vực để thấy chúng ta ở đâu. So sánh không phải để tự nhục, mà để biết mình kẹt ở đâu.
Thu nhập đầu người
Việt Nam 4.700 USD
Thái Lan 7.000 USD
Malaysia trên 11.000 USD
Chênh lệch này không phải do dân ta lười, mà nó là do cấu trúc nền kinh tế và năng suất.
Thái Lan và Malaysia có nền công nghiệp nội địa mạnh hơn ở một số mảng, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực. Việt Nam thì mạnh FDI, nhưng doanh nghiệp nội còn yếu, dễ bị kẹt ở tầng thấp. Thái Lan chính là công xưởng ở Đông Nam Á.
Cái quyết định mức độ tăng trưởng chính là năng suất lao động. Năng suất là thứ kéo lương lên. Nếu năng suất không tăng mạnh, thì GDP tăng cũng chỉ là đi nhanh tại chỗ, sống bận rộn nhưng vẫn nghèo.
Ở mục thị trường vốn và tích lũy dài hạn thì Malaysia có thị trường vốn phát triển hơn, doanh nghiệp dễ huy động vốn dài hạn. Việt Nam phụ thuộc nhiều vào ngân hàng, mà ngân hàng lại dễ bị hút vào bất động sản.
Ở phương diện tài sản cá nhân, giá nhà so với thu nhập. Đây là thứ đập vào mặt tầng lớp trẻ ở Việt Nam. Khi nhà tăng nhanh hơn thu nhập, toàn bộ sức bật xã hội bị bóp lại . Người trẻ nợ nên không dám tiêu, không dám sinh con dẫn đến giảm sức cầu nên kéo theo kinh tế thiếu lực chi tiêu dùng nội địa. Việt Nam hiện không thiếu người làm việc. Việt Nam thiếu một cơ chế phân bổ vốn và cơ hội khiến làm việc thật sự tạo ra tích lũy thật sự.
Trong các thời kỳ trước, Việt Nam, nhiều giai đoạn giàu nhanh không đến từ tạo giá trị, mà đến từ đứng đúng cửa.
Cửa gì?
Cửa đất: dự án, quy hoạch, chuyển đổi mục đích.
Cửa tín dụng: ai được ưu tiên vốn rẻ, ai bị đẩy ra ngoài.
Cửa thủ tục: ai có thể thông qua nhanh, ai bị hành.
Cửa ưu đãi: ai được hưởng, ai không.
Đây là kinh tế học của kiểu - thu tô. Khi xã hội bị thu tô mạnh, năng suất quốc gia không tăng. Vì phần lớn năng lượng xã hội đi vào giành phần, chứ không đi vào tạo ra bánh xe tăng trưởng ổn định và thực chất.
Vậy phải làm sao trong thời gian tới ?
Muốn thoát nghèo dai, Việt Nam phải đổi động cơ tăng trưởng. Không có phép màu nào cả chỉ có 5 việc chiến lược phải làm được.
1: Tách nền kinh tế khỏi cơn nghiện đất
Công cụ là thuế - tín dụng -minh bạch quy hoạch - quản lý đầu cơ. Nếu không cắt kênh hút vốn này, mọi nguồn tiền sẽ lại chạy vào đất, và mọi cải cách khác bị vô hiệu hóa.
2: Đưa vốn về sản xuất và công nghệ
Doanh nghiệp sản xuất phải vay được vốn dài hạn, lãi chấp nhận được, thủ tục rõ. Muốn vậy phải làm thị trường vốn mạnh lên, không để hệ thống ngân hàng ôm rủi ro đất quá nặng.
3: Xây doanh nghiệp nội hạt nhân thay vì mãi là vệ tinh. FDI không xấu. Nhưng Việt Nam phải có doanh nghiệp nội đủ sức làm nhà cung ứng cấp cao, nắm công nghệ, làm thương hiệu. Không có doanh nghiệp nội mạnh thì GDP tăng vẫn chỉ là tăng trên giấy.
4: Thông thể chế, giảm cửa, giảm xin-cho, giảm sợ ký. Chống tham nhũng phải đi cùng luật rõ để người khác làm và dám làm. Nếu không, bộ máy đóng băng, đầu tư tắc, doanh nghiệp chết.
5 : Đầu tư công phải trở thành năng suất, không phải trở thành đội vốn. Hạ tầng tốt kéo năng suất toàn xã hội lên. Nhưng hạ tầng mà rơi vào vòng đội giá - thất thoát - kéo dài thì nó thành gánh nặng nợ và mất niềm tin.
Muốn giàu, không cần hô hào. Muốn giàu phải đổi cấu trúc, kéo vốn về sản xuất, nâng năng suất, tạo doanh nghiệp nội mạnh, và làm thể chế bớt nghẽn. Đây mới là dư địa thật. Còn cứ để đất hút vốn, cứ để cửa thu tô, cứ để tín dụng bơm vòng quanh… thì dân có chăm tới đâu cũng chỉ là chăm trong một cái sân mà luật chơi khiến người tạo giá trị luôn chịu thiệt.
rùa tiên sinh 88 | Thanh Hóa
rùa tiên sinh 88, Thanh Hóa. 1,614 ចូលចិត្ត · 773 និយាយអំពីរបស់នេះ. cùng nhau tiến bộ, cùng nhau văn minh.
VÌ SAO VIỆT NAM NGHÈO DAI? KHÔNG PHẢI DÂN LƯỜI, MÀ VÌ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG ĐANG CẠN DƯ ĐỊA, TIỀN CHẢY VÀO ĐẤT, NỢ VÀ CỬA NHIỀU HƠN CHẢY VÀO NĂNG SUẤT.
Rùa em nói chuyện với nhiều cụ rất có kiến thức, họ nó Việt Nam chận phát triển vì dân lười, lúc đó em muốn đứng dậy cười thẳng vào mặt.
Dân Việt lười cái gì? Dân Việt thuộc dạng cày top thế giới, làm sáng, làm tối, tăng ca, chạy xe công nghệ, bán hàng online, đi làm xa, gửi con cho ông bà… Cày đến mức nhiều người không có cuối tuần đúng nghĩa. Vấn đề không nằm ở việc dân có chịu làm hay không. Vấn đề nằm ở chỗ là dân làm ra của cải thật, nhưng cơ chế phân bổ và mô hình tăng trưởng khiến phần lớn giá trị bị ăn mòn, và phần ngon chảy vào những khu vực không tạo năng suất như đất đai, đầu cơ, đặc quyền, thủ tục, chứ không chảy vào nhà máy, công nghệ, đổi mới...
Việt Nam đã khá lên, nhưng vẫn ở nấc trung bình thấp, và đang chạm trần mô hình cũ
Theo World Bank, GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2024 khoảng 4.717 USD/người. Nghe vậy nhiều người phấn khích, tưởng sắp hóa rồng. Nhưng đặt cạnh khu vực sẽ thấy Việt Nam vẫn ở đoạn giữa đường, chưa vào cửa khá hay giàu nếu so sánh với Malaysia, đã ở ngưỡng trên 10.000 USD, Thái Lan khoảng 7.000 USD, Trung Quốc trên 12.000 USD. Tức là Việt Nam đã thoát nghèo, nhưng chưa vượt được bẫy thu nhập trung bình.
Đáng nói hơn, khi GDP/người đến tầm 4.000–5.000 USD, những dư địa tăng trưởng dễ ăn như lao động rẻ, đất rẻ ,ưu đãi rẻ bắt đầu cạn. Muốn tăng tiếp thì phải nhảy lên tầng mới tức là tăng năng suất, đổi mới, nâng cấp công nghệ, thương hiệu, thể chế. Và đây là chỗ Việt Nam đang kẹt,mô hình cũ vẫn kéo được tăng trưởng, nhưng kéo càng ngày càng nặng, càng ngày càng tốn nguồn lực.
Giai đoạn đầu phát triển, nước nào cũng dùng lao động rẻ để hút nhà máy. Nhưng đi được 10–20 năm, lợi thế đó sẽ tự bốc hơi vì 3 lý do chính: dân số bắt đầu già hóa, lương tối thiểu tăng, và có quá nhiều đối thủ mới rẻ hơn. Đặc biệt, Việt Nam tăng trưởng nhiều năm vẫn nặng về mở rộng thay vì nâng chất lượng, chúng ta mới chỉ cố gắng thêm công nhân, thêm khu công nghiệp, thêm nhà xưởng… chứ chưa phải tự động hóa mạnh, sản phẩm có chất xám cao, doanh nghiệp nội làm chủ chuỗi giá trị.
Đây là lý do năng suất lao động tuy tăng nhưng vẫn thấp so với khu vực. Năng suất lao động Việt Nam tăng nhưng vẫn quá thấp. Nói thô nhưng thật là cày bằng cơ bắp và kỷ luật không cứu nổi nếu nền kinh tế chạy bằng máy cũ.
Lao động mà không đi kèm năng suất thì lương không thể tăng mạnh. Lương không tăng mạnh thì dân không giàu. Đơn giản vậy thôi. Đây chính là sự khác biệt giữa các nền kinh tế, ngay cả Trung Quốc cũng không thể so sánh về năng suất lao động của Nhật Bản, Mỹ hay Tây Âu.
FDI giúp GDP đẹp, nhưng phần ngon nằm ở nước ngoài, xuất khẩu nhiều chưa chắc giàu.
Việt Nam rất giỏi xuất khẩu. Có năm xuất khẩu hàng hóa vượt 300–350 tỷ USD. Nhưng vấn đề là xuất khẩu nhiều không đồng nghĩa giàu. Giàu hay không nằm ở giá trị gia tăng Việt Nam giữ lại được bao nhiêu.
Các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử, điện thoại, linh kiện… phần lớn là FDI. Việt Nam ở khâu lắp ráp cuối chuỗi. Lợi thế là việc làm và kim ngạch. Nhưng bất lợi là lợi nhuận lớn nằm ở khâu thiết kế, công nghệ lõi, thương hiệu, hệ sinh thái, những thứ không nằm ở Việt Nam.
Bởi vậy mới có nghịch lý, GDP tăng, đường phố đông xe, siêu thị đầy hàng… nhưng người lao động vẫn sống rất chắt chiu. Vì cái tăng trưởng đó không chảy thành thu nhập rộng rãi cho dân.
Vấn đề không phải Việt Nam quá nghèo mà là tiền đi sai chỗ, chính là vì đất đai hút vốn như máy hút máu.
Đây là vấn đề rất khó giải thích thì đâu đó vẫn có tình trạng tư bản thân hữu hoạt động mạnh và rất nhiều dự án bất động sản là sân sau của Ngân Hàng, những nhà tài phiệt quan hệ với ai đó, bởi vậy ai ở Việt Nam cũng thấy rõ, giá nhà tăng nhanh hơn lương.
Một nền kinh tế bình thường phải bơm vốn vào năng suất, máy móc, công nghệ, logistics, đào tạo… Còn Việt Nam, trong nhiều giai đoạn, vốn lại chạy vào đất như thiêu thân. Không phải dân ham đất tự nhiên, mà vì cơ chế khiến đất trở thành kênh giàu nhanh, hấp dẫn nhất.
Có số liệu cho các cụ thấy ngay, theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 6/2024, tín dụng bất động sản đã vượt 3,08 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 21,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.
21,4% là cực lớn. Nó nói một điều, tín dụng của nền kinh tế chảy mạnh vào đất. Và khi dòng tiền chảy vào đất quá mạnh, nền kinh tế bị tự triệt tiêu dư địa phát triển vì hụt vốn, theo đúng 3 cơ chế kinh điển:
1 : Sản xuất thiếu vốn, đổi mới yếu
Ngân hàng thích cho vay bất động sản (tài sản thế chấp dễ, tài sản tăng giá) hơn là cho vay R&D hay sản xuất rủi ro. Doanh nghiệp muốn nâng công nghệ thì rất khó.
2 : Chi phí sống tăng, bóp chết tầng lớp trung lưu.
Giá nhà cao kéo theo giá thuê, giá dịch vụ, giá nuôi con. Người trẻ thành nô lệ trả góp. Mà một quốc gia muốn giàu phải có tầng lớp trung lưu mạnh, trung lưu muốn mạnh thì phải tích lũy được. Không tích lũy được thì không có lực tiêu dùng, không có lực đầu tư.
3: Xã hội bị bẻ lái sang đầu cơ
Khi ôm đất 6 tháng lời bằng làm ăn 5 năm, mọi người sẽ thấy thị trường méo mó ngay, người giỏi bỏ sản xuất, người bình thường cũng bỏ tiết kiệm để lao vào đất. Đó là cách một nền kinh tế tự đốt tương lai. Trung Quốc đang thấm đòn cái trò bùng nổ bất động sản này.
Tăng trưởng dựa vào tín dụng - bơm mãi là đến lúc gãy ngân sách, vì hiệu quả vốn giảm.
Một nền kinh tế khỏe là nền kinh tế tăng nhờ năng suất. Một nền kinh tế yếu thường tăng nhờ bơm vốn. Và Việt Nam có thời kỳ nghiêng nhiều về bơm vốn, tức là tăng trưởng gắn chặt vào tín dụng.
Nhưng tín dụng không phải phép màu. Nếu tín dụng bơm ra mà chạy vào tài sản (đất, bong bóng), nó tạo nợ xấu, tạo rủi ro hệ thống. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho 2026 xuống khoảng 15%, sau khi từng cảnh báo về nguy cơ bong bóng tài sản, đặc biệt là bất động sản. Điều này nói đến cảnh báo hệ thống tiền ngân sách bơm mãi sẽ nguy hiểm.
Một trong những nghịch lý lớn nhất Việt Nam giai đoạn gần đây là có tiền nhưng giải ngân chậm. Cái này không phải chuyện nhỏ. Đầu tư công ở các nước đang phát triển là động cơ hạ tầng, giúp tăng năng suất tự nhiên. Nhưng khi thủ tục rối, tâm lý sợ sai, ai cũng né ký, dự án bị treo, thì nền kinh tế bị tắc lại.
Việt Nam bị tồn đọng thủ tục khiến thất thoát vốn, khó sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài và đình trệ dự án, do chiến dịch chống tham nhũng làm tăng tâm lý sợ trách nhiệm và hệ thống giấy tờ quá phức tạp. Chống tham nhũng là đúng, nhưng nếu thể chế không rõ ràng để người thực thi dám làm, thì nền kinh tế bị đóng băng. Vốn nước ngoài nó nhìn vào hệ thống, nếu thể chế là bị tắc lại loại tắc nguy hiểm nhất, vì nó giết niềm tin đâu tư và giết thời gian. Mà thời gian là tiền.
Em so sánh Việt Nam, Thái Lan và Malaysia - những nước gần nhất và cũng tương tự nhất trong khu vực để thấy chúng ta ở đâu. So sánh không phải để tự nhục, mà để biết mình kẹt ở đâu.
Thu nhập đầu người
Việt Nam 4.700 USD
Thái Lan 7.000 USD
Malaysia trên 11.000 USD
Chênh lệch này không phải do dân ta lười, mà nó là do cấu trúc nền kinh tế và năng suất.
Thái Lan và Malaysia có nền công nghiệp nội địa mạnh hơn ở một số mảng, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực. Việt Nam thì mạnh FDI, nhưng doanh nghiệp nội còn yếu, dễ bị kẹt ở tầng thấp. Thái Lan chính là công xưởng ở Đông Nam Á.
Cái quyết định mức độ tăng trưởng chính là năng suất lao động. Năng suất là thứ kéo lương lên. Nếu năng suất không tăng mạnh, thì GDP tăng cũng chỉ là đi nhanh tại chỗ, sống bận rộn nhưng vẫn nghèo.
Ở mục thị trường vốn và tích lũy dài hạn thì Malaysia có thị trường vốn phát triển hơn, doanh nghiệp dễ huy động vốn dài hạn. Việt Nam phụ thuộc nhiều vào ngân hàng, mà ngân hàng lại dễ bị hút vào bất động sản.
Ở phương diện tài sản cá nhân, giá nhà so với thu nhập. Đây là thứ đập vào mặt tầng lớp trẻ ở Việt Nam. Khi nhà tăng nhanh hơn thu nhập, toàn bộ sức bật xã hội bị bóp lại . Người trẻ nợ nên không dám tiêu, không dám sinh con dẫn đến giảm sức cầu nên kéo theo kinh tế thiếu lực chi tiêu dùng nội địa. Việt Nam hiện không thiếu người làm việc. Việt Nam thiếu một cơ chế phân bổ vốn và cơ hội khiến làm việc thật sự tạo ra tích lũy thật sự.
Trong các thời kỳ trước, Việt Nam, nhiều giai đoạn giàu nhanh không đến từ tạo giá trị, mà đến từ đứng đúng cửa.
Cửa gì?
Cửa đất: dự án, quy hoạch, chuyển đổi mục đích.
Cửa tín dụng: ai được ưu tiên vốn rẻ, ai bị đẩy ra ngoài.
Cửa thủ tục: ai có thể thông qua nhanh, ai bị hành.
Cửa ưu đãi: ai được hưởng, ai không.
Đây là kinh tế học của kiểu - thu tô. Khi xã hội bị thu tô mạnh, năng suất quốc gia không tăng. Vì phần lớn năng lượng xã hội đi vào giành phần, chứ không đi vào tạo ra bánh xe tăng trưởng ổn định và thực chất.
Vậy phải làm sao trong thời gian tới ?
Muốn thoát nghèo dai, Việt Nam phải đổi động cơ tăng trưởng. Không có phép màu nào cả chỉ có 5 việc chiến lược phải làm được.
1: Tách nền kinh tế khỏi cơn nghiện đất
Công cụ là thuế - tín dụng -minh bạch quy hoạch - quản lý đầu cơ. Nếu không cắt kênh hút vốn này, mọi nguồn tiền sẽ lại chạy vào đất, và mọi cải cách khác bị vô hiệu hóa.
2: Đưa vốn về sản xuất và công nghệ
Doanh nghiệp sản xuất phải vay được vốn dài hạn, lãi chấp nhận được, thủ tục rõ. Muốn vậy phải làm thị trường vốn mạnh lên, không để hệ thống ngân hàng ôm rủi ro đất quá nặng.
3: Xây doanh nghiệp nội hạt nhân thay vì mãi là vệ tinh. FDI không xấu. Nhưng Việt Nam phải có doanh nghiệp nội đủ sức làm nhà cung ứng cấp cao, nắm công nghệ, làm thương hiệu. Không có doanh nghiệp nội mạnh thì GDP tăng vẫn chỉ là tăng trên giấy.
4: Thông thể chế, giảm cửa, giảm xin-cho, giảm sợ ký. Chống tham nhũng phải đi cùng luật rõ để người khác làm và dám làm. Nếu không, bộ máy đóng băng, đầu tư tắc, doanh nghiệp chết.
5 : Đầu tư công phải trở thành năng suất, không phải trở thành đội vốn. Hạ tầng tốt kéo năng suất toàn xã hội lên. Nhưng hạ tầng mà rơi vào vòng đội giá - thất thoát - kéo dài thì nó thành gánh nặng nợ và mất niềm tin.
Muốn giàu, không cần hô hào. Muốn giàu phải đổi cấu trúc, kéo vốn về sản xuất, nâng năng suất, tạo doanh nghiệp nội mạnh, và làm thể chế bớt nghẽn. Đây mới là dư địa thật. Còn cứ để đất hút vốn, cứ để cửa thu tô, cứ để tín dụng bơm vòng quanh… thì dân có chăm tới đâu cũng chỉ là chăm trong một cái sân mà luật chơi khiến người tạo giá trị luôn chịu thiệt.

