[Funland] Lượm lặt tin tức quân sự đó đây, có gì đăng nấy

Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
46,343
Động cơ
1,480,953 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

Khinh hạm Mogami: Biểu tượng của một liên minh gần như hoàn chỉnh

Ngày 18/4, trên boong tàu JS Kumano - khinh hạm lớp Mogami của Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản (JMSDF) đang neo tại cảng Melbourne - Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Shinjiro Koizumi và người đồng cấp Australia Richard Marles đã ký kết một hợp đồng mà nhiều nhà quan sát coi là “lịch sử”. Tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi sẽ cung cấp cho Hải quân hoàng gia Australia 3 khinh hạm lớp Mogami với tổng trị giá 7,15 tỷ USD, dự kiến bàn giao chiếc đầu tiên vào tháng 12/2029. Việc lựa chọn địa điểm và bối cảnh ký kết không hề mang tính biểu tượng đơn thuần: Ký kết trên một chiến hạm Nhật Bản tại hải cảng của Australia, chỉ vài ngày sau khi JS Kumano tham gia cuộc tập trận hải quân đa quốc gia Kakadu, là thông điệp rõ ràng rằng Nhật Bản giờ đây đã trở thành một đối tác quân sự toàn diện, có khả năng triển khai cả khí tài lẫn uy tín tác chiến.

1781086009696.png

JS Kumano - khinh hạm lớp Mogami

Năm 2016, Nhật Bản từng thất bại nặng nề trong gói thầu tàu ngầm của Australia, để thua tập đoàn DCNS của Pháp. Một thập kỷ sau, Mitsubishi đã giành lại vị thế trên thị trường quốc phòng Australia, lần này vượt qua đối thủ Thyssenkrupp Marine Systems của Đức. Chiến thắng càng có ý nghĩa hơn khi hợp đồng không chỉ dừng ở 3 tàu ban đầu mà bao gồm tổng cộng 11 chiến hạm, trong đó 8 chiếc tiếp theo sẽ được đóng ngay tại Australia - do tập đoàn Austal thực hiện tại xưởng đóng tàu Henderson ở Perth.

Thành công của Mitsubishi không chỉ xuất phát từ yếu tố địa chính trị. Bản thân khinh hạm Mogami sở hữu nhiều ưu thế nổi bật: Thiết kế tàng hình, năng lực tác chiến đáng kể với hệ thống phóng thẳng đứng 32 ống, tên lửa chống hạm, tên lửa phòng không, cùng khả năng triển khai trực thăng chiến đấu. Tuy nhiên, yếu tố có lẽ quan trọng nhất lại nằm ở khía cạnh nhân sự: Mogami chỉ cần thủy thủ đoàn khoảng 90 người - bằng một nửa so với các khinh hạm lớp ANZAC mà nó sẽ thay thế. Trong bối cảnh nhiều lực lượng hải quân phương Tây gặp khó khăn trong tuyển quân, đây là lợi thế mang tính quyết định. Tầm hoạt động rộng cũng khiến lớp tàu này đặc biệt phù hợp với không gian hàng hải rộng lớn của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Dù vậy, vẫn tồn tại những hoài nghi về khả năng Australia có thể tự đóng 8 tàu còn lại trong nước, bởi chương trình này đòi hỏi chuyển giao công nghệ phức tạp và cải tổ sâu rộng xưởng Henderson. Bộ trưởng Marles đã bác bỏ các nghi ngờ, khẳng định chương trình Mogami sẽ trở thành “xương sống” của ngành đóng tàu quân sự Australia cho tới những năm 2030.

Văn kiện ký tại Melbourne, mang tên “Biên bản ghi nhớ Mogami”, tái khẳng định cam kết hợp tác công nghiệp quốc phòng chặt chẽ giữa hai nước, đồng thời đặt nền móng cho “cơ sở công nghiệp quốc phòng liền mạch” giữa Tokyo và Canberra. Việc hải quân hai nước vận hành cùng một nền tảng chiến hạm sẽ giúp tăng cường khả năng tương tác, đơn giản hóa hậu cần chung và nâng cao năng lực phối hợp trong các tình huống khủng hoảng. Đây chính là điều mà Tokyo nhấn mạnh trong các chỉ đạo xuất khẩu quốc phòng mới: Lấy hội tụ công nghệ làm công cụ thúc đẩy hội tụ chiến lược.

Quan hệ Nhật Bản-Australia đã trải qua một chặng đường dài. Từ chỗ chủ yếu giới hạn ở hợp tác kinh tế, mối quan hệ này nay đã phát triển thành đối tác chiến lược toàn diện, được thúc đẩy bởi nhận thức chung về mối đe dọa từ Trung Quốc cũng như vai trò cùng tham gia Bộ tứ (QUAD) với Mỹ và Ấn Độ. Đối với Canberra, sự hợp tác này nằm trong chiến lược tái vũ trang toàn diện. Australia đặt mục tiêu tăng hơn gấp đôi quy mô hạm đội tàu chiến chủ lực trong thập niên tới, đồng thời nâng chi tiêu quốc phòng lên mức 3% GDP vào năm 2033. Cùng nhau, Nhật Bản và Australia đang hiện thực hóa một tầm nhìn về trật tự khu vực dựa trên răn đe tập thể giữa các nền dân chủ - một tầm nhìn mà Bắc Kinh không phải không có lý khi nhìn nhận là nhằm trực tiếp vào Trung Quốc.

........
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
46,343
Động cơ
1,480,953 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

Dấn bước vào vũ điệu tác chiến

Gần như cùng thời điểm diễn ra lễ ký kết tại Melbourne, một bước ngoặt lịch sử khác cũng diễn ra trên đảo Luzon của Philippines: Ngày 20/4, cuộc tập trận mang tên Balikatan (“vai kề vai”) chính thức khai mạc, quy tụ khoảng 17.000 quân nhân từ 7 quốc gia dưới sự dẫn dắt của Mỹ và Philippines. Lần đầu tiên, Nhật Bản tham gia không còn với tư cách quan sát viên mà như một lực lượng chiến đấu đầy đủ, triển khai 1.400 binh sĩ, 3 tàu chiến và 2 máy bay. Song song với đó, cuộc tập trận Salaknib - vốn ban đầu chỉ giữa Mỹ và Philippines - cũng tập hợp khoảng 7.000 quân nhân từ 5 quốc gia, với sự hiện diện của 420 binh sĩ Nhật Bản lần đầu thực hiện phối hợp chỉ huy và diễn tập bắn đạn thật cùng lực lượng Mỹ và Philippines.

Tùy viên quốc phòng Nhật Bản, Trung tá Yamashita Hideki, đã tóm lược logic đằng sau sự chuyển hướng này: “Môi trường an ninh xung quanh Nhật Bản đang ngày càng nghiêm trọng hơn. Trong bối cảnh đó, chúng tôi triển khai nhiều sáng kiến nhằm duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”. Đây là kiểu diễn ngôn về “sự cần thiết bắt buộc”, được điều chỉnh cẩn trọng để không gây lo ngại quá mức trong dư luận Nhật Bản, đồng thời biện minh cho những quyết định có hệ quả chiến lược sâu rộng.

1781086128824.png


Ý nghĩa lớn nhất của Balikatan 2026 nằm ở chính không gian địa lý triển khai. Các hoạt động được tổ chức có chủ đích tại những khu vực tranh chấp nhạy cảm nhất trong khu vực. Lần đầu tiên, các cuộc diễn tập tấn công trên biển diễn ra tại đảo Itbayat - điểm cực Bắc của Philippines, chỉ cách Đài Loan khoảng 155 km. Đồng thời, các cuộc đổ bộ bắn đạn thật được tổ chức tại tỉnh Zambales, cách bãi cạn Scarborough do Trung Quốc kiểm soát khoảng 230 km. Bản đồ triển khai cho thấy rõ các kịch bản mà các bên tham gia đang chuẩn bị đối phó.

Đáng chú ý hơn, chỉ một tuần trước khi Balikatan bắt đầu, một tàu khu trục Nhật Bản đã lần đầu tiên đi qua eo biển Đài Loan bất chấp phản ứng gay gắt từ Bắc Kinh. Dù Tokyo thực chất chỉ nối bước nhiều quốc gia khác, Trung Quốc vẫn có thể nhận thấy rõ quy mô của sự thay đổi chiến lược trong chính sách an ninh của Nhật Bản. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Quách Gia Côn (Guo Jiakun) đã cảnh báo Nhật Bản cần “thận trọng” trong các vấn đề an ninh. Bắc Kinh đồng thời tuyên bố tiến hành các cuộc tập trận có bắn đạn thật tại vùng biển phía Đông đảo Luzon - đúng khu vực Balikatan đang diễn ra.

Trên thực tế, Trung Quốc đã đáp trả các cuộc tập trận quân sự bằng chính các cuộc tập trận quân sự, trong cùng vùng biển và gần như cùng thời điểm. Đây vừa là màn phô diễn chứng minh sự hiện diện, vừa là thông điệp gửi tới toàn bộ các nước tham gia - đặc biệt là Nhật Bản, quốc gia mà việc chính thức gia nhập nhóm các nước tiến hành tập trận tác chiến tại khu vực này, trong mắt Bắc Kinh, đồng nghĩa với việc vượt thêm một “lằn ranh đỏ” chiến lược.

Chuyển đổi nhất quán

Logic xuyên suốt kết nối các sự kiện chính là khả năng tương tác quân sự như một chiến lược răn đe. Trong môi trường khu vực bị chi phối bởi sự trỗi dậy sức mạnh của Trung Quốc, không quốc gia nào có thể tự mình bảo đảm an ninh tuyệt đối. Phản ứng của Nhật Bản nằm trong khuôn khổ xây dựng một mạng lưới dày đặc các quan hệ đối tác quân sự mang tính tác chiến, dựa trên chia sẻ trang bị, huấn luyện chung và hội tụ học thuyết quân sự.

Chỉ trong vài ngày, Nhật Bản đã quyết liệt tái định hình mối quan hệ đối ngoại với sức mạnh quân sự. Việc dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sát thương, hợp đồng khinh hạm Mogami và tham gia cuộc tập trận Balikatan là 3 mặt của cùng một bước ngoặt chiến lược, được triển khai có hệ thống bởi một chính phủ đã lựa chọn thừa nhận sự kết thúc của thời kỳ Nhật Bản bị gò bó trong giới hạn của chủ nghĩa hòa bình cưỡng ép - khi việc từ bỏ sức mạnh quân sự không hoàn toàn là lựa chọn tự nguyện, mà phần lớn là hệ quả của thất bại chiến tranh, mặc cảm lịch sử và sự bảo trợ an ninh từ chiếc ô quân sự của Mỹ.

Câu hỏi trung tâm hiện nay không còn đơn thuần là liệu sự chuyển đổi này có chính đáng hay không, mà là liệu nó sẽ góp phần củng cố ổn định khu vực, hay ngược lại, thúc đẩy một vòng xoáy quân sự hóa mà không bên nào thực sự kiểm soát được kết cục. Tokyo cho rằng tăng cường răn đe tập thể là bảo đảm tốt nhất để ngăn ngừa chiến tranh, trong khi Bắc Kinh phản bác rằng chính logic này mang tính tự hiện thực hóa, và về bản chất sẽ dẫn tới leo thang căng thẳng một cách gần như tất yếu.
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
46,343
Động cơ
1,480,953 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
Về vụ giải cứu phi công bằng xuồng không người lái của hải quân Mỹ

Chiếc tàu không người lái, do công ty Saronic có trụ sở tại Texas sản xuất, đã được đưa đến khu vực này vào tháng 3.

1781094646085.png


Tối thứ Hai, một tàu không người lái của Hải quân Mỹ đã giải cứu phi hành đoàn của một máy bay trực thăng lục quân bị bắn rơi gần eo biển Hormuz, đây dường như là lần đầu tiên trong lịch sử quân đội Mỹ.

Theo thông báo báo chí hôm thứ Ba của các quan chức Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ (CENTCOM), chiếc trực thăng AH-64 Apache đã bị rơi vào khoảng 7:30 tối giờ miền Đông gần bờ biển Oman khi đang "tuần tra vùng biển quốc tế". Khoảng hai giờ sau, một tàu mặt nước không người lái Corsair do Lực lượng Đặc nhiệm 59 thuộc Hạm đội 5 vận hành, chuyên về máy bay không người lái, đã đến hiện trường, theo lời Đại tá Tim Hawkins, người phát ngôn của CENTCOM.

Corsair là một loại tàu robot dài 24 feet do công ty công nghệ quốc phòng Saronic có trụ sở tại Texas sản xuất . Lực lượng đặc nhiệm 59 bắt đầu vận hành các tàu này vào tháng 3.

Chiếc thuyền đã vớt các thành viên thủy thủ đoàn và đưa họ đến một địa điểm khác trên mặt nước. Sau đó, họ được trực thăng đưa đi để vận chuyển tiếp, và hiện đang trong tình trạng ổn định, Hawkins cho biết .

Theo thông cáo báo chí, nỗ lực cứu hộ có sự hỗ trợ từ Bộ Tư lệnh Hải quân Trung tâm Hoa Kỳ, Sư đoàn Dù số 82 và các đơn vị Không quân và Hải quân giấu tên.

Lực lượng đặc nhiệm 59 là nỗ lực kéo dài nửa thập kỷ của Hải quân nhằm tích hợp trí tuệ nhân tạo và các hệ thống không người lái vào vùng biển Trung Đông. Đơn vị này thuộc khu vực trách nhiệm rộng lớn của Hạm đội 5, bao gồm kênh đào Suez, eo biển Bab al Mandeb và eo biển Hormuz - nơi phần lớn vẫn đóng cửa đối với vận tải thương mại do cuộc chiến của Mỹ ở Iran kéo dài hơn 100 ngày.

Đô đốc Brad Cooper, chỉ huy CENTCOM, người giám sát các hoạt động quân sự của Mỹ tại Iran, trước đây từng lãnh đạo Hạm đội 5.

Lực lượng đặc nhiệm chủ yếu áp dụng mô hình mua sắm do nhà thầu sở hữu và vận hành để triển khai nhiều loại máy bay không người lái được sử dụng trong các cuộc tập trận trong khu vực.

“Nhìn về phía trước, chúng tôi sẽ tiếp tục áp dụng những bài học kinh nghiệm khi tăng cường khả năng hoạt động thông qua các khái niệm ‘phối hợp giữa người lái và máy bay không người lái’”, Cooper nói với Defense One vào năm 2023.

CENTCOM cho biết trong một thông cáo báo chí rằng hiện chưa rõ nguyên nhân khiến chiếc trực thăng Apache "mất tích trên biển". Trích dẫn các quan chức Mỹ, CNN đưa tin rằng chiếc trực thăng đã bị trúng đạn từ một máy bay không người lái Shahed của Iran.

Tổng thống Donald Trump tuyên bố trên mạng xã hội rằng "người Iran đã bắn hạ một trong những chiếc trực thăng Apache hiện đại bậc nhất của chúng ta" và nói thêm rằng Mỹ phải "đáp trả cuộc tấn công này".

1781094837299.png


Kể từ tháng 3, đã có ít nhất ba sự cố liên quan đến máy bay trực thăng Apache tại Mỹ và một vụ hạ cánh khẩn cấp ở nước ngoài. Tháng trước, Defense One đã đưa tin độc quyền rằng Lục quân đang điều tra sự cố về hộp số trên một số máy bay trực thăng AH-64E của họ.

Một bản ghi nhớ nội bộ tháng 4 cho biết các thành viên phi hành đoàn có thể "gặp sự cố bên trong dẫn đến mất truyền động hộp số phụ, điều này có thể dẫn đến mất lực đẩy cánh quạt đuôi, nguồn điện và hệ thống thủy lực" .

Các quan chức dịch vụ từ chối cho biết có bao nhiêu máy bay trực thăng bị ảnh hưởng bởi sự cố truyền dẫn.

Hawkins nói rằng nguyên nhân vụ giải cứu máy bay Apache hôm thứ Ba đang được điều tra.
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
46,343
Động cơ
1,480,953 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
Nếu máy bay A-10 được trang bị hệ thống tác chiến điện tử và trí tuệ nhân tạo?

Các nhà lập pháp Hạ viện Mỹ đang băn khoăn liệu các nhiệm vụ mới có thể giúp duy trì tính hữu dụng của máy bay Warthog hay không.

Các nhà lập pháp muốn xem liệu máy bay A-10 Thunderbolt II huyền thoại của Không quân có thể được nâng cấp với trí tuệ nhân tạo, thiết bị tác chiến điện tử hoặc hệ thống liên lạc tốt hơn để tiếp tục tham chiến hay không.

1781095124316.png


Phiên bản dự luật chính sách quốc phòng hàng năm của Ủy ban Quân sự Hạ viện bao gồm một số điều khoản liên quan đến máy bay Warthog như một phần của gói tổng thể . Một trong những điều khoản đó yêu cầu Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, Bộ trưởng Không quân Troy Meink và các lãnh đạo của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến đấu và Bộ Tư lệnh Trung tâm Hoa Kỳ phải báo cáo về khả năng tiềm tàng của A-10 trước ngày 15 tháng 1 năm 2027.

Bản sửa đổi do Hạ nghị sĩ Abraham Hamadeh, đảng Cộng hòa, bang Arizona đề xuất, chỉ đạo các quan chức điều tra “các lựa chọn hiện đại hóa từng bước tiềm năng cho máy bay A-10, bao gồm khả năng tác chiến điện tử, khả năng tạo mồi nhử hoặc thay thế, cải tiến tiếp nhiên liệu trên không, liên lạc kỹ thuật số, tích hợp cảm biến, tích hợp vũ khí chính xác, cải thiện khả năng sống sót, kiến trúc hệ thống mở và các ứng dụng phối hợp giữa con người và máy móc” để xem liệu điều đó có “cải thiện hiệu quả hoạt động khi tiếp tục duy trì” chương trình hay không.

Các đề xuất của HASC là nỗ lực mới nhất trong chuỗi các nỗ lực kéo dài hàng thập kỷ của Quốc hội nhằm ngăn chặn Không quân loại biên máy bay A-10, loại máy bay được đưa vào phục vụ năm 1977 và đã chứng tỏ sự hữu ích kể từ đó. Sau khi máy bay này giúp giải cứu một phi công Mỹ bị bắn rơi ở Iran trong Chiến dịch Epic Fury năm nay, các lãnh đạo Không quân đã hứa sẽ duy trì hoạt động của một số phi đội cho đến năm 2030.

Hiện chưa rõ lời hứa này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến bang quê hương của Hamadeh, nơi các hoạt động của máy bay A-10 dự kiến sẽ kết thúc tại căn cứ không quân Davis-Monthan.

Tháng trước, Tham mưu trưởng Không quân, Tướng Kenneth Wilsbach, đã nói với các nhà lập pháp rằng máy bay A-10 có thể được thay thế trong các nhiệm vụ tìm kiếm và cứu hộ chiến đấu bằng máy bay F-15 Eagle hoặc F-35 Lightning II. Đề xuất Ủy quyền và Quốc phòng (NDAA) của Ủy ban Quân sự và Hạ viện (HASC) yêu cầu lực lượng không quân điều tra xem các nền tảng hiện có hoặc mới nổi sẽ đảm nhận nhiệm vụ quan trọng này như thế nào, đồng thời yêu cầu một nghiên cứu xem liệu máy bay có thể được nâng cấp bằng công nghệ mới cho các cuộc chiến trong tương lai hay không.

Bản sửa đổi của Hamadeh kêu gọi phân tích “liệu các năng lực hiện đang được lập trình hoặc lên kế hoạch của Không quân có thể tái tạo hoặc cải thiện các hiệu quả hoạt động chính mà máy bay A-10 đã từng cung cấp trong lịch sử với vai trò chỉ huy nhiệm vụ cứu hộ, hỗ trợ không quân tầm gần, giám sát vũ trang, kiểm soát không lưu tiền tuyến và hỗ trợ cứu hộ nhân sự hay không”.

1781095262583.png


Bản sửa đổi cũng yêu cầu cơ quan này điều tra xem liệu sự thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ của nền tảng này từ những năm 1990 đến nay có thể cung cấp thông tin hữu ích cho “sự phối hợp giữa con người và máy móc, máy bay tự hành cộng tác hoặc hỗ trợ, lập kế hoạch nhiệm vụ và hỗ trợ nhắm mục tiêu bằng trí tuệ nhân tạo, liên lạc chiến trường kỹ thuật số, tích hợp không-mặt đất phân tán và các khả năng mới nổi khác hay không”.

Một sửa đổi khác từ nghị sĩ đảng Cộng hòa Arizona yêu cầu Không quân xem xét việc cung cấp máy bay và thiết bị A-10 cho nghiên cứu về “tích hợp máy bay tự hành hoặc bán tự hành, phát triển hệ thống nhiệm vụ, liên lạc chiến trường kỹ thuật số hoặc các khả năng liên quan khác”. Báo cáo của Không quân nêu chi tiết những phát hiện này dự kiến sẽ được công bố khoảng sáu tháng sau khi Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng được thông qua.

Một nhà lập pháp khác, Hạ nghị sĩ John McGuire, đảng Cộng hòa, bang Virginia, đã đưa ra một sửa đổi nhằm đánh giá "khả năng chuyển giao một số máy bay A-10" dự kiến cho nghỉ hưu cho các lực lượng quân sự khác.

Các sửa đổi toàn khối A-10 đã được thông qua bằng hình thức biểu quyết miệng, và phiên bản của Ủy ban Quân sự Hạ viện đã được thông qua với tỷ lệ 44-12 vào tối muộn thứ Năm. Các điều khoản A-10 cần được các nhà lập pháp Hạ viện và Thượng viện phê chuẩn thêm trước khi được đưa vào phiên bản cuối cùng của NDAA.
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
46,343
Động cơ
1,480,953 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
Công ty Diehl Defence của Đức ra mắt hệ thống tên lửa phòng không di động IRIS-T SLS MK4

1781095764242.png


Tại Triển lãm Hàng không Quốc tế ILA 2026 ở Berlin, Diehl Defence đã giới thiệu IRIS-T SLS MK 4, một hệ thống phòng không tầm ngắn thế hệ mới giúp tăng cường khả năng bảo vệ cho các lực lượng cơ động và cơ sở hạ tầng trọng yếu trước máy bay không người lái, trực thăng, máy bay cánh cố định và các mối đe dọa tầm thấp khác. Được giới thiệu trong triển lãm hàng không diễn ra từ ngày 10 đến 12 tháng 6 năm 2026, hệ thống này nâng cao khả năng sống sót trên chiến trường bằng cách kết hợp các chức năng phát hiện, chỉ huy và tấn công trên một nền tảng cơ động cao duy nhất, có khả năng triển khai nhanh chóng.

Hệ thống IRIS-T SLS MK 4 tích hợp radar, hệ thống chỉ huy và kiểm soát, cùng bệ phóng tên lửa vào một phương tiện duy nhất, cho phép thời gian phản ứng nhanh hơn đồng thời giảm thiểu gánh nặng hậu cần cho các hoạt động phòng không. Với tầm bắn lên đến 12 km và độ cao bao phủ lên đến 6 km, nó phản ánh nhu cầu ngày càng tăng đối với các hệ thống phòng không cơ động, tự hành, có khả năng bảo vệ lực lượng tiền tuyến và các tài sản quan trọng trong môi trường không phận ngày càng cạnh tranh.

Được giới thiệu tại ILA 2026, như một phần trong danh mục sản phẩm phòng không mặt đất đang mở rộng của Diehl Defence, hệ thống IRIS-T SLS MK 4 đáp ứng các yêu cầu ngày càng tăng của NATO về hệ thống phòng không cơ động có khả năng chống lại máy bay, trực thăng, tên lửa hành trình, đạn dược lượn vòng và hệ thống máy bay không người lái. Cấu hình mới này mang lại khả năng mang nhiều tên lửa hơn, tự động hóa cao hơn và khả năng bắn khi đang di chuyển trong tương lai, cải thiện đáng kể khả năng phản ứng trên chiến trường và tính linh hoạt trong hoạt động.

1781095835633.png


Hệ thống IRIS-T SLS MK 4 đại diện cho một bước tiến lớn trong cách tiếp cận của công ty đối với phòng không tầm ngắn bằng cách tích hợp tất cả các thành phần hệ thống quan trọng vào một phương tiện cơ động cao duy nhất. Không giống như các khẩu đội phòng không thông thường phân bổ radar, sở chỉ huy và bệ phóng trên nhiều phương tiện, cấu hình mới kết hợp radar giám sát, hệ thống chỉ huy và kiểm soát, bệ phóng và tên lửa đánh chặn vào một đơn vị chiến đấu nhỏ gọn. Kiến trúc này giúp giảm đáng kể thời gian triển khai và thu hồi, đồng thời tăng cường khả năng sống sót trong môi trường tranh chấp, nơi các tài sản phòng không ngày càng trở thành mục tiêu của khả năng trinh sát và tấn công chính xác của đối phương.

........
 
Biển số
OF-155238
Ngày cấp bằng
4/9/12
Số km
46,343
Động cơ
1,480,953 Mã lực
Nơi ở
Sắp chuyển
(Tiếp)

Khả năng di chuyển nhanh chóng sau khi phát hiện hoặc đối phó với các mối đe dọa đã trở thành một yêu cầu sống còn trong chiến tranh hiện đại. Bài học từ các cuộc xung đột gần đây đã chứng minh rằng các vị trí phòng không cố định rất dễ bị tổn thương trước hỏa lực phản pháo, đạn dược bay lượn và các cuộc tấn công chính xác tầm xa. Bằng cách tích hợp tất cả các yếu tố quan trọng của nhiệm vụ vào một phương tiện duy nhất, IRIS-T SLS MK 4 có thể nhanh chóng di chuyển đến các vị trí bắn mới, làm phức tạp nỗ lực nhắm mục tiêu của kẻ thù trong khi vẫn duy trì khả năng bảo vệ liên tục cho các đội hình cơ động.

Một đặc điểm quan trọng của hệ thống mới là mức độ tự động hóa cao, giúp giảm thiểu nhân lực cần thiết đồng thời tăng tốc thời gian phản ứng. Việc tự động phát hiện mục tiêu, theo dõi, lập kế hoạch tấn công và trình tự khai hỏa cho phép kíp lái phản ứng nhanh chóng trước các mối đe dọa bất ngờ. Khả năng này đặc biệt quan trọng đối với các mục tiêu trên không hiện đại như tên lửa hành trình và máy bay không người lái tấn công, nơi thời gian tấn công có thể chỉ tính bằng giây chứ không phải phút.

1781095891579.png


Diehl Defence cũng đã áp dụng triết lý thiết kế độc lập với phương tiện cho hệ thống IRIS-T SLS MK 4. Hệ thống này có thể được tích hợp lên nhiều loại khung gầm bánh lốp hoặc bánh xích khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng, mang lại sự linh hoạt cho các lực lượng vũ trang đang tìm kiếm khả năng tương thích với các đội xe hiện có. Cách tiếp cận này giảm thiểu rủi ro tích hợp và gánh nặng hậu cần, đồng thời cho phép người vận hành tùy chỉnh hệ thống cho phù hợp với môi trường tác chiến và cơ cấu lực lượng cụ thể.

Cốt lõi của hệ thống vẫn là tên lửa IRIS-T đã được chứng minh hiệu quả trong chiến đấu, đóng vai trò là tên lửa đánh chặn chính. Ban đầu được phát triển như một tên lửa không đối không tầm ngắn có tính cơ động cao, IRIS-T đã chuyển đổi thành công sang vai trò phòng không mặt đất như một phần của dòng sản phẩm phòng không IRIS-T rộng lớn hơn của công ty. Diehl Defence nhấn mạnh rằng cấu hình phần cứng của tên lửa vẫn không thay đổi, phản ánh sự tự tin vào hiệu suất và độ hoàn thiện hiện có của nó.

Hệ thống dẫn đường hồng ngoại và khả năng cơ động vượt trội của tên lửa IRIS-T mang lại năng lực mạnh mẽ chống lại nhiều loại mục tiêu trên không. Được thiết kế để đối phó với các máy bay có khả năng cơ động cao trong không chiến, tên lửa này thể hiện hiệu suất tuyệt vời chống lại các mối đe dọa di chuyển nhanh và cơ động, bao gồm trực thăng, máy bay không người lái và tên lửa hành trình. Việc giữ nguyên kiến trúc tên lửa hiện có cũng giúp đơn giản hóa công tác hậu cần, huấn luyện và bảo trì, đồng thời tận dụng được cơ sở sản xuất đã được thiết lập sẵn.

......
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top