[Funland] Những hồi ức của một lính Hải quân

Thảo luận trong 'CLB Thủy Lục Không Quân' bắt đầu bởi Baoleo, 19/5/14.

  1. 18/7/19 lúc 16:44 #1081
    duongcua03
    duongcua03 Xe tăng
    Biển số:
    OF-103898
    Ngày cấp bằng:
    23/6/11
    Nơi ở:
    Còn lâu mới nói!
    Số km:
    1,419
    Động cơ OF:
    4,632 mã lực
    Mã lực:
    4,632
    Có 1 sự thật là : Mong ước của cụ vẫn sẽ mãi là ước mong dưới sywj lãnh đạo tuyệt đối hiện nay thôi!x-(
     
  2. 25/7/19 lúc 10:35 #1082
    Baoleo
    Baoleo Xe buýt
    Biển số:
    OF-320235
    Ngày cấp bằng:
    19/5/14
    Số km:
    789
    Động cơ OF:
    952 mã lực
    Mã lực:
    952
    ANH HÙNG CỦA MẸ


    Tháng bẩy, những người lính từ khắp các chiến trường, và còn sống sau chiến tranh, lại lên đường đến thăm nhau.


    -Đó là người lính Nguyen Nhu Thin: lính sư đoàn 325, nguyên khẩu đội trưởng súng máy 12ly7.

    Nguyen Nhu Thin và hỏa lực bắn loạt của khẩu 12ly7, đã bắn chế áp - gìm đầu quân thù –yểm trợ cho bộ binh: suốt từ ‘Chiến dịch Mùa hè đỏ lửa’ năm 1972 ở Quảng Trị, đến chiến trận ‘phản kích chống lấn chiếm ở Cửa Việt’ năm 1973.

    Hỏa lực bắn loạt của khẩu 12ly7, dưới tay Nguyen Nhu Thin còn rền vang như sấm trên đường phố Sài Gòn trong ‘Chiến dịch Mùa Xuân’ 1975.

    Người lính già Nguyen Nhu Thin từng kể chuyện mình và đồng đội, trong tác phẩm ‘Nó và Tôi’ – cũng như nhiều tác phẩm khác.


    -Đó là người lính Vũ Công Chiến: lính sư đoàn 968. Khẩu AK trong tay người lính Vũ Công Chiến đã ‘gầm thét’ trên khắp đất Nam Lào. Những địa danh A-tô-pư, cao nguyên Bô-lô-ven, cao nguyên Sa-ra-van và vân vân – còn vang danh những chiến công của sư 968 và người lính Vũ Công Chiến.

    Những trận đánh trên đất Nam Lào ấy, mỗi lần nghe đến, các binh đoàn GM của quân phái hữu Lào và Thái Lan – mãi còn tởn vía, kinh hồn.


    Người lính già Vũ Công Chiến từng kể chuyện mình và đồng đội, trong tác phẩm ‘Hồi ức lính’ – cũng như nhiều tác phẩm khác.


    -Đó là người lính Xóm Chài: lính thợ của Trạm T 201, thuộc Cục Ô tô-Máy kéo-Trạm nguồn.

    Người lính Xóm Chài đã có mặt ở Sài Gòn năm 1975.

    Công binh xưởng Mai Hắc Đế, Tổng kho Long Bình còn in dấu bàn tay người lính thợ Xóm Chài. Những chiếc xe tăng, xe xích, qua tay Xóm Chài, dường như có sức sống mãnh liệt hơn, dường như chạy ‘tít’ hơn, dường như mã lực nhiều hơn – để sẵn sàng lao lên, nghiền nát quân thù dưới vòng xích xe lăn.


    Người lính già Xóm Chài, sau chiến tranh, đang sống bình dị với bè cá chép ‘ròn’ bên dòng sông Kinh Thày.


    -Người lính Hải quân: người rời quân ngũ muộn nhất so với các đồng đội. Mãi tận sau khi cuộc chiến tranh với quân Trung Quốc xâm lược kết thúc, tận năm 1989, người lính Hải quân mới trở về với gia đình.


    Tháng 7 này, những người lính năm xưa, những đồng đội gập nhau, họ lại như sống trở về tuổi đôi mươi, kể mãi cho nhau nghe chuyện đánh đấm thời xa xưa.

    Tháng 7 này, những người lính năm xưa còn sống trở về, dẫu không có danh xưng nào cả, nhưng trong lòng MẸ, họ vẫn là những người anh hùng.

    Bởi:


    -Đi qua khói lửa chiến tranh, vượt qua thần chết, họ đã mang trả về cho MẸ, những đứa con trai yêu của mẹ - còn sống!



    [​IMG]
     
  3. 20/8/19 lúc 15:07 #1083
    Baoleo
    Baoleo Xe buýt
    Biển số:
    OF-320235
    Ngày cấp bằng:
    19/5/14
    Số km:
    789
    Động cơ OF:
    952 mã lực
    Mã lực:
    952
    NOI GƯƠNG LÃNH....:D

    Thực ra, để kéo khách-câu viu, bài biên này phải được giật ‘tít’ là: ‘Bao cao su – có giá lắm’, nhưng để cho ‘nhã’, nhà cháu phải hy sinh số lượng bạn đọc, để đưa ra cái ‘tít’ hiền lành hơn.

    Hồi ấy, nói cho ngay, đâu có xa xôi gì, mới chỉ là năm 1990 thôi, hồi ấy, nước Nam ta, vẫn tiêu loại giấy bạc cụ Hồ như bây giờ. Vẫn là cái đồng 1 ngàn, 2 ngàn, thậm trí là 50 ngàn ấy.
    Chỉ có điều, nó là bạc giấy, chửa có cái tờ bạc bằng ‘nhựa’ như bây giờ thôi.
    Hồi ấy, năm 1990 ấy, sau thời kỳ làm việc trên đất I-Raq của Tổng thống Xát-Đam, cánh nhà cháu hết hạn, chuẩn bị về nước.

    Theo Hiệp định ký kết giữa hai chính phủ Việt Nam và I-Raq, cánh nhà cháu sang đó làm việc, là để lấy công – trả nợ cho tiền mua dầu của I-Raq, mà chính phủ Việt Nam đã mua chịu, từ hồi tám hoánh nào đó. Việt Nam nghèo, khất nợ hàng chục năm trời, mãi cũng không có tiền trả. Cuối cùng, chính phủ Việt Nam đành phải đưa cánh nhà cháu sang đó, làm không công, để gán nợ cho Tổng thống Xát-Đam.

    May là Tổng thống Xát-Đam cũng tốt. Cho giù là đi làm không công, nhưng khi hết hạn về nước, Tổng thống Xát-Đam vẫn cấp cho mỗi người, một tờ séc làm quà, có giá trị đâu như gần 1 ngàn đô-la Mỹ, để khi về Việt Nam, mang tờ séc ấy ra cửa hàng In-téc-sốp ở Giảng Võ, đổi lấy hàng hóa, như là mì chính hay xe máy.

    Tóm lại, khi rời đất nước I-Raq, mỗi người sẽ có một tờ séc nói trên. Còn ngoài ra, cấm ngặt việc mang tiền mặt (đô-la), và thậm trí gần như tất cả mọi loại hàng hóa, từ sữa, thuốc tây, len, dạ đến đồ điện tử và vân vân -> tất thẩy đều bị cấm mang ra khỏi xứ Ba-tư.

    Lý do là tất cả các loại hàng hóa trên, Tổng thống Xát-Đam cho nhập khẩu vào I-Raq, rồi bán hạ giá xuống ít nhất là 30% (đồ điện tử), cho đến hạ giá xuống 70% (như là sữa cho trẻ con, thịt gà, trứng gà, vân vân), để cho toàn thể cư dân sống trên đất nước I-Raq – không phân biệt là cư dân bản địa, hay ông khách đến du lịch, hoặc người lao động tứ xứ đến làm việc -> tất thẩy đều có thể mua và tiêu dùng thoải con gà mái.
    Mua và dùng trên đất I-Raq thì vô tư, nhưng cấm ngặt việc mang các hàng hóa nhập khẩu rời khỏi I-Raq.
    Phát hiện hành khách nào mang tiền mặt là đô-la, hoặc hàng hóa nhập khẩu ra khỏi xứ Ba-tư, Hải quan cửa khẩu tịch thu ngay tắp lự, kèm theo: nhẹ cũng ăn vài cái bợp tai, nặng thì bắn bỏ ngay lập tức, không cần xét xử. Luật là luật. Không nói nhiều.

    Tất nhiên, cũng vẫn có thứ hàng hóa được mang ra khỏi xứ Ba-tư. Đó là quả ‘chà là’ khô, hay tấm thảm Ba-tư, tức là sản phẩm nông nghiệp của I-Raq, thì được phép.

    Nhưng, đi làm việc xứ người, nay vinh quy bái tổ, họa có điên mà mang mấy thứ đó về, mấy con sư tử Hà Đông có mà nó xé xác, bởi mấy thứ vô dụng đó, làm gì quy được ra tiền.

    Mà về nước, chỉ có nhõn một cái tờ séc – quà tặng của Tổng thống Xát-Đam như nói ở trên, thì xoàng quá, phải mang thêm gì nữa chứ.
    Thế cho nên, ngày về nước, thằng nào cũng chỉ chăm chăm vào việc suy ngẫm, làm sao mang được tí quà có giá trị về Việt Nam. Tốt nhất và gọn nhẹ nhất, là tiền mặt đô-la Mỹ.

    Phải nói, dân Việt vô cùng kỳ tài, dù thế nào và ở đâu, dân Việt vẫn có cách kiếm ra tiền. Kể cả ở I-Raq.
    Lành mạnh nhất là tiền công làm thêm giờ. Theo quy định của hai chính phủ, tiền này không chính phủ nào quản lý, người lao động được hưởng tất. Vậy thế cho nên, mỗi một tháng, thằng nào chăm chỉ, cũng có thể để dành được tầm 10 đô-la Mỹ, sau khi đã quy đổi tiền thêm giờ từ đồng đi-na bản địa, ra đồng đô-la Mỹ thần thánh ở chợ đen.

    Câu chuyện ‘bao cao su’ mà nhà cháu muốn kể, chính là ở giai đoạn này.
    Đơn vị nhà cháu, có cậu Khải, nguyên là lái xe ở Bộ XD, cho đến khi về nước, cũng tích cóp được gần ‘bốn tờ’ (một trăm đô Mỹ -dân gian vẫn gọi là ‘một tờ’).
    Có điều, vốn là người chậm chạp, nên khoản tiền gần bốn trăm đô của cu Khải, không phải là ‘bốn tờ’, mà là đống hổ lốn những đồng 10 đô, năm đô, hay 20 đô, thậm trí có cả những tờ 1 đô.
    Làm thể nào để mang thoát số tiền trên về?
    Dân Việt thì có trăm phương ngàn kế. Nào là nhét tiền vào quai ba lô, vào dây thắt lưng, vào va-ly hai đáy, vào đế giầy, và các kiểu. Tuy nhiên, kiểu nào cũng đều đã ‘nghĩa lộ’ với hải quan.
    Mà cu Khải, với mớ tiền to lù lù thế kia, chết là chắc.

    Muốn nhắc lại để cho các bạn đọc nhớ, tiền đô-la Mỹ hồi đó giá trị như nào.
    Năm 1990 (mà cho đến tận năm 1995 vẫn thế), một trăm đô Mỹ, ở xứ Nam ta, đổi được 2,5 chỉ vàng mười.
    Một chỉ vàng mười, có thể mua được 2,5 mét vuông đất ở khu vực ‘Quân Nhạc’ ( đường Tô Vĩnh Diện, Lê Trọng Tấn, Vương Thừa Vũ ở Ngã Tư Sở bây giờ).
    Hôm nay, đất ở khu vực ‘Quân Nhạc’, đang có giá bán vội là 40 triệu/m2.
    Theo phép ‘tam đoạn luận’, số tiền ‘bốn tờ’ trên của cu Khải, có giá tầm trên MỘT TỶ thời nay.

    Gía trị to như thế, chắc bảo phải treo cổ lên để mang được về Việt Nam, cu Khải cũng sẵn sàng treo.
    Nhưng không cần phải treo cổ, chỉ cần áp dụng cách của các tiền bối cách mạng mà thôi.
    Ấy là, nhét tiền vào lỗ ...đuýt.
    (Cụ Song Hào -từng là Bí thư TW Đảng, hồi còn hàn vi, khi bị Pháp bắt, để giữ quỹ cho Đảng, đã từng nhét 2 hào vào đó, nên mới có bí danh là ‘Song Hào’).:D

    Thằng cu Khải ăn nhời tư vấn. Nên bỏ ra hẳn 2 đô rưỡi, mua 1 cái bao cao su ở chợ đen, cuộn tiền vào trong đó, rồi nhét vào chỗ cần thiết.

    Nếu như thế, đã chẳng có chuyện gì để nói.
    Vấn đề là nghe theo lời tư vấn, cu Khải đã nhịn ăn hai ngày trước đó, để cho ruột non, ruột già đều được thanh thải hết.
    Đến khi nhét tiền vào, do là tiền lẻ, nên tuy đã cuộn chặt, bọc tiền vẫn có đường kính tầm 3 phân rưỡi.
    Nhịn ăn hai ngày, sức đã yếu, nên phải mất non hai giờ, cu Khải mới cất tiền xong.
    Và từ đó trở đi, cu Khải cũng phải nhịn ăn suốt hơn 50 giờ đồng hồ nữa, kể từ khi cất tiền, đến khi ra sân bay, lên máy bay, và về đến Việt Nam.
    Sự đói lả, không kinh sợ bằng nỗi đau hậu môn. Khi đi lại, cu Khải đã phải đi kiểu nhấy cẫng từng chân, do đau quá. Lúc ngồi ghế máy bay, cu Khải cũng phả ngọ nguậy để ngồi từng 1/3 mông một. Nối đau không bút lực nào có thể tả xiết.

    Tuy nhiên, ơn Đảng, ơn Chính phủ, thằng cu Khải không bị đi đại tiện lần nào. Nhờ thế mà đống gia sản kếch xù vẫn còn nguyên trong đu...ýt. Thật là ơn Đảng đã đưa đường, chỉ lối.:D

    Ba mươi năm trước đây, nhà cháu còn gập cu Khải ở chợ Vân Đình.
    Đầu đội chiếc mũ nan rộng vành như người Mễ Tây Cơ, mồm liến thoắng mời khách, đi xe ô tô giá rẻ.
    Hỏi ra thì biết, số tiền thằng Khải mang thoát về, đã dùng để tậu được con xe Von-ga của Viện KT, bộ XD thải ra. Con xe này, vốn là của một Trung ương ủy viên khóa 3, đã từng được nhà cháu dùng để chở lợn ngày Tết, như ở các câu chuyện trước đã biên.

    Nhà cháu xuýt không nhận ra thằng Khải, may mà nó vẫn còn giữ cách đi kiểu nhẩy cẫng từng chân. Di chứng của việc cất tiền theo gương các lãnh tụ Đảng, hồi mang tiền đô từ I-Raq về.

    Note:
    Nhà cháu trong giờ phút chia tay Tổng thống Xát-Đam. Vô sản toàn phần, chẳng lo cất của cải, nên mặt mũi luôn luôn hớn hở.:D



    [​IMG]
     
  4. 6/9/19 lúc 17:31 #1084
    Ngo Rung
    Ngo Rung Xe lăn
    Biển số:
    OF-73049
    Ngày cấp bằng:
    16/9/10
    Số km:
    10,972
    Động cơ OF:
    1,154,468 mã lực
    Mã lực:
    1,154,468
    Lâu lắm em mới vào đọc thớt của cụ Leo :D
    Chuyện giấu USD về phụ huynh em khoảng những năm 8x hay nhét trong tuýp kem đánh răng nhôm. Nhét vào đấy máy soi cũng khóc :))
     
  5. 6/9/19 lúc 17:34 #1085
    minh91
    minh91 Xe điện
    Biển số:
    OF-330856
    Ngày cấp bằng:
    12/8/14
    Số km:
    4,780
    Động cơ OF:
    1,157,704 mã lực
    Mã lực:
    1,157,704
    Quán cà phê bay rồi hả cụ
     
  6. 6/9/19 lúc 17:37 #1086
    Ngo Rung
    Ngo Rung Xe lăn
    Biển số:
    OF-73049
    Ngày cấp bằng:
    16/9/10
    Số km:
    10,972
    Động cơ OF:
    1,154,468 mã lực
    Mã lực:
    1,154,468
    Hình như thế :(
     
  7. 8/9/19 lúc 16:29 #1087
    Baoleo
    Baoleo Xe buýt
    Biển số:
    OF-320235
    Ngày cấp bằng:
    19/5/14
    Số km:
    789
    Động cơ OF:
    952 mã lực
    Mã lực:
    952
    Ôi dồi. :D

    Câu chuyện dấu đô la Mỹ, dân Việt ta nhiều truyền kỳ lắm.
    Đặc sắc nhất là chuyện đi giầy thối :D

    Đó là dân Việt ta đồn, để chân 3 tuần không rửa, rồi chọn đôi giầy thối, đoạn nhét đô-la vào bít tất, rồi đi vào chân, những tưởng thoát.
    Ai ngờ, tụi Hải quan I-Raq đã có trên 20 năm đối phó với dân toàn thế giới dấu đô, còn trước khi cả dân Việt biết tới tên nước I-Raq vài chục năm, nên tinh quái lắm.
    Tại sân bay, dân lao động về nước, bất kể quốc tịch, đều phải xếp hàng một, đi cửa riêng kiểm tra Hải quan.
    Tại đó, có tầm chục con chó bẹc-giê cao to lững lững, đi ngửi từng người.
    Mẹ kiếp, cứ thấy người nào hôi hôi, ăn mặt rách rưới, là các con bẹc-giê hộc lên.
    Tụi Hải quan và công an cửa khẩu, không nói không rằng, lội ngay người đó ra khỏi hàng.
    Việc đầu tiên là bắt lột đôi giầy thối cùng đôi tất ra, không cần biết có dấu gì trong đó không, bắt vất mẹ nó vào cái thùng phi nhựa đường cũ, để rồi mang đi đốt.
    Đoạn sau mới kinh.
    Tức là bất kể thằng cu chân thối thuộc quốc tịch nào, tụi cảnh sát cứ quất 10 roi vào đít, vì tội xúc phạm thánh A - La đã, rồi sau đó đuổi vào xếp hàng từ đầu.
    (Mở ngoặc là tụi I-Raq cũng như các nước Hồi giáo khác, hàng ngày phải cầu kinh Cô-ran ít nhất ngày 3 lần. Trước mỗi lần cầu kinh, đều phải rửa chân sạch sẽ. Vậy để chân thối, là đắc trọng tội. Có quyền đánh sưng đít :D).

    Quân Việt ta, sau chừng vài chục người bị đánh đít và khóc ngất vì tiếc của (ấy là nghe đồn thế, chứ nhà cháu chửa được chứng kiến :D), cái võ đi giầy thối chưa từng được ai áp dụng.
    :D:D:D
     
  8. 13/9/19 lúc 10:41 #1088
    Hoang Giang91
    Hoang Giang91 Xe buýt
    Biển số:
    OF-96362
    Ngày cấp bằng:
    22/5/11
    Số km:
    735
    Động cơ OF:
    4,824 mã lực
    Mã lực:
    4,824
    Cụ Bao leo trước học C3 Kim Liên à, mình dân khu Kim Liên đây, sau cụ ở chỗ kho gạo ngã Tư sở thì cụ có biết An Phỉ cùng khu không
     
  9. 13/9/19 lúc 20:25 #1089
    Baoleo
    Baoleo Xe buýt
    Biển số:
    OF-320235
    Ngày cấp bằng:
    19/5/14
    Số km:
    789
    Động cơ OF:
    952 mã lực
    Mã lực:
    952
    Rất tiếc là không, bác ơi .
     
  10. 22/10/19 lúc 22:06 #1090
    Ta^.pLa'i
    Ta^.pLa'i Xe tải
    Biển số:
    OF-2165
    Ngày cấp bằng:
    28/10/06
    Số km:
    247
    Động cơ OF:
    53 mã lực
    Mã lực:
    53
    Cảm ơn cụ Baoleo vì nhiều thông tin bổ ích và thú vị. Nhà cháu mất mấy ngày bỏ đọc tin tức để vào đọc thớt của cụ.
    Ông già cháu trước cũng Hải quân, trước khi phục viên chuyển ngành về gần vợ con, khoảng năm 83-84 gì đó là CTV đoàn quân nhạc của BTLHQ. Ngày bé nghỉ hè cháu cũng hay được xuống đấy chơi. Mơ ước mãi một bộ quần áo lính thủy, mà thời đó khó khăn quá, bố mẹ hứa mãi mà giờ vẫn chửa đc
    Chúc cụ và gia đình mạnh giỏi.
     
  11. 19/11/19 lúc 14:08 #1091
    vangvongcom
    vangvongcom {Kinh doanh chuyên nghiệp} Xe hơi
    Biển số:
    OF-590874
    Ngày cấp bằng:
    18/9/18
    Số km:
    113
    Động cơ OF:
    3 mã lực
    Mã lực:
    3
    Chào cụ Baoleo những hồi ức rất đẹp , tự hào khi là một quân nhân
     
  12. 1/12/19 lúc 07:09 #1092
    Baoleo
    Baoleo Xe buýt
    Biển số:
    OF-320235
    Ngày cấp bằng:
    19/5/14
    Số km:
    789
    Động cơ OF:
    952 mã lực
    Mã lực:
    952
    KINH KHA ĐƠN ĐOẢN ĐAO - ĐẠI NÁO ĐẤT TẦN :D

    Thực ra, để giật ‘tít’ và câu ‘viu’, nhà cháu hoàn toàn có thể giật tít là:

    “Tầu 645 của Đoàn tầu không số - đánh nhau với tầu ngầm hạt nhân Mỹ- năm 1972”.

    Nhưng để cho vui vui, nhà cháu lựa cái tên bài, như đã chọn.

    Số là:

    Nhà cháu lấy bài của ‘Vũ khí và Lịch sử Việt Nam’, đăng lên trang của chính các cựu binh lữ 125-Đoàn tầu không số.

    Những mong thông tin này, sẽ cho chính các cựu binh của ‘lữ 125- Đoàn tầu không số’ biết được và nhớ lại một câu chuyện bi hùng. Và để các lớp lính đàn em thế hệ sau, biết được và rút ra các bài học kinh nghiệm, để có thể sống sót trong cuộc chiến với kẻ thù Trung Quốc sắp tới. Đặc biệt nhất,=> là sẽ được chính các cán bộ hiện nay của lữ 125, lữ 128 (đoàn Vạn Hoa)-nhất là cán bộ tham mưu-trinh sát của 2 lữ này, nắm bắt được, để vận dụng vào trong thực tiễn hôm nay.

    Ôi dồi, các bác cựu lữ 125 phản ứng thôi dồi. Đánh nhau với nhà cháu cũng kha khá.:D

    Nhưng rồi, do cùng là lính trong cùng một quân chủng, rồi qua các còm-men qua lại, đặc biệt có một loạt tên lửa phòng không của Trần Hoài Nam bắn làm ô phòng không che đầu cho pháo hạm nhà cháu, các bác cựu ở lữ 125 đã ghi nhận câu chuyện.:D

    Tích này, làm nhà cháu nhớ tới câu chuyện cũng tầm này năm ngoái, nhà cháu đưa câu chuyện: ‘Hai máy bay F4 của Mỹ đã đẩy cứu nhau, sau khi bị bắn trọng thương trên bầu trời nhà máy gang thép Thái Nguyên, thoát khỏi không vực Bắc Việt’ lên trang của các bác phi công.:))

    Ôi zời. Đánh nhau ác liệt bên đó. Cả một sư đoàn các bác phi công quây lại, thay nhau công kích pháo hạm nhà cháu.

    Nhưng, trải qua trên một ngàn trận đánh lớn nhỏ (tức là còm-men ấy), lại được sự chi viện vô tư và trong sáng của quân đội các nước anh em như Trần Hoài Nam, Nguyến Tuấn Trung, Phan Trường Sơn, Xuân Hòa Nguyễn và vân vân, cuối cùng, phe chính nghĩa đã thành công.:D

    Nào, năm nay, câu chuyện: “Tầu 645 của Đoàn tầu không số - đánh nhau với tầu ngầm hạt nhân Mỹ- năm 1972”. => ĐÂY

    ---- ---- ----

    Tháng 3-1972, nhằm tăng cường khả năng ngăn chặn tiếp tế bằng đường biển từ miền Bắc, HQ Mỹ quyết định sử dụng tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Sculpin (SSN-590) thuộc lớp Skipjack theo dõi tàu vận tải của HQNDVN từ khu vực xuất phát ở gần đảo Hải Nam vào đến miền Nam VN, sau đó tiêu diệt trong hải phận VN trước khi kịp bốc dỡ hàng.


    Theo lời kể của Đô đốc Charles R. Larson (lúc đó là Trung tá, thuyền phó USS Sculpin), ngày 10-4-1972 USS Sculpin chiếm lĩnh vị trí tuần tra ngoài khơi đảo Hải Nam. Ngày 12-4, tàu 645 thuộc Đoàn 125 do thuyền trưởng Lê Hà và chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu chỉ huy xuất phát lần thứ 3, chở theo 70 tấn đạn dược, 1 tấn thuốc nổ và nhiều hàng hóa khác. Sau khi so sánh dữ liệu ảnh chụp, đồng thời đối chiếu với hướng đi bất thường về phía bờ biển phía tây Philippines, USS Sculpin xác định 645 là tàu vận chuyển vũ khí và bắt đầu theo dõi. Điều này được xác nhận thêm sau khi tàu 645 chuyển hướng ngoặt về phía nam.


    USS Sculpin theo dõi 645 qua kính tiềm vọng và sonar thụ động nhờ vào âm thanh khá đặc trưng từ trục và cánh quạt chân vịt. Để bám đuôi tàu 645 di chuyển với tốc độ khoảng 20km/h, USS Sculpin duy trì tốc độ không quá 37km/h ở độ sâu 60m, cách đáy 9 đến 24m. Ban đầu mọi việc tiến triển thuận lợi, tuy nhiên sau đó tàu 645 chuyển hướng về phía đông, đi vào một khu vực có nhiều đá ngầm, rạn san hô và xác tàu đắm (có lẽ để tránh bị theo dõi). Điều này buộc USS Sculpin quyết định tính toán và chuyển hướng đi vòng để đón đầu 645. Trong thời gian đó máy bay trinh sát P-3 Orion của HQ Mỹ được yêu cầu bí mật tiếp tục giám sát từ trên cao để thay thế.


    USS Sculpin gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình theo dõi khi phải bám theo 645 qua những khu vực có nhiều dàn khoan dầu hoạt động, hoặc khu vực tuyến đường thủy nhiều tàu bè qua lại. Sau khi tiến sâu xuống phía nam, tàu 645 ngoặt sang phía tây rồi chuyển hướng tây bắc. Đối với phía Mỹ, đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy tàu 645 chuẩn bị cập bờ tiếp tế vũ khí. Lúc này MACV ra lệnh cho USS Sculpin tiến hành chụp ảnh làm bằng chứng, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt bằng ngư lôi. Để thực hiện nhiệm vụ này, USS Sculpin phải lặn sâu xuống 27m, chỉ cách đáy 6m rồi tăng tốc vượt lên trước đón đầu, kính tiềm vọng chỉ nhô lên khoảng 15cm trong 6s để chụp ảnh để tránh bị phát hiện.


    Cách bờ biển VN khoảng 100 hải lý, USS Sculpin mất dấu 645 trong khoảng 2 giờ khi tàu chuyển hướng sang tây bắc, tàu 645 đã tắt máy và đèn khiến cho sonar và kính tiềm vọng của USS Sculpin mất tác dụng, việc sử dụng radar sục sạo cũng không mang lại kết quả. Trước tình hình đó, dựa theo hành trình được tính toán, USS Sculpin quyết định tăng tốc vượt lên trước khoảng 30 hải lý, đón đầu 645 tại điểm dự đoán, đồng thời yêu cầu máy bay trinh sát P-3 Orion tìm kiếm quanh khu vực mất dấu. Máy bay trinh sát đã phát hiện được 645 nhờ đặc điểm sơn màu trắng, sau đó USS Sculpin cũng xác định lại được mục tiêu.


    Ban đầu MACV đề nghị cho phép USS Sculpin đánh chìm 645 bằng ngư lôi, tuy nhiên Đô đốc John Sidney McCain Jr. (bố của phi công John McCain, lúc này đang bị bắt làm tù binh ở miền Bắc), tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương không chấp nhận và yêu cầu giao lại cho HQ VNCH.


    Ngày 22-4 và 23-4-1972, tàu 645 vào đến điểm chuyển hướng, cách Phú Quốc khoảng 60 hải lý, với ý định chờ đến đêm sẽ cập bờ. 14h chiều 22-4-1972, tàu hộ tống khu trục (VNCH gọi là khu trục hạm) lớp Edsall số hiệu HQ-4 Trần Khánh Dư của HQ VNCH được lệnh báo động và rời cảng Sài Gòn.


    14h ngày 23 tháng 4,tàu 645 nhận được điện của Sở chỉ huy báo cho biết trong đêm sẽ có thuyền đón ở mũi Cà Mau, nhưng có điện báo bến động nên quay ra hải phận quốc tế. Tối 23-4, HQ-4 và 2 tàu chiến khác của VNCH phát hiện 645 trên vùng biển vịnh Thái Lan bằng radar và tiếp cận khi tàu cách bờ 25-30 hải lý với ý đồ bắt sống. Sáng 24-4, HQ-4 đã kèm chặt 645, xác định được đây là tàu vận tải của miền Bắc và quan sát được cả các vị trí đặt súng máy 12,7mm trên tàu. Sau nhiều nỗ lực gọi hàng và bắn uy hiếp không có kết quả, HQ-4 dùng pháo 76,2mm khai hỏa thẳng vào 645 làm tàu bị cháy, một số thủy thủ thương vong. Tàu 645 vừa cố gắng cơ động ra xa vừa bắn trả bằng 12,7mm, B-40, B-41. Tuy nhiên khoảng 11h, tàu bị trúng đạn vào lái, mất khả năng điều khiển. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu yêu cầu cho thủy thủ đoàn rời tàu trong khi mình nán lại để hủy tài liệu và đặt kíp nổ phá tàu.


    Theo phía VNCH, tàu 645 đã bị đạn pháo của HQ-4 bắn nổ tung, trong khi theo HQNDVN, chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu đã chủ động ở lại điểm hỏa khi tàu ở cách xa thủy thủ đoàn nhất để tránh thương vong cho đồng đội.


    Trong số thủy thủ đoàn 645 có 6 người hy sinh bao gồm cả Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu, 16 người (trong đó 6 bị thương) bị HQ VNCH bắt làm tù binh, bao gồm cả Thuyền trưởng Lê Hà. Năm 1973 thủy thủ đoàn được trao trả sau Hiệp định Paris. Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1978.


    Mặc dù có nhiều dấu hiệu, bao gồm cả nội dung liên lạc từ 645 do USS Sculpin thu được cho thấy dường như thủy thủ đoàn nghi ngờ có tàu ngầm bám theo mình nhưng các tài liệu của HQNDVN xuất bản về sau không nhắc đến điều này mà cho rằng 645 bị máy bay và tàu mặt nước của HQ VNCH phát hiện gần bờ biển VN, trong khi trên thực tế tàu đã bị tàu ngầm USS Sculpin theo dõi gần như liên tục trên hành trình khoảng 2500 hải lý (khoảng 4600km).


    Sự kiện tàu 645 kết thúc giai đoạn vận chuyển bí mật bằng tàu không số kéo dài 10 năm (4-1962 đến 4-1972) của Đoàn 125 với tổng cộng 168 chuyến và 6105 tấn vũ khí cho chiến trường. Cũng bắt đầu từ đây, Đoàn 125 chuyển hoàn toàn sang phương thức vận chuyển mới: tổ chức các đoàn đánh cá công khai, có đăng ký hợp pháp ở miền Nam, sử dụng tàu gỗ 2 đáy, vừa đánh cá, chở hàng thuê vừa chớp thời cơ vận chuyển vũ khí trên những chặng ngắn ở miền Nam hoặc ra thằng miền Bắc nhận vũ khí. Với phương thức mới này, HQNDVN đã thực hiện thành công 31 chuyến, đưa được 520 tấn vũ khí vào Trà Vinh và Cà Mau.
    --- ---- ----

    [​IMG]

    NOTE:

    Bài sau, nhà cháu sẽ đăng câu chuyện về số phận bi thảm của thuyền trưởng tầu 645.

    Chính trị viên thì được phong anh hùng. Còn thuyền trưởng thì bi thảm lắm.

    Các bác nhớ đón đọc nhé.
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/12/19
  13. 2/12/19 lúc 10:57 #1093
    Bigmoto
    Bigmoto Xe điện
    Biển số:
    OF-389465
    Ngày cấp bằng:
    29/10/15
    Số km:
    2,943
    Động cơ OF:
    1,085,407 mã lực
    Mã lực:
    1,085,407
    Em vào hóng tiếp \m/
     
  14. 2/12/19 lúc 19:58 #1094
    Baoleo
    Baoleo Xe buýt
    Biển số:
    OF-320235
    Ngày cấp bằng:
    19/5/14
    Số km:
    789
    Động cơ OF:
    952 mã lực
    Mã lực:
    952
  15. 5/12/19 lúc 16:22 #1095
    Baoleo
    Baoleo Xe buýt
    Biển số:
    OF-320235
    Ngày cấp bằng:
    19/5/14
    Số km:
    789
    Động cơ OF:
    952 mã lực
    Mã lực:
    952
    SỐ PHẬN CÁC CON TẦU PHÓNG LÔI ĐẦU TIÊN

    CỦA HẢI QUÂN VIỆT NAM

    Nhà cháu đã từng biên các bài, về số phận bi hùng của những người lính Hải quân, thuộc lữ đoàn tầu chiến đấu 172 và lữ đoàn tầu vận tải 125 (hay còn gọi là Đoàn tầu không số).

    Thế còn số phận các con tầu thuộc lữ đoàn ấy ra sao, nhà cháu tin chắc rằng, đa số các bác đều chưa biết.

    Vậy thế cho nên, hôm nay, nhà cháu biên bài về ‘Số phận các con tầu phóng lôi đầu tiên, của Hải quân Việt Nam’. Mời các bác ngự lãm.

    (Bài viết này, có tham khảo rất nhiều tư liệu của bác Hoàng Sinh Viên – nguyên là Thiếu úy thuyền phó tầu phóng lôi 313, người đã tham gia ‘Trận đánh cuối cùng’ của ‘Hải đoàn tầu phóng lôi’ với Hải quân Mỹ, ngày 27/08/1972.)

    Bài sẽ gồm 4 phần.

    -Phần một: Lịch sử hình thành ‘Hải đoàn tầu phóng lôi’

    -Phần hai: Cuộc chiến đấu cuối cùng của Hải quân quân Việt Nam với Hải quân Mỹ.

    -Phần ba: Số phận kỳ lạ của một thủy thủ.

    -Phần bốn: Sự hóa thân của ‘Hải đoàn tầu phóng lôi’ trong mỗi gia đình người dân Việt ngày nay.


    1/Phần một: Lịch sử hình thành ‘Hải đoàn tầu phóng lôi’:

    Năm 1961 hải đoàn phóng lôi 135 có quyết định thành lập (lúc đó gọi là Tiểu đoàn chứ chưa gọi là hải đoàn như bây giờ).

    Tiểu đoàn có 12 tầu phóng lôi kiểu 123K. K là Komsomolees ( Thanh niên cộng sản ), vỏ bằng đuya ra mỏng (một loại nhôm cứng), có bề dầy là 1- 2 ly, liên kết bằng đinh tán như máy bay .

    Chiều dài mỗi tầu là 12,6 m, rộng 3.6 m, chia làm 6 khoang. Lượng giãn nước mỗi con là trên 20 tấn. Mỗi tầu có 2 động cơ M50 x 1200 mã lực, tốc độ cao nhất lên đến trên 50 hải lí /giờ (gần 100 km /h).

    Thủy thủ đoàn điều khiển gồm 10 người. Khi chiến đấu có thể tăng cường thêm từ 3 đến 4 người, làm nhiệm vụ đốc chiến, chỉ huy chung, hoặc dự bị.

    Các tàu phóng lôi được chia ra làm 4 phân đội , mỗi phân đội 3 chiếc .

    Phân đội 1 gồm ba tầu 313, 316 , 319 .

    Phân đội 2 gồm ba tầu 323, 326, 329.

    Phân đội 3 gồm ba tầu 333, 336, 339.

    Phân đội 4 gồm ba tầu 343, 346, 349.

    Trong quá trình chiến đấu và hoạt động, một số tầu đã bị bắn chìm trong chiến đấu và một số tầu đã hư hỏng do lỗi kỹ thuật ...

    Cụ thể như ngày 1 tháng 7 năm 1966, toàn bộ ba tầu của phân đội 3 là 333, 336, 339, khi xông ra đánh tầu Mỹ trên hải phận Đồ Sơn, thì cả 3 tầu đều bị máy bay Mỹ đánh chìm, trước khi tiếp cận được với tầu HQ Mỹ. Câu chuyện này, nhà cháu đã biên, với tựa đề: “Số phận vinh quang và cay đắng, của biên đội tầu phóng lôi, đánh tầu Maddox”.

    Vị vậy, đến đầu năm 1972 chỉ còn lại 4 tầu : 313 , 316 , 319 và 349 là còn hoạt động chiến đấu được. Và đây cũng là toàn bộ lực lượng tầu tiến công của Hải quân Việt Nam lúc đó. Bởi khi ấy, tầu tên lửa của ta chưa về, còn tầu tuần tiễu 79 tấn hoặc tầu săn ngầm 200 tấn, thì không có cửa để đánh nhau với tầu chiến Mỹ. Và 4 tầu phóng lôi này, được coi là "bát gạo cuối thưng của nhà nghèo".

    Và nhiệm vụ ngăn chặn các tầu tuần dương , khu trục Mỹ được đặt lên vai 4 chiếc tầu phóng lôi cuối cùng .

    Bốn tầu này được chia làm hai biên đội.

    Biên đội 1 gồm hai tầu 313 và 316.

    Biên đội 2 gồm hai tầu 319 và 349.


    2/Phần hai: Cuộc chiến đấu cuối cùng của Hải quân Việt Nam với Hải quân Mỹ.

    Trong cuốn Lịch sử hải quân nhân dân VN có một đoạn viết về trận đánh này:

    “Đêm 27-8-1972, nhiều tốp tàu tuần dương, khu trục vào bắn phá thành phố cảng Hải Phòng. Ta sử dụng lực lượng tàu phóng lôi gồm hai chiếc 319 và 349 ra đánh địch, nhưng do chưa nắm thật chắc địch, xuất kích không đúng thời cơ, không giữ được yếu tố bất ngờ... nên trận chiến đấu không thành công, ta bị tổn thất hai tàu”.


    Còn đây là lời kể chi tiết của của bác Hoàng Sinh Viên – nguyên là Thiếu úy thuyền phó tầu phóng lôi 313, người đã tham gia ‘Trận đánh cuối cùng’ của Hải quân Việt Nam với Hải quân Mỹ, ngày 27/08/1972:

    “””Khoảng gần 8 giờ tối ngày 27/8/1972 có lệnh báo động chiến đấu. Sở chỉ huy thông báo 4 tâù tuần dương và khu trục đang tiến vào vùng biển Hải Phòng, cự ly 38 hải lý? Các lần trước trước khì địch cách 60 hải lý, SCH đã báo động rồi. Không hiểu hôm ấy địch vào gần thế trên mới báo?

    Biên đội 2 đang trực cấp 1 với tầu 319 do Trung úy Cao Hồng Toản làm thuyền trưởng, Đỗ Viết Thự thuyền phó, cùng trung úy Nguyễn Hồng Cư tiểu đoàn phó, Trung úy Hoàng Tụy trợ lý hàng hải cùng đi trên tầu.

    Tầu 349 do Trung úy Lê Văn Miên thuyền trưởng, Thiếu úy Nguyễn Văn Bá thuyền phó, Đại úy CTV Hải đội Nguyễn Văn Viễn, thiếu úy Trợ lý cơ điện Nguyễn Văn Lộc đi cùng.

    Tất cả 2 tầu là 24 cán bộ chiến sĩ đã xuất kích theo lệnh SỞ CHỈ HUY tiền phương trung đoàn 172, đặt tại trạm Radar Cát Bà, do ông Lê Duy Khoái trung đoàn phó chỉ huy ...

    Sau khi biên đội 2 xuất kích khoảng nửa giờ, thì biên đội 1 có tầu 313 do trung úy Lê Văn Khách làm thuyền trưởng, thuyền phó là Hoàng Sinh Viên và tầu 316 do thiếu úy Lê Đức Cẩn làm thuyền trưởng, thuyền phó là Đồng Xuân Tứ => cũng nhận được lệnh xuất phát.

    Hai tầu biên đội 1 xuất phát theo lệnh. Khi đi ngang đảo đèn Long Châu thì biên đội 1 được lệnh dừng lại chờ lệnh. Lúc này ngoài biển có máy bay thả pháo sáng và đạn pháo tầu Mỹ bắn vào đất liền. Đèn biển Long Châu vụt tắt. Khoảng 15 phút sau, biên đội 1 lại có lệnh xuất phát, đi tới vị trí cách Đông Nam Long Châu 15 hải lý. Trên đường đi thuyền phó là Hoàng Sinh Viên đã dịch bức điện của Sở chỉ huy báo:

    -“Hai tàu 319 và 349 đã mất liên lạc. Lệnh 313 , 316 chuẩn bị đánh tiếp, tìm kiếm 2 tầu 319 và 349, báo cáo SCH”.

    Theo tính thần bức điện, biên đội 1 tiến về phía Đông Nam. Khi xác định đã đến vị trí chỉ định nhưng không phát hiện thấy gì, thuyền phó là Hoàng Sinh Viên đã báo cáo thuyền trưởng và điện về SCH :

    -“Xin phép đi xa hơn 5 hải lý nữa”.

    Chưa đợi SCH đồng ý hay không , biên đội 1 cứ đi. Khi đã đi quá cự ly dự định vẫn không thấy gì, lúc này trời đã mờ sáng. Và SCH báo : Trên trời đang có nhiều máy bay địch và lệnh cho 2 tầu : Quay về ngay !

    Không thể chần chừ được nữa, biên đội 1 đành phải quay về với tốc cao nhất. Trên đường về, khi nhìn về phía lái tầu , thuyền phó Hoàng Sinh Viên bỗng thấy 1 ánh đèn vừa loé lên trên mặt biển. Lập tức thuyền trưởng 313 lệnh cho tầu 316 cảnh giới, để tầu 313 thận trọng tiếp cận nơi có ánh đèn. Vào gần tầu 313 đã nhìn rõ 6 người đang lóp ngóp bơi.

    Tầu 313 nhanh chóng chỉ huy công tác cứu hộ và lần lượt đưa cả 6 người lên boong. Đó là: Lê Văn Miên thuyền trưởng 349, Hoàng Văn ( Đức ) Lợi máy 1, Vũ Tài Trò máy 2 tầu 349, Nguyễn Việt Cường máy 1, Trần Văn Lương ngư lôi, Nguyễn Văn Phê pháo thủ tầu 319. Tất cả đều bị thương.

    Sau khi đã tỉnh táo thuyền trưởng Miên và anh em đã kể lại diễn biến trận đánh như sau :

    - Khi tầu ta tiếp cận đến cự ly mở Radar, chuẩn bị vào hướng chiến đấu thì tầu 319 bị 1 quả tên lửa " Tầu đối Tầu " của tầu địch bắn trúng vào mạn trái. Sức nổ phá vỡ từ khoang máy, qua đài chỉ huy đến khoang phụ nơi lắp máy phát Radar. Bệ phóng và ngư lôi bên trái đều bay xuống biển.Tầu nghiêng lớn sang phải nên không bị chìm. Thuyền phó, máy trưởng, tín hiệu viên, tiểu đòan phó Cư hi sinh ngay, thuyền trưởng Cao Hồng Toản bị cụt mât cả 2 chân nhưng vẫn sống, một số khác hy sinh và bị thương ...

    Thâý tầu 319 mất cơ động, thuyền trưởng 349 tăng tốc độ chiếm lĩnh trận địa phóng, khi còn cách tầu địch khoảng hơn 1 cây số, thì bị địch bắn pháo dữ dội. Tầu 439 đã bị trúng nhiều loạt đạn và bị đứt dây cáp máy lái, nên mất điều khiển và tầu địch đã chạy thoát ...

    Thuyền trưởng Miên đã dùng cần tốc độ điều khiển tầu quay lại cập mạn và cấp cứu tầu 319. Khi đang tiến hành công việc trợ cứu thì tầu 319 và 349 cùng chìm. Tất cả những người còn sống đều bị rơi xuống biển. Anh em đã dùng phao bè và phao cá nhân đặt thuyền trưởng Toản lên, và bơi đẩy bè quay về hướng bờ, một số đồng chí đã bơi mà không có phao cá nhân ...

    Sau một thời gian được đồng đội dìu kéo, cảm thâý mình gây cản trở cho anh em, thuyền trưởng Toản đã nói :

    -Các đồng chí cắt phao thả tôi ra, hãy bơi về báo cáo với Đ.....ảng là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.

    Anh em không thể nghe theo. Chỉ đến khi biết anh Toản đã thật sự hi sinh, nên mới đành vĩnh biệt và thả anh vào lòng biển.

    Sau khi rời tầu, những người còn sống đã chia thành các tốp nhỏ và tầu 313 chỉ cứu vớt được 1 nhóm thôi. Còn 18 người khác mất tích và coi như đã hy sinh.

    Còn sau khi trở về, thì tầu 316 đã cố quá nên hỏng động cơ, không hoạt động được nữa. Chỉ còn mỗi tầu 313. Sáng hôm sau dù trời đang bão, SCH vẫn lệnh cho tầu 313 đi ra Long Châu , Cồn Răng Lược , Thượng Hạ Mai ...để tìm kiếm người và vật dụng của trận đánh. Ban đêm đưa các tổ đặc công ra đảo để mò lặn tìm kiếm, nhưng tất cả đều không thu được dấu vết nào. Có lẽ hôm sau cơn bão lớn đã đưa tất cả thì thể các anh về nơi vô định ...”””””



    3/ Phần ba: Số phận kỳ lạ của một thủy thủ:

    Một ngày cuối tháng 7-2007, Bộ tư lệnh Hải quân nhận được bức điện khẩn từ vùng A Hải quân với nội dung: trong lúc lặn tìm phế liệu trên vùng biển tây nam đèn biển đảo Long Châu, cách đảo Cát Bà chừng 30 hải lý, ngư dân hai tàu Quảng Ngãi số hiệu QNG 96383 và tàu Đại Thắng 01 đã phát hiện, trong một xác tàu đắm, một chứng minh thư quân nhân số hiệu 200057BD mang tên Vũ Tài Trò, và một số vật dụng khác, vài đoạn xương, nghi là hài cốt của chiến sĩ hải quân.

    Thông tin ban đầu ấy, cùng tấm chứng minh thư quân nhân mang tên Vũ Tài Trò như một sợi chỉ mỏng manh, để Bộ tư lệnh Hải quân chỉ thị các phòng ban liên quan tìm kiếm dấu tích chiếc tàu bị đắm, cùng hài cốt liệt sĩ trong những chiếc tàu kia. Khu vực tàu chìm được khoanh vùng tọa độ. Những trang hồ sơ quân nhân ố vàng từ vài chục năm trước được lật tìm. Và sau bao nhiêu nỗ lực tìm kiếm, cái tên Vũ Tài Trò được các cán bộ Cục Chính trị hải quân tìm thấy trong danh sách các chiến sĩ tham gia một trận đánh tàu khu trục Mỹ từ gần 40 năm trước.

    “Vũ Tài Trò sinh 20-2-1950, quê quán Phong Hải, Yên Hưng, Quảng Ninh, nhập ngũ tháng 8-1971, là chiến sĩ kỹ thuật, ngành cơ điện Trường Sĩ quan hải quân...”.

    Tuy nhiên theo hồ sơ quân nhân, anh Vũ Tài Trò đã phục vụ trong quân ngũ cho đến tháng 2-1988.

    Thế là thế nào?

    Thì ra, như các bác đã đọc ở phần 2, thì thủy thủ Vũ Tài Trò là một trong 6 thuyền viên, đã được tầu 313 cứu, như trên đã kể.

    Như vậy, hài cốt trên không phải của chiến sĩ Vũ Tài Trò, mà có thể là đồng đội của anh trên một chiếc tàu bị chìm trong ‘Trận chiến cuối cùng của Hải quân Việt Nam với Hải quân Mỹ’, ngày 27 tháng 8 năm 1972.

    Và sau gần 40 năm, tấm chứng minh thư quân nhân đã được về đoàn tụ với chủ nhân đích thực. Tuy rằng, khi tìm thấy tấm chứng minh thư quân nhân, thì anh Trò đã mất 2 năm trước đó (năm 2005) do mắc bệnh hiểm nghèo. Nhưng gia đình anh Trò, nhận được thêm một kỷ vật của chồng, cha, ông mình.

    Các bác có thể thấy tấm chứng minh thư quân nhân, sau khi nằm dưới biển sâu gần 40 năm, nay đã trở về với chủ cũ, trong phần ảnh minh họa.



    4/ Phần bốn: Sự hóa thân của ‘Hải đoàn tầu phóng lôi’ trong mỗi gia đình người dân Việt ngày nay:

    Sau 30/4/1975, hai con tàu phóng lôi “THỌ” nhất, là 313 và 316 vẫn còn có mặt tại bến cầu cảng 3, xưởng X46 Hải Phòng . ..

    Tuy nhiên, các con tầu oanh liệt một thời, nhưng sức đã yếu, nên ‘trên’ cho lệnh:

    -“Loại biên”.

    Oái chà chà, vào thời điểm năm 1975-1976, 2 con tầu phóng lôi trong mắt những người “có vị trí cao nhưng tầm nhìn thấp” => thì đó chỉ là 40 tấn nhôm tốt cực phẩm.

    Đáng lẽ ra nó phải được bảo tồn để làm bảo tàng, thì ‘các đấng bề trên ấy’, đã cho đem nó về xưởng X48 để “nấu cao”, phanh thây - xẻ thịt - rồi cho tham gia vào "trận đánh cuối cùng" của đời mình, trong các lò nấu kim loại.

    Và các con tầu phóng lôi oai hùng, đã hoá thân thành các nồi nấu rượu, nồi nấu cám lợn và vân vân.

    Những con tầu đẹp đẽ , oai hùng một thời đã bị tuyệt diệt như loài khủng long ... Cho đến bây giờ không còn 1 cái gì, gọi là hiện vật của những con tàu phóng lôi huyền thoại ấy nữa

    Các con tầu phóng lôi oai dũng, nay chỉ còn hình hài như trong tấm hình cuối mà thôi.

    Có bác nào trong thế giới FB, có hiện vật gì bằng nhôm, hình hài của các tầu phóng lôi kiêu dũng một thời không!!!!!


    ẢNH THAM KHẢO:

    -Hình 1: Tầu phóng lôi của Hải quân Việt Nam, oai dũng đánh đuổi tầu Maddox, ngày 2 tháng 8, năm 1964.



    [​IMG]


    -Hình 2: Nhằm thẳng quân thù….Phóng.



    [​IMG]


    -Hình 3: Chứng minh thư quân nhân, đã nằm dưới đáy biển 40 năm



    [​IMG]


    -Hình 4: Hình hài còn sót lại, của Hải đoàn tầu phóng lôi đầu tiên



    [​IMG]
     

Thông tin thớt

Hiện có 0 cụ đang nghía thớt này. (0 lái chính và 0 lái phụ)